50. Thế Gian, Linh Hồn Và Những Sự Khác

Chúng ta đã đi đến chặng cuối của cuộc hành trình tìm hiểu về đạo Công giáo. Tôi tin chắc các bạn đã nhận thấy nhiều sự bất toàn trong suốt các chủ đề chúng ta đã học qua. Tôi vẫn chưa hài lòng với công trình này đâu, nhưng tôi mong là tôi có thể xem công trình này như một mẩu cácbon vậy. Có lẽ, nếu như ánh sáng và ngọn lửa bác ái nơi các bạn bừng cháy lên qua cácbon, nó có thể được trở thành một viên kim cương đấy. Tóm lại, tất cả những gì là thiếu sót bất toàn là do lỗi của tôi; còn những gì tốt lành là bởi ơn Chúa.

Nếu các bạn đã nắm bắt được ý chính, có lẽ tôi đã thành công dẫn đường các bạn đi từng bước, như Chúa Giêsu dẫn dắt người phụ nữ bên bờ giếng vậy. Chúa gặp người phụ nữ ấy vào ban trưa, và bà đã phải tiến thêm nhiều bước để rốt cuộc có thể nhận biết Người. Lúc khởi đầu, bà có vẻ thiếu lịch sự khi nói với Chúa rằng: “Ông là một người Do Thái, mà lại nói chuyện với người Samari như tôi sao?” (Ga 4, 9). Người Do Thái và người Samari không nói chuyện với nhau. Trong mắt bà ấy lúc ban đầu, Chúa chúng ta chỉ là vậy, chỉ là một thành viên của một quốc gia không có liên hệ gì với dân Samari của bà ta cả. Thế rồi, khi nói chuyện với Người thêm ít lâu nữa, bà nhận ra Người là một “quý ông”, nên bà mới gọi Người là “Thưa Ngài” (Ga 4, 11). Một ít phút sau, Người bắt đầu chạm tay vào linh hồn bà và khơi lên trong đó một cảm giác bất an, cụ thể là Người cho bà ấy biết bà đã có năm đời chồng và người đàn ông đang cùng chung sống với bà hiện tại không phải chồng bà. Thế nên bà mới bảo Người thật là một vị ngôn sứ (Ga 4, 19). Lại thêm một bước tiến mới để hiểu rõ Người hơn. Bà đi xa hơn một chút và nói rằng: “Tôi biết Đấng Mêssiah sẽ đến” (Ga 4, 25). Bạn hãy thử tưởng tượng bà đã phấn khích ra sao khi Chúa phán: “Đấng Mêssiah, Đấng Kitô ấy chính là Ta, người đang nói chuyện với bà đây” (Ga 4, 26). Bà phấn khích tới độ bà để lại vò nước bên bờ giếng và chạy về làng. Một ít lâu sau, bà quay trở về với nhiều dân làng khác, và sau cùng họ đi đến chỗ tuyên xưng Người là Đấng cứu chuộc thế gian.

Hẳn là tôi đã dẫn đưa các bạn đi đến chỗ nhận biết Chúa chúng ta. Trước hết, Người là một người Do Thái; rồi còn là một con người lịch thiệp, cao cả; sau nữa là một vị Ngôn sứ; rồi đến Đấng Kitô, Đấng Mêssiah; và sau cùng là Đấng cứu độ thế gian. Phải, Người thật sự là Đấng cứu độ thế gian. Chúng ta chẳng bao giờ nhận biết Người cho tới khi chúng ta biết được sự thật đấy. Người là Đấng cứu độ bởi vì Người đã chết trên thập giá vì chúng ta. Tôi xin các bạn hãy nhìn ra thế giới và rồi trở về lại trong chính tâm hồn mình. Đây là thế giới của chúng ta, và chúng ta chịu trách nhiệm về thế giới này, và trong ngày sau hết chúng ta sẽ phải chịu xét xử dựa trên bối cảnh của chính thế giới ấy. Chúa Giêsu phán: “Ta đói và các ngươi đã cho Ta ăn, Ta khát và các ngươi đã cho Ta uống, Ta trần truồng và các ngươi đã cho Ta mặc” (Mt 25, 35-36). Chúng ta, những kẻ được cứu, sẽ hỏi rằng: “Có bao giờ chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống, trần truồng mà cho ăn mặc đâu?” Người sẽ đáp: “Quả thật, bất cứ khi nào các ngươi làm thế cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 40).

