Khi tôi còn là một cậu bé, tôi thường lui tới một nông trại vào mùa hè, và tôi thường để thấy ý lũ gà mổ nhau như thế nào. Lúc đó tôi tôi không hiểu ý nghĩa của điều đó. Rồi, có một bài báo trên tờ “Scientific American” mang tựa đề “The Peck Order” (tạm dịch: Trật tự mổ). Một số khoa học gia, còn hiếu kỳ hơn cả tôi nữa, đã đánh dấu mỗi con gà trong sân bằng một ký hiệu khác nhau để họ có thể phân biệt chúng, và họ nhận thấy có một kiểu thứ bậc trên dưới, một kiểu quyền bính, một “giới thượng lưu” trong bầy gà. Khi cả đàn xếp hàng ăn, con gà số 25, vốn sống ở khu ổ chuột, sẽ luôn là con được ăn sau cùng, bằng không thì nó chỉ có thể đứng chầu chực ở rìa sân. Rồi đám gà sẽ cố chen chân cho vào được “nhóm thượng lưu”. Con gà số 22 sẽ mổ con số 21, và nếu con số 21 bỏ chạy, vậy là con gà số 22 mặc nhiên trở thành chính con số 21. Trong giới khoa học, hành vi này được gọi là trật tự mổ của bầy gà.
Chúng ta biết là hành vi này cũng tồn tại giữa loài người. Trong thế giới kinh doanh, chúng ta “mổ” vào người khác hòng vượt lên trên họ, dùng người khác làm bàn đạp tiến thân. Loài khỉ cũng làm điều tương tự. Người huấn luyện khỉ sẽ luôn quan sát một đàn khỉ để khám phá ra xem con nào là đầu đàn, rồi họ chỉ cần huấn luyện con đầu đó và thế là cả đàn sẽ theo sau. Tôi cho rằng cơn khát quyền bính này tồn tại cả trong thế giới động vật lẫn loài người. Khi Chúa chúng ta đến trong thế gian, Người đã hủy bỏ cái trật tự mổ này, và Người trình bày một nguyên lý hoàn toàn mới: người trước hết sẽ nên sau hết và kẻ lớn nhất phải phục vụ tất cả mọi người (Mc 9, 35).
Chúng ta sẽ gặp thấy hành vi này tại hai biến cố trong đời Chúa Giêsu. Một là vào đêm Tiệc Ly. Các Tông đồ đang quây quần bên cạnh Chúa. Người bèn cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt ngang lưng, và bắt đầu rửa chân cho các Tông đồ (Ga 13, 4-5). Khi Người đã làm xong, Người bảo: “Anh em gọi Thầy là Thầy và là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thật Thầy là Thầy, là Chúa. Nhưng nếu Thầy là Thầy, là Chúa, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng hãy rửa chân cho nhau (Ga 13, 13-14). Và ở một chỗ khác, giữa đám đông dân ngoại, Người nói rằng: “người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân” (Mt 20, 25). Người bảo các Tông đồ hãy trở nên kẻ bé mọn nhất. Đây chính là mở đầu cho một điều gì đó mới mẻ trong thứ bậc quyền bính; cụ thể là, quyền bính là để phục vụ, nhất là cho những ai bé mọn và rốt cùng nhất.
Rồi Chúa Kitô khai mở một ý tưởng khác sau khi Người trỗi dậy từ cõi chết. Bối cảnh là trên bờ biển hồ Galilê, Chúa Nhật sau biến cố Phục Sinh. Có bảy người đang trên thuyền đánh cá, và Chúa chúng ta hiện ra trên bờ biển (Ga 21, 1-14). Gioan là người đầu tiên nhận ra Chúa, và ông bảo: “chính Chúa đó!” Vẫn là Phêrô hăng hái nhảy ngay xuống biển, bơi một trăm thước vào bờ, và nếu bạn đọc kỹ, bạn sẽ thấy ở vài câu sau đó, Phêrô lại trở lên thuyền. Tôi tự hỏi tại sao ngài làm thế. Ngài giúp các Tông đồ khác kéo cá lên. Tôi nghĩ lý do là vì khi ngài lên bờ, ngài thấy Chúa đang đứng đó bên cạnh đống lửa, hình ảnh đó nhắc cho ngài nhớ về một đống lửa khác, cách đó mười hôm, trong sân dinh thự của thượng tế Caipha (Ga 18, 15-18). Phêrô nhớ lại rằng ngài đã chối Chúa, và vì thế ngài tránh né Người.
