Ân sủng và Các bí tích

Tôi thấy rằng chúng ta đã sai khi nói:
“Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và ở giữa chúng ta. Những người đi lễ, những người đoan trang, những người của số đông và những người tốt.”
Và hôm nay tôi thấy chúng ta cũng sai khi đổi giọng điệu và nói: “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và ở giữa những kẻ nổi loạn, những người thuộc thiểu số và những người biểu tình.”
Chúng ta sẽ cũng đúng khi tin rằng Thiên Chúa là Cha của toàn thể nhân loại, và khi chúng ta nói về Đức Kitô cho mọi người để họ nhìn thấy Ngài trong màu da của họ, và họ sẽ tỏ bày Ngài cho chúng ta để chúng ta thấy Ngài trong màu da của mình. 

-- Fulton J. Sheen

Ân sủng chia nhân loại thành hai hạng người: những người chỉ sinh ra một lần, và những người sinh ra hai lần. Những người sinh ra một lần chỉ được sinh bởi cha mẹ mình; còn những người sinh ra hai lần được sinh bởi cha mẹ và bởi chính Thiên Chúa. Một nhóm có thể gọi là tự nhiên. Nhóm kia, ngoài bản tính tự nhiên, còn được tham dự cách mầu nhiệm vào sự sống thần linh của Thiên Chúa.

Tôi kể bạn nghe hai biến cố về ân sủng. Tôi đến giảng tại một nhà thờ ở Paris. Tôi nghỉ trong một khách sạn nhỏ gần nhà hát Opéra Comique, và trong một căn phòng nhỏ có một người Anh đang chơi đàn piano. Tôi đứng nghe một lúc, rồi khen anh chơi đàn giỏi, và mời anh cùng đi ăn tối với tôi.

Trong bữa ăn, anh nói: “Tôi có một vấn đề muốn trình bày với cha. Tôi chưa từng gặp một người đàn ông hay phụ nữ nào thực sự tốt.” Tôi cảm ơn anh về lời “khen” đó. Rồi anh kể: Một năm trước, anh thấy một phụ nữ đang cố gắng bẻ một cục đường bỏ vào cà phê. Anh đến giúp bà bẻ đường. Bà kể cho anh nghe chồng bà rất độc ác. Anh liền nói: “Hãy đến sống với tôi.”

Anh nói tiếp: “Giờ tôi đã chán cô ta rồi; sau khoảng một năm sống với họ, tôi luôn chán ngấy về họ hết thảy. Sáng nay tôi gói quần áo của cô ta, để lại cho người gác cổng, và bảo cô ta rời khỏi tôi. Nhưng cô ta để lại cho tôi một mảnh giấy, nói rằng nếu tôi không tiếp tục cho cô ta ở lại, cô ta sẽ tự tử bằng cách gieo mình xuống sông Seine. Vấn đề của tôi là: tôi có thể cho cô ta tiếp tục sống với tôi để ngăn cô ta tự tử không?”

Tôi trả lời: “Không, anh không bao giờ được làm điều xấu chỉ để mong điều tốt xảy ra từ đó. Và điều quan trọng hơn, cô ta sẽ không tự tử đâu.”

Trời đã khuya. Anh ấy hỏi: “Cha đi đâu vậy?”

Tôi đáp: “Tôi đi lên Montmartre.”

Anh nói: “Tôi vừa nghĩ cha là người tốt, giờ cha lại đi lên cái ổ tệ nạn của Paris.”

Tôi trả lời: “Trên đồi Montmartre không chỉ có những nơi truỵ lạc mà còn có Vương cung thánh đường Thánh Tâm tuyệt đẹp. Ở đó, hàng trăm người đàn ông cầu nguyện mỗi đêm trong sự chầu Thánh Thể liên lỉ. Đi, đi với tôi.”

Chúng tôi cùng nhau đi. Anh ấy hỏi, “Cha sẽ ở lại đây bao lâu?” Tôi đáp, “Tôi định ở lại suốt đêm, nhưng tôi sẽ rời đi khi anh muốn về.” Anh ấy đã ở lại suốt đêm. Tôi đoán có khoảng tám trăm đến một ngàn người ở đó suốt đêm trong lời cầu nguyện. Sáng hôm sau, sau khi tôi dâng lễ, chúng tôi rời khỏi đó.