Nói cách khác, có một “Christus incognitus”, tức là một Chúa Kitô vô danh trong thế gian, nơi những người nghèo, nơi những khu ổ chuột. Chúng ta không thể tách biệt Người khỏi họ được. Tôi biết có nhiều người đang dự đoán thảm họa sắp xảy ra cho thế giới, cụ thể là trong thời đại nguyên tử chúng ta đang sống đây. Ngay cả khi thế kỷ vừa qua được khép lại, có một số người đã hình dung cách mơ hồ về thảm họa này. Một ngày kia, có hai nhà khoa học vĩ đại người Pháp, là Claude Bernard và Emil Boutroux, đã ghé thăm một nhà xuất bản người Pháp tên là Jean Quer. Họ nói với Quer rằng: “Chúng tôi vừa mới bắt đầu lên danh sách các chuỗi hủy diệt theo thứ tự bảng chữ cái abc, và vào thế kỷ tiếp theo chúng tôi sẽ hoàn tất bảng danh sách ấy.” Quer đáp: “Khi nào ngày ấy đến, tôi nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ nghiêng trời ngự xuống như một người gác đêm, tay lắc chùm chìa khóa của mình và phán rằng: “Thưa các vị, đã đến giờ đóng cửa rồi”, và thế là chúng ta sẽ phải bắt đầu lại từ đầu”.

Đây là một cái nhìn bi quan về thế giới. Có những người nghĩ đến chủ nghĩa cộng sản và những sự nguy hại rất thực tế mà nó gây ra, nhưng chúng ta không bao giờ được mất hy vọng. Bạn có nhớ đến đại thi hào người Nga, người giống như một nhà tiên tri, sống vào thế kỷ mười chín hay không? Ông ta đã nhìn thấy chủ nghĩa cộng sản xâm lược đất Nga rất lâu trước khi nó được phát minh hay nghĩ tới. Nhưng ông cũng nhìn thấy chủ nghĩa cộng sản đi đến ngày tàn cũng trên đất Nga. Ông nhìn thấy một ngày khi đó ma quỷ sẽ xâm chiếm và chiếm hữu nước Nga, cả thể xác lẫn linh hồn. Ông gọi người ta mang quyển Tin Mừng đến và mở ra một trích đoạn, trong đó Chúa chúng ta trừ quỷ cho một người đàn ông, cho phép lũ quỷ nhập vào bầy heo, và chúng nhào xuống biển mà chết đuối dưới đó (Mt 8, 28-32). Dostoyevsky nói: “Đó chính là đất nước Nga thân yêu của tôi. Một ngày kia đất nước này sẽ chìm đắm trong vòng tay ma quỷ, nhưng chúng sẽ bị khu trừ và đẩy lui trở về biển cả. Nơi đó chúng sẽ chết chìm, và nước Nga sẽ ngồi dưới chân Chúa Kitô mà học hỏi Tin Mừng của Người”.

