10. Nhân Tính Chúa Kitô

Chúng ta luôn nhấn mạnh về thần tính Chúa Kitô, nhưng đôi khi chúng ta lại hay lãng quên về nhân tính của Người. Có hai câu trong Kinh Thánh, một từ sách ngôn sứ Isaiah và một từ thư gửi tín hữu Do Thái, dường như mâu thuẫn với nhau. Sách Isaiah chép rằng Chúa chúng ta “bị liệt vào hàng tội nhân” (Is 53, 12), còn thư gửi tín hữu Do Thái lại bảo Người là Đấng “tách biệt với đám tội nhân” (Hr 7, 26), là Đấng vừa đồng hàng ngũ với tội nhân nhưng cũng đồng thời không cùng hàng ngũ với họ. Người mang lấy vào thân mình mọi hình phạt của tội lỗi. Người tách biệt với tội nhân đơn giản vì Người là Thiên Chúa, và bởi vì đã mang lấy bản tính loài người mà Người đã nên giống chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi.

Giờ đây chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu về nhân tính mà Chúa Kitô đã đảm nhận. Bạn hãy nhớ là nhân tính ấy không có một ngôi vị nhân loại độc lập. Theo một nghĩa nào đó, bản tính nhân loại của Chúa chúng ta là vô hạn. Nó gần như giống với việc chúng ta có một sân chơi không có tường rào bao quanh; và mọi đứa trẻ có thể đến đây vui đùa. Nhân tính của Chúa Kitô, bởi vì không bị đóng khung, nên nó không bị hạn chế hay bị giam hãm trong một ngôi vị nhân loại. Nhân tính của Người, trong một mức độ lớn lao, đại diện cho nhân tính của từng cá nhân đã từng sống trên đời.

Khi chúng ta đọc về gia phả của Người trong hai sách Tin Mừng của Matthêu và Luca, chúng ta sẽ thấy có những vị thánh, và đồng thời cả những tội nhân. Chúng ta thấy có các người phụ nữ ngoại giáo như bà Rút; có một người bị gán mác là kẻ tội lỗi như bà kỹ nữ Rakháp, và đây chính là nét đặc trưng của nhân tính mà Chúa Kitô đã đảm nhận khi Người nhập thể. Mọi con người được sinh ra từ thuở ban sơ cho tới tận thế đều được tháp nhập vào trong nhân tính này. Do đó, không hề có một con người nào, dù họ là tín đồ Phật giáo, Khổng giáo, người cộng sản, tội nhân hay thánh nhân, mà lại không được tháp nhập vào trong nhân tính của Chúa Kitô. Chúng ta cũng vậy. Người hàng xóm cạnh nhà chúng ta cũng thế. Và mọi kẻ bắt hại Giáo Hội cũng tương tự.

Khi chúng ta băn khoăn lo lắng về ơn cứu độ của người khác, chúng ta chỉ cần nhận ra rằng, một cách tiềm ẩn, mọi ơn cứu độ và mọi cá nhân trên đời đều ở trong Chúa Kitô. Có thể họ không nhận ra chính họ cũng đã được tháp nhập vào trong Chúa Kitô, nhưng theo một nghĩa nào đó mọi cá nhân trên trần gian này, cách ngầm định, đều là một Kitô hữu xét theo nhân tính của họ.

Hãy nhin về quá khứ và suy ngẫm về mọi hậu quả của tội Adam. Thật vậy, không một con người nào, dù người đó là dân Ả Rập, Châu Mỹ, Châu Âu hay Châu Á, mà lại không nhận thấy nơi chính bản thân mình, nơi nhân tính của mình, có một cái gì đó phức tạp, mâu thuẫn, một cuộc nội chiến hay nổi loạn, vốn là điều được thừa hưởng từ Adam. Ai trong chúng ta cũng phải vất vả chiến đấu chống lại cám dỗ, và tại sao? Đơn giản là vì nhân tính chúng ta đã bị rối loạn ngay từ ban đầu. Tôi phải nói rằng nhân tính của chúng ta có một sự đơn điệu khủng khiếp. Bạn chớ nghĩ rằng bạn là kẻ duy nhất trên trần gian phải chịu cảnh dày vò trong tâm hồn.