Anh ta nói: “Đây là lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc với sự tốt lành.”

 Anh ta xin tôi ở lại Paris vài ngày để dạy anh ta. Tôi sắp xếp gặp anh ta tối hôm đó. Đúng giờ hẹn, anh ta bước vào sân trong với một người phụ nữ khác, không phải người phụ nữ trong câu chuyện trước đó.

Anh ta nói: “Cả ba chúng ta sẽ đi ăn tối.” Tôi nói: “Không, tối nay tôi muốn gặp riêng anh.”

Tôi kéo anh ta sang một bên. Tôi nói: “Hôm qua anh đã nhận được một ân sủng lớn; dù mờ nhạt, anh đã có lần tiếp xúc đầu tiên với sự tốt lành, tình yêu và sự thánh thiện. Tối nay anh phải tự chọn lựa: Hoặc anh đi với người phụ nữ này, hoặc anh đi với tôi. Anh chọn cái nào?”

Anh ta đi qua đi lại trong sân vài phút rồi quay lại chỗ tôi.

Anh ta nói: “Thôi, thưa Cha, tôi nghĩ tôi sẽ đi với cô ấy.” Câu chuyện kết thúc ở đó. Những thôi thúc của ân sủng mà anh ta nhận được có thể đã giúp anh ta trở thành một vị thánh, nhưng nó giống như câu chuyện về Chúa nhìn xuống Giêrusalem: Ta muốn, nhưng ngươi không muốn (Mt 23:37).

Cho phép tôi kể một câu chuyện khác. Tôi từng làm công việc giáo xứ tại Nhà thờ Thánh Patrick, Quảng trường Soho, London, nước Anh. Một buổi sáng lạnh giá trong tháng Giêng, ngày Lễ Hiển Linh, tôi mở cửa nhà thờ và một hình dáng yếu ớt ngã vào trong. Đó là một cô gái trẻ khoảng hai mươi ba tuổi.

Tôi hỏi, “Sao cô lại đến đây?”

Cô nói, “Tôi không biết mình đang ở đâu, Cha ạ. Ôi, Cha ơi, trước tôi từng là người Công giáo, nhưng giờ thì không còn sống đạo nữa.”

Tôi hỏi, “Nhưng sao cô lại ở đây? Có vẻ như cô hơi say. Cô đang chạy trốn điều gì?”

Cô đáp, “Chạy trốn đàn ông, mỗi người trong số họ đều nghĩ tôi yêu họ.”

Tôi hỏi tên cô, và khi cô nói, tôi chỉ vào một bảng quảng cáo bên kia đường.

Tôi nói, “Có phải đó là hình của cô trên bảng quảng cáo kia không?”

Cô nói, “Đúng, tôi là nhân vật chính trong vở ca kịch nhạc kịch đó.”

Người phụ nữ này lạnh cóng. Tôi pha cho cô một tách cà phê và nhờ cô quay lại trước buổi diễn chiều.

Cô nài nỉ, “Tôi sẽ trở lại với một điều kiện, là Cha không bắt tôi đi xưng tội.”

Tôi nói, “Được, tôi hứa cô sẽ không phải xưng tội.”

Cô quay lại trước buổi diễn chiều.

Tôi nói, “Trong nhà thờ này có một bức Rembrandt và một bức Van Dyck rất đẹp. Cô có muốn xem không?”

Khi chúng tôi đi dọc theo lối giữa, tôi khẽ ‘đẩy’ cô vào phòng xưng tội. Tôi không bắt cô đi, nhưng cô đã xưng tội. Nữ diễn viên đó cuối cùng trở thành một nữ tu trong một tu viện ngày đêm thay phiên nhau cầu nguyện trước Thánh Thể ở Anh.