Đúng thế, ngay cả giữa bao thử thách, tai họa, bóng đêm, chúng ta vẫn luôn có hy vọng vì chúng ta không mất Chúa bao giờ. Nếu chúng ta trở về lại cùng Người, mọi sự có thể thay đổi. Bạn có nhớ thi sĩ người Anh là Swinburne đã từng viết như thế này không: “Vinh danh con người trên tầng trời cao thẳm, vì họ chính là chúa tể muôn loài” (Hymn of Man, 200)? Người viết tiểu luận người Anh là Alfred Noyes, trước khi được cải đạo, đã ghé thăm Swinburne tại nhà nội ông này ở Bonchurch, Anh. Swinburne dẫn ông ta đi vào thư viện, nơi ông sáng tác các bản thơ ca vô thần. Hai người bắt đầu bàn luận về Kitô giáo, và Noyes bảo rằng ông đã thật sự phun ra những lời cay độc.

Nhiều năm trôi qua. Swinburn đã gặp được Thiên Chúa, Đấng mà ông đã chối bỏ và Đấng là Vị Thẩm phán của ông. Về sau, Noyes cũng được nhận về lại Giáo Hội. Noyes lại quay trở lại Bonchurch, vẫn đi trên con đường dài có những cây đinh hương, và trước mắt ông là những đứa trẻ vận đồ trắng. Lũ trẻ vừa đi vừa rải hoa trên đường. Ông theo chúng vào nhà, căn nhà giờ đây đã trở thành Tu viện Thánh Tâm Chúa Giêsu. Vào ngày đại lễ kính Mình và Máu Chúa, Noyes đi vào nhà nguyện, vốn chính là thư viện cũ năm xưa. Vào lúc ban Phép lành Thánh Thể, khi Noyes ngước mắt lên để chiêm ngắm Chúa chúng ta trong Bí tích cực thánh, ánh nhìn của ông cũng đặt vào chiếc cửa sổ to lớn mà ông đã trông thấy trong lần thăm viếng đầu tiên. Ngay phía trên Mặt Nhật trên ô cửa sổ đó là những chữ cái viết tắt tên của người cha dòng họ Swinburne: “I.H.S”, trong tiếng Hy Lạp đây là những từ viết tắt của tên Chúa Giêsu. Mọi sự có thể được thay đổi êm ái và dịu dàng, nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa.

Về phần linh hồn các bạn, liệu tôi có thể bàn luận một chút về sự thân mật gần gũi của tình yêu hay không? Có ba cấp độ thân mật. Cấp độ đầu tiên là lời nói. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết có ai đó yêu thương chúng ta trừ khi chúng ta được nghe biết về điều đó. Lời nói là chính sự tổng hòa của một nhân cách, là tất cả những gì một người đang có và sẽ trở thành. Chúng ta chỉ cần nghe một người nói chuyện và có thể biết được đó là một con người tốt bụng, độc ác hay có học thức. Cấp độ thân mật đầu tiên của tình yêu đó là chúng ta phải được nói cho biết, phải được chính tai nghe thấy. Thiên Chúa đã tuyên phán về mặc khải đó. Mở Kinh Thánh ra, bạn sẽ nghe thấy Lời của Thiên Chúa. Chỉ nghe âm thanh của người mình yêu thôi là không đủ; chúng ta còn muốn nhìn thấy người mình yêu. Chúng ta muốn nhìn thấy ngôn từ được xuất ra từ môi miệng con người; chúng ta muốn được nhìn thấy vẻ nghiêm nghị trên gương mặt cũng như cả cái chớp mắt nữa. Nếu Thiên Chúa thật sự yêu thương chúng ta, Người sẽ không chỉ để cho bản thân Người được nghe, mà còn phải được trông thấy. Một ngày nọ, từ chốn thiên tòa rạng ngời ánh sáng, có một thiên thần tìm đến với một Trinh nữ khiêm hạ đang quỳ gối cầu nguyện mà chào rằng: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng” (Lc 1, 28). Đây không phải là lời, mà đây chính là Ngôi Lời, và Ngôi Lời đã làm người và ngự giữa chúng ta. Thiên Chúa đã được nhìn thấy trong hình dáng phàm nhân. Bằng con mắt đức tin, bạn sẽ được nhìn thấy Người trong Bí tích cực thánh. Bạn nhìn thấy Người trong Giáo Hội của Người, là sự tiếp diễn mầu nhiệm Nhập thể của Người. Bạn cũng thấy Người nơi những ai nghèo khổ nữa.

