PHẦN V: THẾ GIỚI, LINH HỒN VÀ TẠO VẬT
Tôi thấy rằng, dù những kẻ hoài nghi đã bóp nghẹt đời sống thiêng liêng, như người Phi-li-tinh xưa kia đã lấp các giếng của Abraham, thì nếu chúng ta biết đào lên, như I-sa-ác đã làm, chúng ta vẫn sẽ tìm thấy những mạch nước ngầm của sự sống vẫn còn đó, bị chôn vùi nhưng chưa hề bị hủy diệt.
— FULTON J. SHEEN
CHƯƠNG 37: TÍNH DỤC LÀ MỘT MẦU NHIỆM
Hai từ được sử dụng nhiều nhất và cũng bị lạm dụng nhiều nhất trong thế giới hiện đại của chúng ta là “tự do” và “tính dục”. “Tự do” thường được dùng để chỉ sự vắng bóng của luật lệ, còn “tính dục” thường được dùng để chỉ sự thiếu vắng của kiềm chế. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng ba cách diễn đạt phổ biến về vấn đề tính dục, rồi suy tư và phân tích các cách diễn đạt ấy.
Cách diễn đạt phổ biến thứ nhất là: “Tình dục không phải là điều đáng xấu hổ.” Điều này đúng nếu tình dục được hiểu là cách nhân loại sinh sản trong niềm khoái lạc. Nhưng điều đó sai nếu tình dục được hiểu như sự buông thả xác thịt, như mớ hỗn độn mà bản năng tình dục đã kéo chúng ta vào ngày nay, với việc sử dụng không kiểm soát các ấn phẩm khiêu dâm, như thể những điều ấy chẳng có gì đáng hổ thẹn.
Chúng ta hãy xét đến cách diễn đạt thứ hai: “Chúng ta phải tự biểu đạt” Điều này đúng nếu nó có nghĩa là chúng ta phải hoàn thiện nhân cách của mình. Nhưng nó sai nếu “tự biểu đạt” có nghĩa là cho phép bản năng tình dục được thỏa mãn mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta cần phân tích đầy đủ ý nghĩa của thuật ngữ “tự biểu đạt.” Bạn có thể tưởng tượng một người lính đang ở chiến trường, bỏ hàng ngũ chạy về nơi an toàn, gặp một sĩ quan cấp trên, và viên sĩ quan ấy lại nói với anh ta: “Tôi rất mừng vì anh đã tự biểu đạt bản thân. Chúng ta đã thừa hưởng quá nhiều quan niệm Victoria cổ hủ về việc một người đàn ông phải ở lại chiến tuyến.” Dĩ nhiên, chúng ta có thể theo thành ngữ “Hãy là chính mình,” nhưng chúng ta phải nhớ mình là ai. Chúng ta là con người.Dĩ nhiên chúng ta có thể theo câu nói “Hãy là chính mình”, nhưng chúng ta phải nhớ chúng ta là ai. Chúng ta là con người.
Cách nói thứ ba thường được dùng ngày nay là: “Thiên Chúa hẳn đã không ban cho chúng ta bản năng này nếu Người không muốn chúng ta sử dụng nó!” Dĩ nhiên, chúng ta có quyền sử dụng bản năng ấy phù hợp với bản tính của mình. Bản tính của chúng ta là có lý trí; vì thế, chúng ta phải sống theo mục đích và cứu cánh. Chúng ta phải sử dụng các bản năng theo trật tự của lý trí, chứ không phải chỉ theo sự thúc đẩy mù quáng của bản năng. Chúng ta có bản năng săn bắt, nhưng phải sử dụng nó đúng cách. Cũng như bụi bẩn là vật chất ở sai chỗ, thì dâm dục là bản năng tính dục bị đặt sai chỗ.
Chúng ta trích dẫn nhà xã hội học Tiến sĩ Pitirim A. Sorokin, người viết:
Những gia đình trong xã hội chúng ta thường xuyên thay đổi chồng vợ, sao nhãng bổn phận đối với con cái, và chấp nhận một chuẩn mực luân lý thấp kém như ngoài đường phố, đang đẩy chúng ta đi trên con đường dẫn tới hỗn loạn. Hy Lạp, vào thế kỷ thứ ba và thứ hai trước Công nguyên, đã đưa tình dục ra công khai. Chúng ta biết điều đó vì ngay trong thời ấy cũng có những người tự hào về cái gọi là tính khách quan của mình, khi họ bình thản ghi lại bức tranh đáng buồn về những gia đình tụ tập với nhau để buông mình vào lối sống phóng túng. Ngoại tình và mại dâm phổ biến đến mức những người sa vào đó chỉ được xem như những kẻ “thú vị”.