Đây là hai câu chuyện về cách con người đáp lại ân sủng. Trong cả hai trường hợp, ý chí con người đều có sự tự do. Trong một trường hợp là sự đáp ứng, trong trường hợp kia là sự từ chối. Chúng ta nhận được hàng triệu ân sủng này gọi là ân sủng hiện tại. Ai cũng nhận được chúng. Bạn không cần phải là người Công giáo. Mọi người: Hồi giáo, Phật tử, tin vào hệ tư tưởng cộng sản hay tư bản trên thế giới đều nhận được ân sủng hiện tại. Ở đây, chúng ta đang nói về cái gọi là ân sủng thường hằng, một ân sủng tồn tại  hơn, tạo nên một hình ảnh giống Chúa vẫn tồn tại trong chúng ta.

Ân sủng này được ban cho chúng ta như thế nào? Có lẽ bạn từng thấy các biển báo trên đường, thường được vẽ trên đá, có ghi: CHÚA GIÊSU CỨU TA Đúng vậy, Ngài thực sự cứu thoát ta, nhưng câu hỏi thực tiễn là: bằng cách nào?

Chúng ta có khoảng cách hai mươi thế kỷ giữa cuộc đời của Chúa Giêsu và thời đại của chúng ta. Vâng, Ngài là Thiên Chúa, nhưng làm thế nào Ngài truyền ban sự sống và quyền năng thần linh của Ngài vào linh hồn chúng ta? Ngài thực hiện điều đó qua những gì được gọi là các bí tích.

Chúng ta định nghĩa từ “bí tích” theo nghĩa rất rộng. Trong tiếng Hy Lạp, nó có nghĩa là mầu nhiệm. Một bí tích là bất kỳ vật chất hay điều hữu hình nào được dùng như dấu chỉ hoặc kênh truyền thông thiêng liêng.

Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới này với một cảm giác khôi hài. Chúng ta nói rằng một người có khiếu hài hước khi họ có thể “nhìn xuyên qua sự vật”, và chúng ta lẽ ra phải luôn nhìn thấy Ngài qua các sự vật, giống như các thi sĩ. Chúng ta sẽ nhìn ra một ngọn núi và nghĩ đến quyền năng của Thiên Chúa; nhìn hoàng hôn và nghĩ đến vẻ đẹp của Thiên Chúa; nhìn một bông tuyết và suy niệm về sự tinh khiết của Thiên Chúa.

Hãy lưu ý rằng, chúng ta sẽ không nhìn thế giới này một cách nghiêm trọng như những người duy vật, với họ, một ngọn núi chỉ là một ngọn núi, hoàng hôn chỉ là hoàng hôn, và bông tuyết chỉ là bông tuyết. Những người nghiêm nghị của thế giới này chỉ viết văn xuôi, còn những ai có cái nhìn sâu sắc để nhận ra sự Vĩnh Hằng trong thời gian, điều Thiêng Liêng trong nhân loại, thì có cái nhìn mang tính bí tích về vũ trụ.

Có những dấu chỉ và sự kiện nhất định trong đời sống hằng ngày của chúng ta có thể coi như một loại bí tích tự nhiên. Lấy ví dụ như một lời nói. Một lời nói có điều gì đó hữu hình – có thể nghe được – và đồng thời có điều gì đó vô hình. Nếu tôi kể một câu chuyện cười, bạn có thể cười; nhưng nếu tôi kể cho một con ngựa, con ngựa đó sẽ không hề cười, dù chỉ là một “tiếng ngựa cười”. Tại sao? Bạn hiểu được ý nghĩa vì bạn có linh hồn biết lý luận và trí tuệ. Con ngựa thì không có năng lực linh thiêng đó nên không hiểu được ý nghĩa.

Một cái bắt tay là điều hữu hình, vật chất, có da thịt. Nhưng trong đó cũng có yếu tố thiêng liêng: đó là sự giao tiếp của lời chào, của sự đón tiếp và của hơi ấm cá nhân. Một nụ hôn cũng là một dạng bí tích – vừa hữu hình, vừa vô hình – là sự truyền đạt của tình yêu.

Bạn có nhận thấy kiến trúc hiện đại ngày nay thiếu hẳn chi tiết hoa văn, trang trí không? Thật là một sự tương phản lớn so với các nhà thờ thời xưa, nơi mọi vật chất – thậm chí cả bò, thiên thần, hay những con quỷ nhỏ – đều được dùng để biểu hiện điều thiêng liêng.