Khi ngài đã hoán cải, Chúa chúng ta trao lại quyền bính cai trị Giáo Hội cho Phêrô. Chúa đã tự gọi mình là Mục Tử Tốt Lành. Giờ đây Người cũng biến Phêrô trở nên một vị mục tử. Như Thiên Chúa nhiều lần trong Cựu Ước được gọi là Đá Tảng (2 Sm 22, 2), vậy nên Chúa Giêsu cũng đặt Phêrô làm Viên Đá nhỏ của Giáo Hội Người. Nhưng đâu là điều kiện để Chúa chuyển trao quyền bính cho Phêrô? Chúa đã nói gì trước khi Người trao ban quyền bính? “Hãy chăn dắt chiên con của Thầy, hãy chăm sóc chiên mẹ của Thầy” (Ga 21, 15-16). Ba lần Chúa hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” “Anh có yêu mến Thầy hơn những người này không?” (Ga 21, 15-17). Chỉ sau những câu hỏi ấy Phêrô mới đáp lời: “Thưa Thầy, có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21, 15). Thật tình cờ, động từ “yêu” trong tiếng Hy Lạp mà thánh Phêrô dùng là một từ rất yếu. “Con yêu mến Thầy” của thánh nhân thực chất là một tình yêu rất con người, rất tự nhiên. Phêrô không dám khẳng quyết một tình yêu lớn lao hơn khả năng yêu thương của chính mình. Thế nhưng điều quan trọng cần lưu ý ở đây là quyền bính không phải chỉ để phục vụ mà thôi, nhưng một người thực thi quyền bính ấy là bởi vì người đó biết yêu thương. Đây chính là nguyên lý mới mẻ về quyền bính đã được Chúa Giêsu đem vào thế giới: phục vụ và yêu thương.
Chúa chúng ta đã thực thi quyền bính của Người như thế nào, và Người đã định liệu ra sao để quyền bính ấy được tiếp diễn qua các thế hệ? Người thực thi quyền bính của Người qua nhân tính của mình. Bởi vì bạn tin vào thần tính Chúa Kitô, nếu bạn được nghe tiếng Người giảng dạy, bạn hẳn sẽ nhận thấy đôi môi của một phàm nhân đang mấp máy, nhưng bạn sẽ tuyên bố rằng: “Chính Con Thiên Chúa đang nói đó”. Vì thế Chúa chúng ta đã giảng dạy, đã quản trị, đã thánh hóa ngang qua nhân tính này, ngang qua chính thân xác của Người. Thân xác ấy là khí cụ cho quyền bính của Người, cũng giống như nhờ có cây bút chì mà tôi mới viết lách được. Chúa Giêsu đã thực thi quyền năng thần thánh của Người và thông truyền chân lý của Người ngang qua nhân tính mà Người đã đón nhận từ Đức Maria.