Giờ hãy chú ý đến kết luận của nhà xã hội học này:
Nhưng một xã hội như thế đã không thể gom đủ bản lĩnh để chống cự khi đối diện với chiến tranh, cũng không thể chịu đựng những chương trình khắc khổ để có thể cứu vãn nền kinh tế bị thổi phồng. Chẳng bao lâu, vinh quang một thời của Hy Lạp chấm dứt, và Acropolis hùng vĩ chỉ còn là một sườn đồi rải đầy những mảnh cẩm thạch đổ nát. (Social and Cultural Dynamics)
Bất cứ quốc gia nào quá nhấn mạnh đến xác thịt đều nên ghi nhớ bài học lịch sử này.
Bây giờ chúng ta hãy nhìn vấn đề từ một góc độ hoàn toàn khác. Chúng ta cũng cần có một mức độ cảm thông nào đó đối với những người phản đối cách người ta nhấn mạnh đến đức trong sạch và tiết dục. Quá thường, việc trình bày các nhân đức này mang tính tiêu cực. Hầu như mọi bài nói về khiết tịnh đều bắt đầu bằng “đừng làm điều này” hay “đừng làm điều kia”. Dường như khiết tịnh bị xem gần như một nhân đức tiêu cực hơn là tích cực. Nhưng đức trong sạch thì không là như vậy. Kitô giáo mời gọi chúng ta: “Hãy nhìn mọi sự theo cách nhìn của Thiên Chúa” và “Chúng ta học được gì khi nghiên cứu con người?” Ta thấy mỗi con người đều có hai bản năng mạnh mẽ và căn bản: trước hết là cái đói, và cái kia là tính dục. Thiên Chúa đã đặt cả hai bản năng ấy vào con người. Nhờ cơn đói, chúng ta bảo toàn sự sống cá nhân. Nhờ tính dục, chúng ta bảo toàn sự sống xã hội. Thiên Chúa đã gắn liền những khoái cảm lớn lao với hai bản năng này để bảo đảm sự tiếp diễn của cả đời sống cá nhân lẫn nhân loại.
Dĩ nhiên, sẽ có những lệch lạc và thái quá nơi cả hai bản năng ấy. Con người có thể ăn quá nhiều, uống quá nhiều, và thân thể sẽ trở nên béo phì. Cũng có thể có những thái quá của bản năng tính dục; bản năng bị dùng sai chỗ. Cũng như lạm dụng bản năng ăn uống có thể làm hư hoại sức khỏe, lạm dụng bản năng tính dục có thể làm nảy sinh một tâm trí bị nhục dục khống chế. Người ta thường không đưa rác rưởi vào dạ dày, nhưng quá thường xuyên lại đưa rác rưởi vào tâm trí.
Giờ đây, hãy nhìn vấn đề này theo chiều hướng tích cực: người trẻ vì thế không nên nghĩ rằng thôi thúc tình dục họ đang trải qua là điều sai trái. Thôi thúc tình dục mang tính thần linh; nó do trời ban; nó là điều tốt lành! Nó không bao giờ bị uổng phí, ngay cả khi được kiểm soát, bởi vì năng lượng lẽ ra bộc lộ ra bên ngoài về mặt thể lý sẽ được thăng hoa, và có thể biểu lộ theo một cách khác trong lĩnh vực tinh thần và thiêng liêng—điều vốn xảy ra rất thường xuyên.
Chúng ta hãy cố gắng tiếp cận chủ đề này cách xứng đáng với nhân phẩm và tích cực. Trước hết, ta đặt câu hỏi: khiết tịnh hay đức trong sạch là gì? Khiết tịnh là sự tôn kính dành cho mầu nhiệm của tính dục. Nếu dùng thuật ngữ Hy Lạp, ta sẽ dùng từ “bí tích.” Bạn còn nhớ rằng trong trật tự siêu nhiên, mỗi bí tích đều có hai yếu tố: một yếu tố vật chất và một yếu tố thiêng liêng; một yếu tố có thể thấy, nghe hoặc chạm được, và yếu tố kia là yếu tố thần linh. Trong trật tự tự nhiên, tính dục cũng là một mầu nhiệm, bởi vì nó mang hai đặc tính ấy. Tính dục vừa là điều ai cũng biết, lại vừa là điều ẩn kín đối với mọi người. Yếu tố ai cũng biết nơi mỗi người là họ hoặc nam hoặc nữ; còn yếu tố vô hình, huyền nhiệm của tính dục chính là khả năng sáng tạo, một sự tham dự nào đó vào quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa.
Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa vì tình yêu của Ngài. Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào người nam và người nữ để, như một ân ban nhưng không, họ trở thành những người đồng sáng tạo với Thiên Chúa. Trong thân thể chúng ta có những vận hành không lệ thuộc vào tự do. Hô hấp, tiêu hóa và tuần hoàn phần lớn là vô thức và không tự ý; chúng diễn ra độc lập với ý chí của ta. Nhưng để sáng tác một bài thơ, tạc nên một pho tượng, hay sinh ra một đứa trẻ thì lại là một hành vi tự do. Thiên Chúa đã trao ban một lệnh truyền: “Hãy sinh sôi nảy nở” (St 1,28). Chúng ta được sai vào thế gian này để truyền ngọn đuốc đến cho thế hệ sau—ngọn đuốc của sự sống—và Thiên Chúa đã đặt ngọn đuốc ấy trong tay chúng ta, để nó cháy lên cách có kiểm soát, hướng về mục đích và cùng đích do chính Ngài ấn định. Đức trong sạch là sự tôn kính dành cho mầu nhiệm của tính dục, và mầu nhiệm của tính dục chính là khả năng sáng tạo.
Mọi khả năng sáng tạo đều được bao bọc bởi niềm tôn kính trước mầu nhiệm và được trao ban cho người nam và người nữ. Từ xưa đã có một mối liên hệ giữa tôn giáo và sự hiệp nhất của người nam và người nữ—không chỉ trong Kitô giáo mà cả nơi mọi dân tộc ngoài Kitô giáo. Họ tin rằng quyền năng sáng tạo vĩ đại này cần được bao bọc, bằng cách nào đó, bởi sự chuẩn nhận mang tính tôn giáo. Nếu hiểu đúng mầu nhiệm này, ta sẽ thấy: trong các bí tích, chúng ta là phàm nhân dâng lên Chúa hành vi, bánh, nước và lời nói, cũng như trong tính dục, người nam và người nữ cung cấp phần xác, còn Thiên Chúa ban phần mầu nhiệm. Chính ý thức về mầu nhiệm, sự tôn kính và niềm kính sợ ấy khiến các bạn trẻ tự nhiên e dè trước việc trao hiến quá sớm bí mật này. Một trong những lý do khiến người nam tự nhiên cư xử hào hiệp với người nữ không phải vì anh ta nghĩ rằng nàng yếu hơn về thể lý, mà vì niềm kính sợ anh cảm nhận khi đứng trước mầu nhiệm.
Vì sao tính dục không thể được sử dụng ngoài hôn nhân? Bởi vì có những quyền năng chỉ được sử dụng trong những mối tương quan nhất định. Điều hợp pháp trong một tương quan thì không hợp pháp trong một tương quan khác. Một người lính có thể giết đối phương trong một cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhưng không thể làm điều đó với tư cách cá nhân là một công dân. Một cảnh sát có thể bắt giữ ai đó với tư cách là người được pháp luật ủy quyền, có trát hợp lệ.
Khả năng sáng tạo của người nam và người nữ chỉ hợp pháp trong một mối tương quan được Thiên Chúa chuẩn nhận, gọi là hôn nhân. Đức trong sạch không bao giờ tách rời hai điều ấy. Những gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly. Đức trong sạch không chỉ là sự toàn vẹn thể lý. Nơi người nữ, đó là quyết tâm vững vàng không sử dụng quyền năng ấy cho đến khi Thiên Chúa gửi đến cho nàng một người chồng; nơi người nam, đó là ước muốn kiên định chờ đợi thánh ý Thiên Chúa, để Người ban cho anh một người vợ, hầu quyền năng ấy được sử dụng theo mục đích của Thiên Chúa.
