Giờ đây chúng ta sẽ thảo luận về Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Khi tôi đang chuẩn bị cho bài nói chuyện về Chúa Ba Ngôi, có hai ý kiến phản đối nảy ra trong đầu tôi mà các bạn có thể đã nêu ra liên quan tới tội nguyên tổ, và bây giờ chúng ta hãy cùng nhau thảo luận cách ngắn gọn về điều đó. Một ý kiến phản đối là như sau: “Tại sao tôi lại phải chịu đau khổ vì tội của Adam? Tôi đâu có liên quan gì tới ông ấy. Tôi không có dính líu gì với tội ông ấy cả”. Câu trả lời là thế này: Bạn có liên quan đấy. Và chính tôi cũng thế. Chúng ta đều có liên can đơn giản vì Adam là đầu của toàn thể loài người. Một dòng sông bị ô nhiễm ngay tại thượng nguồn sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ dòng chảy. Khi cha mẹ bị nhiễm một thứ bệnh tật nào đó, thì căn bệnh cũng sẽ được truyền cho con cái. Khi vị tổng thống tuyên chiến với một quốc gia nào đó, thì tất cả chúng ta cũng ở trong tình trạng chiến tranh bởi vì vị tổng thống là người lãnh đạo đất nước. Adam là đầu của toàn thể nhân loại. Những gì ông ấy đã làm thì chúng ta cũng làm. Cũng như sự ác một người gây ra có thể ảnh hưởng toàn thể đất nước, thì sự thiện và danh dự của vị người cha cũng ảnh hưởng tới toàn thể gia đình. Sự bất tuân của một người, là Adam, cũng hưởng tới toàn thể chúng ta. Thiên Chúa, vì lòng nhân hậu của Người, đã sửa chữa sai lỗi đó ngang qua sự vâng phụ của Adam mới, chính là Chúa Giêsu của chúng ta.
Ý kiến phản đối thứ hai bác bỏ tội nguyên tổ là: “Tại sao tôi lại đánh mất những ơn lành mà Adam đã lãnh nhận chỉ vì ông ấy đã phạm tội? Liệu Thiên Chúa có bất công hay không khi Người tước đi nơi tôi mọi ân huệ tôi có thể được thừa kế từ Adam, chỉ vì ông đã phạm tội?” Phải nhớ rằng ở đây không hề có bất công nào cả, bởi vì bất công là tước đoạt của người khác những gì thuộc về họ. Khi Adam phạm tội, ông ấy chỉ đánh mất ân huệ Chúa ban, chứ không mất những gì thuộc về bản tính loài người của ông. Vào Lễ Giáng Sinh, hẳn là bạn sẽ tặng quà cho thân hữu mình. Nhưng nếu bạn không tặng họ bất cứ thứ gì cả, thì bạn cũng chẳng hề tước đoạt gì nơi họ. Hơn nữa, dù cho ta đã đánh mất ân huệ, nhưng ta được nhận lại tất cả. Chúng ta được trở về hiệp thông với Thiên Chúa nhờ ân sủng. Những ân huệ khác mà Adam đánh mất, chúng ta sẽ không nhận lại được cho tới ngày xác loài người sống lại, và khi đó chúng ta được nhận lại nhiều hơn những gì đã đánh mất! Đúng như lời vị linh mục thầm thĩ khi ngài rót chút nước vào chén rượu lúc Dâng lễ vật, Mirabiliter condidisti et mirabilius reformasti. “Những gì Chúa đã tạo nên tốt đẹp, Người còn biến đổi tốt đẹp hơn nữa”.
Thôi hãy bỏ qua những ý kiến phản đối trên mà đi vào Mầu Nhiệm Ba Ngôi Cực Thánh. Bạn biết cách chúc lành cho bản thân mình đấy: “Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen”. Khi bạn nói: “Nhân danh Cha”, bạn đưa tay lên trán. “Và Con”, bạn đưa tay xuống ngực. “Và Thánh Thần”, bạn đưa tay qua vai trái trước, rồi sang vai phải. Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần, Amen. Hãy nhớ là khi làm thế, bạn đã vẽ lên dấu thánh giá, dấu chỉ ơn cứu độ của chúng ta. Bạn được thánh tẩy nhân danh Chúa Ba Ngôi, và Chúa Giêsu thường hay nói về điều đó khi Người bảo: “Anh em hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần” (Mt 28, 19). Chúa chúng ta không nói “nhân các danh”. Nhưng Người bảo “nhân danh”, bởi vì chỉ có một bản tính, bản tính Thiên Chúa. Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi có nghĩa là có ba ngôi vị trong Thiên Chúa, và chỉ có một bản tính mà thôi.
Không cần phải đi sâu vào tìm hiểu thế nào là bản tính và ngôi vị, nhưng bản tính trả lời cho câu hỏi “cái gì?” và ngôi vị trả lời cho câu hỏi “là ai?”. Tôi nhắc lại, Thiên Chúa có ba ngôi vị nhưng chỉ một bản tính. Ngôi vị nơi Thiên Chúa không đồng nghĩa với ngôi vị trong thế gian này. Do đó, một ngôi trong Ba Ngôi không phải là một ai đó, có tay có chân và cả một chòm râu. Một ngôi vị trong Ba Ngôi có nghĩa là một mối tương quan. Ví dụ, có một con đường nối liền Chicago và New York. Và cũng có một con đường nối liền New York và Chicago. Đó cùng là một con đường, nhưng lại trở thành một con đường khác trong một mối quan hệ khác. Bạn có thấy, từ một thứ duy nhất mà chúng ta có thể tạo ra vô số thứ khác, hay không?