Chúng ta hãy tiến thêm một bước cao hơn. Giờ đây Người định liệu chuyển trao quyền năng này, chân lý này, quyền bính này, và Người chuyển trao cho các Tông đồ của Người, và các Tông đồ trở nên Thân Thể mới của Người, chứ không phải một thân xác thể lý. Đôi lúc chúng ta gọi thân thể ấy là Nhiệm Thể. Chúa Giêsu muốn thông truyền chân lý, quyền bính và quyền năng của Người cho các Tông đồ, những vị Chúa đã chọn, có Phêrô làm thủ lãnh. Chúa phán: “Thầy là Sự Thật” (Ga 14, 6); những bậc tôn sư khác thì chỉ nói: “Trong bộ giáo lý, trong bộ luật này có chứa đựng chân lý”. Còn Chúa chúng ta đã tuyên bố: “Thầy là Chân Lý”. Và giờ đây Người phán với các Tông đồ là Thân Thể, là Giáo Hội của Người rằng: “Thầy ban chân lý cho anh em. Ai nghe anh em là nghe Thầy, ai ghét bỏ anh em là ghét bỏ Thầy” (x. Lc 10, 16). Không nghi ngờ gì nữa, Người đã chuyển trao chân lý và quyền năng của Người. Chúa phán: “Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được trao cho Thầy” (Mt 28, 18). Người sai các Tông đồ ra đi rao giảng cho muôn nước, làm phép tha tội và dạy người ta làm tất cả những gì Người đã phán truyền. Như đã có lần Người chuyển trao quyền năng Người ngang qua bản tính nhân loại cá nhân của mình, thì giờ đây Người cũng đang làm như vậy ngang qua bản tính nhân loại tập thể, tức là Giáo Hội.
Giáo Hội lúc ban đầu trông như thế nào? Giáo Hội gồm có mười hai Tông đồ với Phêrô là thủ lãnh. Chúa chúng ta không chọn Phêrô rồi mới chọn mười một vị kia. Người chọn mười hai người và đặt Phêrô làm đầu. Suy cho cùng, mọi đoàn thể nào cũng phải có một vị lãnh đạo. Chúa Giêsu đã đặt Phêrô làm Đá Tảng của Giáo Hội, vậy nên toàn thể các Tông đồ được gọi chung là Tông đồ đoàn, và Phêrô, vị thủ lãnh, là Đấng đại diện Chúa Kitô đầu tiên, vị Giáo hoàng đầu tiên. Chúa chúng ta đã nói rằng chân lý và quyền năng mà Người thông chia cho các ông sẽ tiếp tục được trường tồn mãi cho tới tận thế. Các giám mục của Giáo Hội là các đấng kế vị các Tông đồ. Các vị Giáo tông, các Đấng đại diện Chúa Kitô, hay còn gọi là các Giáo hoàng, là các đấng kế vị thánh Phêrô, vì vậy Giáo Hội được quản trị bởi Tông đồ đoàn, Giám mục đoàn, trong cái được gọi là tính hiệp đoàn của các giám mục, với thánh Phêrô là thủ lãnh của các đấng. Cũng như các tông đồ năm xưa không thể hoạt động nếu không có Phêrô là thủ lãnh, thì các đấng ngày nay cũng không thể nếu không có Phêrô làm đầu.
Vậy Giám mục là gì? Thật may là các bạn không biết rõ về tôi và do đó không vì tôi mà xét đoán các giám mục của Giáo Hội. Nhưng tôi sẽ cho các bạn biết một giám mục là gì. Một trong những chức năng của ngài là một điều gì đó giống như cái danh sách gây tò mò, chứa đầy các tên trong bản gia phả mà chúng ta tìm đọc thấy ở Tin Mừng Matthêu (Mt 1, 1-16). Ví dụ, Aminađáp sinh Nátson, Nátson sinh Xanmôn, và cứ thế. Bạn có nhớ danh sách chuỗi các cuộc sinh hạ trong Tin Mừng chứ? Mà cái danh sách các thẩm phán, vua chúa, tiên tri này là sao vậy? Những con người trong Cựu Ước là bằng chứng cho thấy Chúa chúng ta là Đấng được chờ mong suốt nhiều thế kỷ. Những người được nhắc tên ấy chẳng phải là nhân vật quan trọng. Không phải ai trong số họ cũng là người tốt; một số còn rất bất toàn, nhưng tất cả bọn họ lại đều thuộc về một cây gia phả. Nếu bạn đã từng thử thách Chúa Giêsu mà rằng: “Chúng tôi biết Đấng phải đến thì thuộc về chi tộc Giuđa, và còn là con cháu của tổ phụ Abraham”, thì hẳn là Người sẽ chỉ vào cây gia phả của mình và nói: “Đây này. Bằng chứng đây. Tôi có thể cho anh thấy gốc tích của tôi.” Đây chính là mục đích của việc ghi chép lại những cái tên không mấy quan trọng ấy.