 

Tôi cho rằng những lời về mặc khải của Thiên Chúa này giống như mối quan hệ giữa chiếc rađiô và Tivi vậy. Cựu Ước là chiếc rađiô – chúng ta nghe được giọng của Chúa nhưng không nhìn thấy Người – và Tân Ước là chiếc Tivi, nơi chúng ta không nghe mà còn được nhìn thấy Thiên Chúa. Liệu còn có một sự thân mật gần gũi trong tình yêu thánh thiêng và sâu thẳm nào khác hơn nữa hay chăng? Có một sự thân mật tinh tế đến độ nó cũng có thể là một lời xúc phạm khủng khiếp nhất mà bất cứ ai không quen biết có thể gây ra cho chúng ta, đó chính là sự thân mật nơi những cái chạm. Nếu Chúa Giêsu muốn vét rỗng kho tàng ân ái yêu thương mà trao cho chúng ta, hẳn là Người phải chạm đến chúng ta và để cho bản thân Người được đụng chạm. Người đã để cho Tôma chạm đến Người (Ga 20, 27-29), đã để cho người phụ nữ bị bệnh băng huyết chạm vào mình (Mt 9,20) và Người cũng đã chạm đến những người phong cùi và bệnh tật khác (Mc 1, 41). Đối với các bạn, nếu các bạn được nhận lãnh hồng ân đức tin, bạn cũng sẽ được đón nhận món quà của sự đụng chạm này, vốn là điều chỉ dành riêng cho những ai gần gũi, chính là nỗi niềm say đắm khi lãnh nhận Bí tích Thánh Thể. Cũng như đỉnh cao tình yêu trong hôn nhân là khi hai người nên một trong thân xác, thì đỉnh cao tình yêu nơi Bí tích Thánh Thể là khi hai người nên một trong tinh thần. Tôi xin dâng lên Thiên Chúa lời nguyện cầu khẩn thiết, hầu cho từng người trong các bạn ai nấy cũng đều được nhận lãnh cấp độ thứ ba và cũng là cấp độ ân ái thân mật tuyệt hảo nhất này.

Mọi việc bạn làm trong cuộc sống thường ngày, bất kể là quét đường hay dạy học, cũng đều có thể trở nên lời nguyện. Mọi hành động bạn làm cũng giống như tấm séc còn trống, mà nó chỉ có giá trị khi được chính Thiên Chúa ký tên vào đó. Đó là lý do vì sao thánh Phaolô nói rằng: “Dù cho ăn hay uống, hay bất kể những gì anh em làm, hãy làm nhân danh Chúa Kitô” (Cl 3, 17). Những hành động nhỏ bé trong đời sống thường ngày của bạn – trong tư cách là mẹ, là cha, là người thợ, giáo viên, y tá hay thư ký – cũng đều có thể được thần hóa và bí tích hóa, miễn là bạn lồng vào trong đó một lời cầu nguyện và một ý chỉ thần thiêng. Dưới rãnh nước bên đường có một giọt nước bị vẩn đục, bẩn thỉu và ứ đọng. Mãi tít tận trên cao, một tia sáng dịu dàng đã nhìn thấy nó, đã nhảy từ trên tầng trời xanh thẳm xuống với giọt nước ấy mà hôn lấy nó, đã khiến nó được say mến bằng sự sống và niềm hy vọng mới mẻ lạ lùng, đã nâng nó lên cao hơn cả những tầng mây, và một ngày kia biến nó trở nên một bông tuyết tinh khôi đặt trên đỉnh núi.