Nếu tội của Adam đã gây ra quá nhiều hậu quả cho mọi con người từng sống trên đời, liệu chúng ta có nên phủ nhận một tác động còn lớn lao hơn thế nữa nơi mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa chúng ta hay không? Liệu tội của một người có khả năng gây ra hậu quả và sự rối loạn nghiêm trọng nơi nhân tính hơn cả quyền năng lập lại trật tự cho toàn thể nhân loại được thể hiện nơi mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa hay chăng? Chính bởi thế mà tôi mới nói mọi người trên trái đất này đều là Kitô hữu cách tiềm ẩn. Có thể họ không công khai nhận mình là Kitô hữu, nhưng đó không phải là lỗi của Chúa Kitô. Người đã mang lấy nhân tính của họ nơi chính mình Người.

Giả sử như có một cơn đại dịch gây tác hại trên một khu vực rộng lớn, và rồi một bác sĩ nọ tìm ra được phương thuốc đặc trị và cung cấp cho mọi người. Thế nhưng không phải ai cũng sẽ tìm kiếm phương thuốc đó. Có thể họ sẽ nói rằng: “Làm sao tôi biết được là ông ta đã tìm ra thuốc chữa? Tôi sẽ tự chữa cho chính mình”. Như vậy, liệu họ có tiềm năng được chữa khỏi hay không? Đó chắc chắn không phải là lỗi của vị bác sĩ ấy nếu như họ không được lành bệnh. Lỗi thuộc về những người ấy mới đúng. Tương tự như thế, chính Chúa Kitô đã đem ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, và bổn phận của chúng ta là phải tìm kiếm ơn cứu độ nơi Người.

Chúa chúng ta luôn đặt niềm hy vọng nơi toàn thể nhân loại. Người luôn nhìn nhận họ theo cách Người đã tạo dựng nên họ từ thuở ban đầu. Người không nhìn vào bề mặt, hay những gì là ô nhơ bụi bẩn của con người, nhưng là tận nơi sâu thẳm, là con người thật của họ. Người không bao giờ đồng hóa con người với tội lỗi. Người xem tội như một thứ gì đó xa lạ, không thuộc về bản tính con người. Dù tội đã khiến cho con người nên tôi mọi cho nó, nhưng con người có thể được giải thoát khỏi tội để trở nên chính mình. Cũng như mọi người mẹ đều nhìn thấy hình ảnh của bà nơi khuôn mặt của con mình, Thiên Chúa cũng luôn nhìn thấy hình ảnh thần linh mà Người đã ghi khắc nơi chúng ta.

Cách Người nhìn chúng ta cũng giống như cách cô dâu chú rể nhìn nhau trong ngày cưới của họ. Ấy là ngày họ đẹp đẽ rực rỡ nhất đời. Về sau có thể họ sẽ không còn giữ được lý tưởng thuở ban đầu nữa, hay thậm chí còn quên đi luôn. Một ngày nọ, có một phụ nữ tới gặp tôi và bảo tôi rằng bà không còn có thể yêu chồng mình được nữa. Tôi nói với bà ấy hãy cố nhớ lại ngày cưới, lúc ấy bà đã yêu ông nhiều tới chừng nào khi hai người nắm tay nhau đứng trước bàn thờ. Điều người phụ nữ ấy cần làm là nhìn thấy con người thật của chồng mình - người mà bà đã hiến dâng trọn cuộc đời - ẩn dưới một hình ảnh đã bị méo mó. Đây chính là điều mà Chúa chúng ta đã thực hiện khi Người đến trong trần gian. Ngay cả khi con người nổi điên và buông lời thóa mạ dưới chân Thập Giá, Người vẫn trông xuống họ như những kẻ không nhà, những đứa trẻ bất hạnh của Chúa Cha trên trời; vì yêu thương và để cứu chuộc họ mà Người đã chấp nhận chịu đau khổ và chịu chết. Đó chính là cách Chúa chúng ta trông ngắm nhân loại này.