Vậy các giám mục là ai và các ngài thực hiện chức năng gì? Họ là chứng nhân cho những gì họ giảng dạy trong thế kỷ này, là chân lý bắt nguồn từ chính Chúa chúng ta. Giả sử bạn hỏi tôi rằng: “Bởi quyền bính nào mà cha trở thành giám mục?” Tôi được tấn phong giám mục bởi Đức Hồng y Piazza tại Rôma, và tôi biết đấng nào đã tấn phong cho ngài, và tôi cũng biết đấng đã tấn phong cho Đức Hồng y Piazza thì được tấn phong bởi Đức Giáo hoàng Piô X, và việc truy ngược từ Đức Piô X trở về tới thánh Phêrô là điều rất dễ. Các giám mục ngày nay và trong thời đại này đã, một cách nào đó, thực thi cùng một chức năng như bảng gia pha dài kia đã làm trong việc chứng thực rằng Chúa chúng ta thuộc về dòng dõi vương giả của vua Đavít.
Giả sử chúng ta đặt một dây cáp micro cách ổ điện tầm 15 xentimét. Bạn có nghĩ bạn sẽ nghe được được tiếng của tôi hay không? Cũng giả sử chúng ta đặt dây cáp cách ổ điện 38 mét, hoặc chỉ cách 2 xentimét thôi, nhưng không cắm điện – không có dòng điện chạy qua! Tại sao vậy? Vì quá xa nguồn điện. Nếu bạn muốn biết chân lý và thẩm quyền của Giáo Hội bắt nguồn từ đâu, bạn cần phải dõi theo dòng truyền thừa của các giám mục. Bạn cần truy ngược về nguồn, về ngai quyền lực và chân lý. Phải truy ngược về đến tận Chúa Kitô.
Các giám mục được gọi là các mục tử. Các giám mục chúng tôi được xem là những người phục vụ. Còn các bạn, những người giáo dân, thì không phải là đầy tớ của chúng tôi. Cảnh sát cũng không phải là đầy tớ của chúng tôi. Nhưng chúng tôi là đầy tớ của họ! Chúng tôi không chỉ là những nhà quản trị. Chúng tôi là mục tử. Chúng tôi có thể trở nên các nhà quản trị trong một đất nước giàu có, đầy uy thế, nhưng đó không phải là điều Chúa Kitô muốn nơi chúng tôi. Chúng tôi phải là người mục tử. Hơn nữa, mỗi người chúng tôi không chỉ là người lãnh đạo của một giáo phận, nhưng trước hết chúng tôi được thánh hiến cho thế giới, rồi mới đến cho giáo phận. Mỗi người chúng tôi có tương quan với nhau; nhưng cũng giống như tay, chân, tĩnh mạch, mạch máu trong cơ thể sẽ nên vô dụng nếu không có đầu, chúng tôi cũng sẽ chẳng có quyền bính gì nếu không nhờ vào sự hiệp thông với vị thủ lãnh, đấng là Đại diện Chúa Kitô trên trần gian, Đấng kế vị thánh Phêrô. Không có sự liên kết này, quyền bính của chúng tôi chỉ là hư ảo.