Thế giới đơn điệu, tẻ nhạt và đầy lao công của bạn có thể được chuyển hóa và biến đổi với điều kiện là bạn thực hiện mọi việc nhân danh Chúa Kitô. Những việc bạn làm trong thế giới này không quan trọng cho bằng cách bạn thực hiện chúng. Shakespeare từng nói: “Toàn thế giới là một sân khấu” (As You Like It 2.7). Tại sao người đóng vai nhà vua, vẻ vang trong chiếc vương miện kết bằng dây kim tuyến và thanh gươm bằng thiếc, lại nghĩ rằng anh ta tài giỏi hơn người đóng vai thường dân? Khi tấm rèm hạ xuống, họ cũng chỉ là những diễn viên mà thôi! Vậy khi tấm màn che sân khấu cuộc đời chúng ta được hạ xuống, chúng ta sẽ không phải trả lẽ về vai diễn mà chúng ta đã đóng trong đời; nhưng đúng hơn chúng ta sẽ được hỏi rằng: vai diễn đã được ký thác cho mình ấy, mình có thực hiện tròn vai hay chưa.

Cứu linh hồn mình không khó; tuy nhiên, là người Công giáo không có nghĩa là bạn sẽ ngưng phạm tội, nhưng sẽ loại bỏ mọi thú vui méo mó mà việc phạm tội gây ra, bởi vì một khi đã yêu, bạn sẽ biết yêu là gì. Trong Thánh Kinh, tội lỗi luôn được gọi là hành vi ngoại tình bởi vì nó là một thứ tình yêu sai trái. Tôi biết bạn sẽ gặp những người làm việc cẩu thả, tùy tiện, gian lận, phạm tội ngoại tình, trốn thuế, và hủy hoại danh dự tha nhân. Dường như họ không hề cảm thấy cắn rứt lương tâm, nhưng chắc chắn họ không bình an bao giờ. Nếu chúng ta muốn yêu, chúng ta phải đón nhận lấy Thập giá Chúa Kitô. Chúng ta sẽ không thể trốn tránh nó được, dù có cố gắng đến mấy đi chăng nữa.

Đã tới giờ tôi phải tạm biệt các bạn rồi. Tôi đã rất vui khi được ở cùng các bạn và hy vọng rằng các bạn sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp. Có lẽ trái tim chúng ta đã có chút gì đó sát lại gần nhau hơn; và quả thật là thế trong những cuộc hội thoại lâu dài. Cho phép tôi được nhắc các bạn rằng trái tim bạn và tôi không hề mang hình dáng và kích cỡ hoàn hảo như một tấm thiệp valentine. Mỗi trái tim nhân loại chúng ta đều khuyết đi một mảnh nhỏ nào đó, vốn tượng trưng cho một mảnh tim bị xé ra khỏi Con Tim mang trọn lấy nhân tính vũ hoàn trên thập giá. Tôi nghĩ rằng ý nghĩ thực sự là khi Thiên Chúa tạo nên cho bạn quả tim, Người thấy nó thật tốt đẹp, thật đáng yêu. Người đã giữ lại một mẫu nhỏ trên thiên đàng, và đem phân phát số còn lại cho thế gian, là nơi bạn hằng cố gắng đạt được hạnh phúc, nhưng không thể được hạnh phúc trọn vẹn, bởi vì bạn không có một quả tim được toàn vẹn để yêu thương. Người luôn luôn nhắc nhở bạn rằng để được thật sự bình an, hạnh phúc và thỏa lòng, bạn phải trở về với Thiên Chúa để tìm lại được mảnh còn thiếu mà Người đã luôn giữ bên mình để dành riêng cho bạn từ thuở đời đời. Trái tim bạn sẽ ở nên trọn vẹn trên thiên đàng, và sẽ làm vui lòng Chúa, và tôi biết trái tim tôi cũng thế. Tôi sẽ gặp lại các bạn trong Trái Tim Thiên Chúa. Còn bây giờ, xin chào tạm biệt, và hãy nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương các bạn!

0 Nhận xét