Tôi muốn rằng các bạn sẽ mang những tư tưởng này ra về theo một cách thân mật hơn nữa, và ở đây chúng ta sẽ dùng một thuật ngữ gọi là “gánh lấy” (transference) và tìm cách làm rõ điều gì nhân tính Chúa Giêsu đã làm trong tương quan với tội lỗi và đau khổ của chúng ta. Có ba kiểu “gánh lấy” nơi cuộc đời Chúa Kitô: gánh lấy về mặt thể lý (physical transference), gánh lấy về mặt tâm lý (psychic transference) và gánh lấy về mặt luân lý (moral transference). Nếu Chúa Giêsu không đến trần gian và kinh qua mọi thứ đòn roi, khổ sở, đau đớn mà chúng ta chịu lấy, vậy chúng ta có thể nói rằng: “Thiên Chúa có biết đau khổ là gì không vậy?”, “Người có bao giờ chịu đói hay không?”, “Người có bị phản bội hay không?” và “Có bao giờ Người bị mù hay chưa?”. Tôi phải nói rằng cách tốt nhất để diễn tả nhân tính của Chúa chúng ta đó là Người là một vị Thiên Chúa đã tự nếm lấy thuốc mà mình kê đơn. Người tạo nên con người có tự do. Và con người đã lạm dụng tự do mà tự rước lấy vào thân mọi thứ bệnh tật. Thiên Chúa xuống trần và nhận lấy vào mình một nhân tính để Người có thể nếm trải mọi thứ khổ đau nơi linh hồn con người, cũng như mọi cơn đau quặn thắt nơi thân xác này. Đó là ý nghĩa của cụm từ “gánh lấy”.

Trước hết, ta sẽ bàn đến sự gánh lấy về mặt thể lý. Chúng ta đọc thấy điều này trong các sách Tin Mừng; cụ thể là, Chúa chúng ta đã nhận lấy vào thân mọi bệnh hoạn tật nguyền của chúng ta (Mt 8, 17). Tôi đã luôn rất khó chịu về đoạn văn này bởi dường như chưa hề có ghi chép nào về việc Chúa Giêsu bị ốm cả. Hẳn là Người phải có một nhân tính hoàn hảo. Người được thụ thai bởi Thánh Thần Tình yêu, được sinh ra bởi một người nữ được thụ thai vô nhiễm nguyên tội. Cho nên, ắt hẳn là Người phải có một thể chất hoàn hảo giữa loài người. Tôi tin rằng mọi người nữ đều muốn làm mẹ của một người con vĩ đại, và một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy thì có một phụ nữ reo lên trong đám đông dân chúng rằng: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm” (Lc 11, 27). Hẳn là bà ấy rất muốn được làm mẹ của Người.

Khi chúng ta đọc tới đoạn quân thù đặt mão gai lên đầu Người, đánh đòn, đấm đá, khạc nhổ vào mặt Người, chế giễu sỉ nhục Người, tất cả những hành vi này mang ý nghĩa gì, nếu chẳng phải là muốn kéo nhân tính đáng yêu đáng mến của Chúa Kitô xuống ngang hàng với chúng? Thật vậy, chúng không thể chịu nổi nét uy nghi nơi hữu thể Người: cũng như chúng đã muốn tước đi danh tiếng của một phạm nhân, thì chúng cũng sẽ muốn tước đi sự tôn quý nơi phẩm cách của Người.

Chúa chúng ta chắc chắn phải có một nhân tính hoàn hảo. Thánh Kinh có ý gì khi viết rằng “Người mang lấy vào thân mọi bệnh hoạn tật nguyền của ta”? Tôi đã suy tư về trích đoạn ấy suốt khoảng hai năm trời, và câu trả lời đến với tôi khi tôi đọc được tác phẩm của một nhà tâm thần học nổi tiếng người Thụy Sĩ. Ông ấy kể câu chuyện về hai bác sĩ, cả hai đều có đôi tay có khả năng chữa lành. Một vị trong số họ nói rằng bất cứ khi nào ông ấy chữa cho một ai đó, thì có một chút gì đó nơi căn bệnh của bệnh nhân được truyền vào bên trong ông ta. Vị bác sĩ còn lại nói rằng ông thường chữa trị cho bệnh nhân bị đau thắt ngực, và ông phải bỏ công việc chữa bệnh ấy bởi vì ông đax phải chịu quá nhiều cơn đau ngực. Phải chăng đây là điểm mấu chốt?