Các bạn đã nghe nói nhiều về ơn bất khả ngộ của Đấng kế vị thánh Phêrô, tức là Đức Giáo hoàng. Thành thật mà nói, nếu có điều gì mà dân chúng không hiểu, thì đó chính là ý niệm về ơn bất khả ngộ này. “Bất khả ngộ” nghĩa là sao? Bất khả ngộ không phải là một quà tặng mang tính cá nhân. Nếu bạn có dịp đi thăm Đức Thánh Cha và bạn nói với Ngài rằng “Con rất có hứng thú với thị trường chứng khoán. Liệu Đức Thánh Cha có thể cho con biết rằng con có nên đầu tư vào General Motors hay không?” Giả sử như Ngài trả lời: “Nên con ạ, Cha nghĩ đầu tư vào General Motors là thích đáng lắm”. Xin thưa, nhận định đó không hề đúng đắn cách tuyệt đối như những gì tôi đang nói với bạn đâu. Ngài chỉ được bất khả ngộ khi ngài thực thi chức năng là Thủ lãnh của Giáo Hội mà thôi, và tôi sau này tôi sẽ đề cập thêm một vài điều kiện cho ơn bất khả ngộ này.
Ngoài ra, bất khả ngộ không phải là một quà tặng tích cực; nó tiêu cực là đằng khác. Từ “bất khả ngộ” (Infallibility) có gốc từ hai từ tiếng Latinh là “in” và “fallor”. Chúa Giêsu đã nói với thánh Phêrô rằng cửa hỏa ngục, cụ thể là, các phán quyết về sai lầm và tội lỗi, sẽ không chạm đến thánh nhân hay Giáo Hội của Người (Mt 16, 18). Ơn này không phải là một đặc ân tích cực đâu. Thánh Phêrô và các đấng kế vị ngài không thể đưa ra một nhận định bất khả ngộ về văn chương hay khoa học. Nhiều người cứ nghĩ ơn bất khả ngộ giống như một cái vòi nước. Đức Thánh Cha cứ việc đi tới cái vòi nước chứa đựng ơn bất khả ngộ này, mở vòi, và thế là chân lý cứ vậy mà trào ra. Không đâu, ơn bất khả ngộ không như thế. Ơn bất khả ngộ giống như một con đê ngăn chặn dòng sông chân lý khỏi chảy tràn bờ đê và phá hủy toàn bộ ngôi làng. Điểm khác biệt giữa một dòng sông và một vùng đầm lầy là ở chỗ vùng đầm lầy không có bờ, nhưng dòng sông thì có. Để được bất khả ngộ, Đức Thánh Cha phải chu toàn ba điều kiện sau: Ngài phải tuyên tín trong tư cách là vị Thủ lãnh Giáo Hội, trong đó có tất cả các giám mục của Giáo Hội; Ngài phải tuyên tín về những vấn đề liên quan đến đức tin và luân lý; và Ngài phải hướng đến toàn thể Giáo Hội, chứ không chỉ là một thành viên nào đó, hay một quốc gia nào đó mà thôi. Có nhiều vị Giáo hoàng đã đi hết cuộc đời mình mà không hề đưa ra một lời công bố có tính bất khả ngộ nào cả.
Đây chính là quyền bính của Giáo Hội, và nhiều người tự hỏi: “Tại sao chúng ta lại vâng phục Giáo Hội?” Suy cho cùng, thật khó để vâng phục những vị cũng là con người như chúng ta. Thế nhưng, họ cũng chỉ là đôi bao tay, còn bên trong bao tay đó mới chính là bàn tay Chúa Kitô. Chúng ta vâng phục các ngài bởi vì các ngài là Đấng đại diện Chúa Kitô. Vâng phục Chúa Kitô đem lại cho chúng ta nguồn ủi an đầy tràn – đó là hiểu biết được chân lý thần linh về những việc có liên hệ tới linh hồn. Đối với thế gian, quyền bính là “họ”, một cái gì đó rất vô danh. Mọi người ai cũng có phong cách của riêng mình. Người đời hay nói “Ô, ai ai cũng làm điều đó mà”. Không phải thế. Cái gì đúng thì vẫn là đúng, dẫu cho không được ai công nhận. Cái gì sai thì vẫn là sai, dù cho người người đều vi phạm. Hãy tin tôi, trong một thế giới đầy rẫy những lầm lạc này, chúng ta thật sự cần đến một Giáo Hội và một thẩm quyền luôn luôn đúng, ngay cả khi toàn thể thế gian này đã ra sai lầm.

0 Nhận xét