Kiến trúc cổ đại luôn dùng vật chất như dấu chỉ của điều thiêng liêng, còn kiến trúc hiện đại thì phẳng lì, chỉ có thép và kính, gần như một chiếc hộp bánh quy. Vì sao? Bởi vì các kiến trúc sư ngày nay không còn thông điệp thiêng liêng nào để truyền đạt. Vật chất chỉ còn là vật chất – không trang trí, không ý nghĩa, không linh hồn.

Tôi tự hỏi liệu trang trí trong kiến trúc có biến mất khỏi thế giới cùng với phép lịch sự hay không. Chắc chắn chúng ta không còn lịch sự như những thế kỷ trước. Có lẽ lý do là vì chúng ta không còn tin rằng con người có linh hồn; họ chỉ là loài động vật khác và bị đối xử như phương tiện cho mục đích của chúng ta. Khi bạn tin rằng ngoài thể xác còn có linh hồn, bạn bắt đầu có lòng kính trọng và tôn quý đối với con người. Làm thế nào để chúng ta tiếp xúc với sự sống và ân sủng của Đức Kitô?

Chính Đức Kitô là Bí tích vĩ đại, vì Ngài là Ngôi Lời Nhập Thể, là Thiên Chúa làm người. Chúng ta có thể nhìn thấy một con người, nhưng biết rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Đức Kitô là bí tích tối cao của lịch sử. Nhân tính của Ngài là dấu chỉ thần tính của Ngài. Chúng ta thấy Thiên Chúa qua thân xác Ngài, sự vĩnh cửu qua thời gian của Ngài, và Thiên Chúa hằng sống trong hình dạng con người, giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.

Chúa Giêsu đã mang bản tính nhân loại của Ngài lên trời. Khi được vinh hiển, như chúng ta đã nói khi bàn về việc Thăng Thiên, Ngài trở thành Đấng Trung Gian và Chuyển Cầu cho chúng ta – Đấng có lòng cảm thông với chúng ta vì Ngài đã đi qua mọi cám dỗ, đau khổ và thử thách. Ngài là Thiên Chúa và là con người, và Ngài sẽ tuôn đổ xuống từ trời chân lý, quyền năng, ân sủng và sự sống của Ngài. Ngài sẽ làm điều đó bằng cách nào?

Ngài sẽ không làm điều đó qua thân xác vật lý, vì thân xác ấy đã được tôn vinh trên trời. Ngài sẽ làm điều đó qua các sự vật và qua nhân loại. Ngài sẽ dùng những vật thể trong thế giới này như sự kéo dài của Thân Thể vinh hiển của Ngài. Những điều này có thể là nước, bánh và dầu, như các kênh thông truyền sự sống thần linh của Ngài.

Tại sao Ngài thiết lập các bí tích này? Sự sống của Ngài phong phú đến nỗi cần phải có nhiều cách thể hiện khác nhau trong đời sống, giống như mặt trời. Mặt trời sáng rực đến mức, để hiểu vẻ đẹp nội tại của nó, chúng ta phải chiếu ánh sáng mặt trời qua lăng kính. Khi làm vậy, ánh sáng phân tách thành bảy tia trong quang phổ. Chúa chúng ta chiếu sự sống thần linh của Ngài qua lăng kính là Giáo Hội, và ánh sáng ấy không chia thành bảy tia màu, mà thành bảy bí tích của Giáo Hội.

Một lý do khác Ngài dùng các bí tích là để thánh hóa thế giới vật chất của chúng ta. Thiên Chúa không chỉ cứu chuộc con người, Ngài còn cứu chuộc cả vật chất. Chúng ta lấy những điều vật chất như nước, dầu và bánh để dâng phục vụ Thiên Chúa. Rất thường, chúng đã không được dùng cho mục đích thiêng liêng. Chúng ta có thân xác và linh hồn. Mọi tư tưởng thiêng liêng của chúng ta đều đến qua các giác quan.