Chúng ta hãy xem xét một số lần Chúa Giêsu làm phép lạ chữa lành. Chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng rằng Chúa đã thở dài khi Người chữa cho kẻ điếc và kẻ mù. Chúng ta đọc thấy Người đã khóc khi truyền cho Ladarô sống lại từ cõi chết (Ga 11, 38). Tôi tin rằng, vào thời điểm ấy, Chúa chúng ta đã mang lấy vào thân bệnh hoạn tật nguyền của kẻ khác. Khi Người chữa cho kẻ bị mù (Mc 8, 22-26), tôi cho là Người cảm thấy nơi sâu thẳm mình không chỉ sự mù lòa của người đàn ông đó mà thôi, mà còn là sự mù lòa của tất cả những ai đã từng sống trên đời. Không một người mù nào trên thế gian này, trong hang động sâu thẳm của giác quan, nơi không có ánh sáng, mà lại có thể nói rằng: “Chẳng lẽ Chúa Kitô lại biết thế nào là bị mù sao?” Đúng thế, Người biết chứ. Khi Người cho kẻ chết sống lại và mang họ trở về với đời sống mới, tôi cho là Người đã cảm nhận được nỗi thống khố của sự chết. Chính Người đã run rẫy sợ hãi trong vườn Ghếtsêmanê cơ mà (Mt 26, 36-46).

Thánh Phaolô cho chúng ta hay rằng Chúa Kitô đã chết cho mọi phàm nhân (2Cor 5, 15). Người biết sự chết, cũng như nỗi sợ chết là gì. Đây chính là Đấng Kitô đã đến với chúng ta. Chúng ta tuyên bố rằng Người là Đấng duy nhất thấu hiểu bệnh tật của chúng ta, và tại sao lại như vậy? Đơn giản bởi vì Người đã mang lấy bệnh tật đó bên trong Người. Người gánh lấy nó cho chúng ta và với chúng ta, hầu chúng ta có thêm sức mạnh và sự nhẫn nại như Người.

Ngoài hành vi “gánh lấy” về mặt thể lý ra, Chúa chúng ta còn gánh thay cho chúng ta về mặt tâm lý nữa. Tôi có ý nói rằng Người đã mang vào thân mọi nỗi cô đơn của kiếp người; những bệnh tâm thần, những hậu quả bi thảm của chứng loạn thần kinh và rối loạn tâm thần của họ. Người cảm nhận thấy hết tất cả sự tối tăm của những kẻ vô thần. Người biết như thế nào là kẻ hay có óc hoài nghi. Người biết chuyện gì đang diễn ra nơi tâm hồn của những ai đang giơ lên nắm đấm siết chặt, của những kẻ đầy lòng thù ghét đến độ môi miệng chúng như những hố sâu của lòng thù hận và như những ngọn núi lửa chỉ chực phun trào lời lộng ngôn. Suy cho cùng, nếu Chúa chúng ta muốn cứu chuộc những kẻ vô thần và cộng sản, Người phải biết rõ trở nên người vô thần và người cộng sản là như thế nào. Người phải mang lấy nỗi tuyệt vọng bị Thiên Chúa bỏ rơi của họ như của chính mình. Trên thập giá, bóng tối len lỏi vào trong linh hồn Người. Trong nhân tính của mình, Người đã kêu lên với Chúa Cha khi đối diện với nỗi cô đơn tột cùng rằng: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 46).

Bấy giờ Người đã đi qua thung lũng tăm tối và sa mạc bí hiểm nhất cùng với mọi người anh em nhân loại. Chúng ta gần như có thể nói rằng đó là giờ phút Thiên Chúa gần như trở nên một kẻ vô thần! Đó là khoảnh khắc Người gần như đã đi vào hỏa ngục, nhưng với một sự khác biệt này: Trong cơn thống khổ cô đơn tột cùng đó, Người kêu lên với Thiên Chúa. Khi một ai đó bị người đời cho là đã bị Thiên Chúa bỏ rơi, hoặc đã chối bỏ Thiên Chúa, thì người ấy phải biết rằng mình có một người anh đã chịu lấy nỗi đắng cay của sự xa cách cho tới tột cùng trên đồi Gôngôtha. Nếu chúng ta có Người chỉ đường dẫn lối, chúng ta cũng có thể tìm được lối ra. Đây chính là nỗi cô đơn của Chúa Kitô, trong vườn Cây Dầu và trên Thập Giá.