Đức trong sạch khởi đi từ ý chí, rồi từ đó lan tỏa ra ngoài, thanh luyện trí tưởng tượng và sau cùng là thân xác. Đời sống chỉ trở nên ô uế khi ý chí bị ô uế. Bạn biết đức trong sạch chính là người giữ cửa và bảo vệ của tình yêu.
Chúng ta không muốn thấy lá cờ quốc gia bị giẫm dưới chân, bởi vì lá cờ ấy mang một mầu nhiệm; nó tượng trưng cho điều gì đó vượt quá chính nó. Người trong sạch bị sốc trước sự ô uế, bởi vì ô uế là việc biến điều thánh thiêng thành món hàng, khiến cái đáng tôn kính trở nên bất kính. Cốt lõi của mọi sự tục tĩu là biến mầu nhiệm ẩn giấu thành trò đùa. Có một sự hiện diện ẩn giấu của Thiên Chúa nơi mỗi con người, cũng như có một sự hiện diện thần linh ẩn giấu trong Bánh trên bàn thờ.
Mỗi con người, theo một nghĩa nào đó, trở thành một Bánh Thánh đã được thánh hiến—không phải như Bánh Thánh trên bàn thờ, nhưng bởi vì đức trong sạch, hay trinh khiết, là một tình cảm đã được thánh hiến. Hãy lưu ý: chúng ta đang trình bày điều này theo hướng tích cực, chứ không tiêu cực. Một chàng trai gắn bó với một cô gái, tận hiến cho những lý tưởng của nàng và cho cuộc hôn nhân của họ. Tình yêu khơi nguồn cho đức ái, đức khiết tịnh và sự thanh sạch.
Chúng ta muốn mô tả mối nguy hiểm của việc tách rời tính dục khỏi tình yêu, khỏi mục đích của nó và khỏi khả năng sáng tạo. Giả sử một nhạc trưởng của dàn nhạc bỗng trở nên quá ý thức về đôi tay mình, chăm chú vào cách ông cầm chiếc đũa chỉ huy. Bạn nghĩ điều đó có ảnh hưởng đến âm nhạc không? Nhưng nếu ông tập trung vào bản nhạc, vào dàn nhạc và vào việc tạo nên sự hòa âm, thì mọi sự sẽ tự nhiên vào đúng chỗ. Khi ấy, ông không còn ý thức về bàn tay nữa.
Khi tính dục trở thành một phần của tình yêu và của mục đích đời sống, nó trở thành một sự tận hiến và hòa nhập vào toàn thể. Tính dục không phải là điều bị cô lập khỏi đời sống. Tự chủ là việc quy phục một phần vào toàn thể để phục vụ một động lực, một khát vọng cao cả hơn. Khi được hiểu đúng, đức trong sạch làm cho tình yêu và bản năng tính dục hòa hợp với nhau. Việc rước lễ thường xuyên là sự bảo đảm vững chắc nhất cho đức trong sạch bởi vì khi ấy tính dục được đặt trong bối cảnh của tình yêu.
Chúng ta đã nói rằng đức trong sạch là tiền sảnh, là người giữ cửa của tình yêu. Khi chúng ta yêu mến Chúa, khi chúng ta cảm nhận được niềm hoan lạc sâu xa phát sinh từ việc rước lễ và từ sự kết hợp nên một với Đấng Cứu Độ, thì mọi phần nơi con người chúng ta—bản năng đói và bản năng tính dục—đều trở thành một phần của tình yêu ấy. Chính tình yêu khơi dậy khiết tịnh, chứ không phải ngược lại.
Từ khi chúng ta còn là trẻ nhỏ vừa đạt tới tuổi khôn cho đến lúc tuổi già, chính tình yêu Thiên Chúa làm cho mọi hình thức yêu thương khác—kể cả tình yêu vợ chồng—trở nên dễ hiểu. Ai yêu sự ngay thẳng thì không cần phải được dạy là đừng trộm cắp. Ai yêu tha nhân thì không cần phải được bảo là đừng làm hại họ. Bất cứ ai yêu mến Thiên Chúa, yêu con người và yêu mầu nhiệm của sự sáng tạo thì không cần phải được bảo là “đừng làm điều này, đừng làm điều kia.” Chúng ta đang yêu mến mầu nhiệm. Tính dục chính là sự tôn kính dành cho mầu nhiệm của khả năng sáng tạo.
0 comments:
Post a Comment