Vậy tại sao Thiên Chúa lại không dùng những điều hấp dẫn giác quan – một vài dấu chỉ vật chất để mạc khải ân sủng mà Ngài đang tuôn đổ vào linh hồn chúng ta? Ví dụ, sẽ thật tuyệt vời nếu Ngài dùng nước để biểu thị tội nguyên tổ mà chúng ta thừa hưởng từ Ađam được gột rửa. Bánh sẽ là dấu hiệu tuyệt vời của sự nuôi dưỡng. Dầu củng cố chúng ta trong trật tự tự nhiên; nó cũng có thể là dấu hiệu tuyệt vời để củng cố linh hồn chúng ta. Giờ đây, thần tính dùng nhân tính và vật chất để có điều gì đó vượt thời gian, vượt vũ trụ, nhờ đó sự sống thần linh của Đức Kitô tuôn đổ vào linh hồn chúng ta. Đức Kitô trên trời tiếp xúc với chúng ta trong thời đại này qua bảy bí tích.

Có bảy điều kiện để sống một đời sống thể xác, và cũng nên có bảy điều kiện để sống một đời sống thiêng liêng. Năm trong số những điều kiện này thuộc về cá nhân, và hai điều liên quan đến xã hội. Để sống một đời sống thể xác, một đời sống tự nhiên, tôi phải được sinh ra; tôi phải trưởng thành; tôi phải nuôi dưỡng chính mình; tôi phải chữa lành các vết thương của mình; và tôi phải loại bỏ những dấu vết của bệnh tật. Sau đó, với tư cách là một thành viên của xã hội, phải có sự duy trì giống nòi loài người và phải có chính quyền.

Vượt lên trên đời sống con người này là đời sống thần linh, và có bảy điều kiện để sống một đời sống thần linh. Nếu tôi muốn sống đời sống của Đức Kitô, tôi phải được sinh ra trong đó – đó là bí tích Rửa Tội. Tôi phải trưởng thành và chấp nhận trách nhiệm của cuộc sống – đó là bí tích Thêm Sức. Tôi phải nuôi dưỡng mình, duy trì đời sống thần linh này – đó là bí tích Thánh Thể.

Tôi phải chữa lành các vết thương của linh hồn do tội lỗi gây ra – đó là bí tích Giải Tội, hay còn gọi là Xưng Tội. Tôi phải loại bỏ mọi dấu vết của căn bệnh tội lỗi tồn tại trong các giác quan – đó là bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Là một thành viên của xã hội, phải có sự truyền bá Nước Thiên Chúa, sự phát triển của Thân Thể Mầu Nhiệm Đức Kitô – đó là bí tích Hôn Phối. Cuối cùng, phải có chính quyền thiêng liêng – đó là bí tích Truyền Chức Thánh hay hàng Giám mục và Linh mục.

Việc lãnh nhận ân sủng trong các bí tích này có hiệu quả sâu sắc trong linh hồn chúng ta vì chính Đức Kitô là Đấng ban ân sủng. Sự sống thần linh của Đức Kitô được tuôn đổ vào linh hồn chúng ta chỉ nhờ việc chúng ta lãnh nhận bí tích. Chúng ta không được đặt chướng ngại để cản trở việc lãnh nhận bí tích.

Chính Đức Kitô là Đấng ban phép Rửa. Chính Đức Kitô là Đấng tha tội. Có những thừa tác viên, giám mục và linh mục, nhưng chúng ta chỉ cho Đức Kitô mượn đôi mắt, đôi tay và đôi môi của mình. Chính Ngài là Đấng ban ân sủng. Dù bạn lãnh nhận bí tích từ một linh mục bất xứng, đó vẫn là một bí tích, vì sự thánh hóa không phụ thuộc vào linh mục. Ánh sáng mặt trời có thể chiếu qua cửa sổ bẩn, nhưng ánh sáng không hề bị ô nhiễm. Một sứ giả có thể rách rưới, nhưng anh ta vẫn có thể mang thông điệp của một vị vua.

Vì thế, bạn thấy rằng Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô, chăm sóc bạn từ nôi cho đến mồ. Giáo Hội gặp gỡ bạn trong mọi biến cố và hoàn cảnh của cuộc đời, và sự thánh hóa của bạn không phụ thuộc vào việc chúng tôi giảng dạy, mà phụ thuộc vào chính Đức Kitô. Đây chính là mầu nhiệm ngọt ngào của cuộc sống – các bí tích.

0 comments:

Post a Comment