Sự im lặng của Chúa đã hút lấy mọi sự dữ như miếng bọt biển hút nước, và sự dữ đã mất hết sức mạnh của nó. Khi một người vô thần than vãn về sự dữ và vẻ xấu xí của thế giới này, chẳng lẽ, tự thâm tâm, người đó lại không biết rằng từ thuở ban đầu thế giới vốn dĩ đã không như thế hay sao? Người đó đang khẳng định sự hiện hữu của Thiên Chúa bằng chính những lời than trách gay gắt của mình. Không có Thiên Chúa, người vô thần sẽ chẳng có ai để mà than trách; và chính trong nỗi than thở của mình, họ có Chúa Kitô để mà nương nhờ.

Sau cùng, chúng ta còn lại sự gánh lấy về mặt luân lý, tức là Chúa Kitô mang lấy tội lỗi của chúng ta. Kinh Thánh chép rằng Chúa chúng ta đã bị liệt vào hàng tội nhân (Is 53, 12). Người mang lấy vào thân mọi tội lỗi trên trần gian, như thể chúng là tội của riêng Người. Mọi lời lộng ngôn được đặt lên môi Người, như thể chính Người đã thốt ra những lời phỉ báng ấy. Mọi hành vi trộm cắp được đặt vào tay Người, như thể chính Người đã thực hiện hành vi trộm cắp. Da thịt treo lủng lẳng trên thân xác Người chính là biểu tượng cho mọi tội phản nghịch của mọi kẻ phàm nhân trên thế gian. Người biết tội là gì.

Tôi có thể làm rõ điều này hơn nữa. Vài năm trước đây, có một cô gái đến từ một thành phố lớn trên đất nước này viết thư cho tôi. Vào tuổi mười tám, cô ấy đi tham dự buổi tiệc khiêu vũ đầu tiên trong đời. Cùng đi với cô còn có người chị họ nữa. Nhà người chị họ cách cổng nhà cô không xa mấy. Người chị họ đó chở cô về đến cổng, cho cô xuống xe, và chỉ trong khoảnh cách từ cổng nhà tới mái hiên, cô bị một người lạ mặt tấn công. Thời gian trôi qua, cô phát hiện mình đã có thai. Người duy nhất tin vào cô là mẹ cô và cha quản xứ. Những phụ nữ hàng xóm mỉa mai rằng: “Ôi, thật tệ hại thay, người phụ nữ đáng thương kia lại có đứa con gái hư hỏng”. Một số cô trong ca đoàn cũng không cho phép cô gái ấy hát chung nữa, bởi vì cô là một kẻ “trắc nết”. Cô gái ấy kể cho tôi nghe hết mọi đau khổ cô đã phải trải qua.

Cô ấy hỏi tôi: “Đâu mới là ý nghĩa cho những đau khổ của con?”

Tôi viết thư hồi âm cho cô ấy thế này:

Con thân yêu, mọi đau khổ ấy đến với con đơn giản là vì con đã gánh lấy tội của một người. Giả sử nếu con gánh lấy tội của mười người, chắc hẳn con sẽ phải chịu đau khổ gấp mười lần. Nếu con mang lấy vào thân tội của một trăm người, đau khổ của con sẽ khủng khiếp thêm gấp một trăm lần nữa. Và nếu con mang lấy tội của cả thế giới, chắc hẳn con sẽ phải đổ mồ hôi máu thôi. Tội của con và tội của cha đã nằm trong số những giọt mồ hôi máu đổ trên đồi Canvê (Lc 22, 44), trong nhân tính này, trong linh hồn cát bụi mà chúng ta vẫn kính mến tôn thờ gọi là Thánh Tâm.

0 Nhận xét