Bạn còn có môn hóa học chứ? Ký hiệu hóa học của nước là H2O. Đó là bản tính của nó. Nước chỉ có một bản tính. Nhưng liệu rằng có thể có nhiều mối tương quan trong cùng một bản tính đó hay không? Tất nhiên rồi, H2O có thể là chất lỏng; nó có thể là băng, và cũng có thể là hơi nước. Có phải chất lỏng có một bản tính khác với H2O hay không? Không. Còn băng thì sao? Không. Còn hơi nước? Cũng không. Cách nào đó, cả ba thứ này chỉ là một, giống như nơi mặt trời luôn tồn tại ba yếu tố: bản thể, ánh sáng và nhiệt năng, nhưng chỉ một mặt trời mà thôi.
Tôi nhớ có lần dành ra cả tiếng đồng hồ trình bày Mầu Nhiệm Ba Ngôi bằng phép loại suy cho một người đang theo học đạo, và tôi kiên quyết bảo rằng đó là một mầu nhiệm. Và khi tôi giảng xong, người phụ nữ tốt lành ấy nói: “Lúc đầu cha bảo đó là một mầu nhiệm. Nhưng giờ đây, đối với con, nó chẳng còn là mầu nhiệm nữa. Cha đã giải thích điều đó rất rõ ràng!”
Tôi trả lời: “Ôi thưa bà, nếu tôi đã giải thích rõ ràng thì tức là tôi đã không giải thích chính xác. Điều đó nên mãi là một mầu nhiệm”.
Có nhiều cách thế tiếp cận chủ đề này. Tôi sẽ khởi động với những gì là phức tạp của sự sống; rồi sau đó, bằng phép loại suy, tôi sẽ dần nâng sự sống lên tới Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi. Nó sẽ trông như thể lời giải thích của tôi vẫn còn cách xa mầu nhiệm ấy hàng triệu dặm đường, nhưng xin hãy kiên nhẫn với tôi. Tôi hy vọng lời giải thích sẽ không giống như vị luật sư tranh luận cách khó hiểu trước quan tòa, bằng cách kê ra một chuỗi dài các vụ án, phán quyết pháp lý và tiền lệ. Để rồi ông ta nghi là mình chưa làm rõ vấn đề nên mới bảo với quan tòa rằng: “Thưa quý tòa, ngài có hiểu tôi nói gì không?”
Và quan tòa đáp: “Có chứ, nhưng nếu mà tôi biết đường về thì tôi sẽ bỏ anh lại đấy!”
Vậy nên tôi xin các bạn, hãy kiên nhẫn với tôi.
Sự sống được gắn kết cách huyền nhiệm với mọi niềm vui và cùng đích của đời ta, vừa ly kỳ vừa buồn bã. Đôi lúc, sự sống dường như là ân huệ vĩ đại nhất trong mọi ân huệ, nhưng lúc khác nó xem ra lại là gánh nặng to lớn nhất. Sự sống, thứ mà tôi hiểu rõ nhất nhưng cũng đồng thời là thứ tôi mơ hồ nhất, là gì? Đáp án hiển nhiên trước hết đến từ những sự thường thấy xung quanh chúng ta. Chúng ta luôn liên kết sự sống với một số chuyển động hay hành vi nào đó. Nếu chúng ta thấy một con vật nằm bất động trên cánh đồng, hình ảnh ấy sẽ khơi lên nghi ngờ là có thể nó đã chết bởi vì chẳng hề có chuyển động nào cả. Khi một đứa trẻ tràn đầy niềm vui và sự phấn khởi, chúng ta bảo đứa trẻ ấy tràn trề sức sống. Hãy lưu ý rằng chúng ta liên kết sự sống với chuyển động. Khi bạn tìm đến một định nghĩa mang tính khoa học hơn, bạn nhận thấy rằng chuyển động hay hành vi phải là thứ được gọi là nội tại; nó phải ở bên trong sự vật.
Còn có một dạng chuyển động khác, gọi là ngoại tại; ví dụ, ánh sáng dường như phát ra từ phốt pho. Nhiệt lượng tỏa ra từ bộ tản nhiệt, vốn không có khả năng tự tạo ra nhiệt; nó chỉ được truyền vào từ bên ngoài. Than đá có hoạt động hoàn toàn ngoại tại, và rađium cũng thế. Một viên đá lăn từ trên đồi xuống cho hoạt động ngoại tại. Mặt khác, sự sống lại sở hữu một dạng hoạt động khác được gọi là nội tại, vốn xuất phát từ bên trong.
Chúng ta hãy thử tìm ra một quy luật liên quan tới sự sống. Hãy ghi chú cẩn thận điều này: hoạt động nội tại càng lớn bao nhiêu, sự sống càng cao bấy nhiêu. Nói cách khác, hoạt động càng diễn ra bên trong vật sống bao nhiêu thì vật đó càng cao cấp bấy nhiêu. Như bạn đã biết, toàn thể công trình tạo dựng giống như một kim tự tháp. Dưới đáy kim tự tháp là trật tự hóa học vật chất; rồi đến thực vật, động vật, con người, thiên thần và Thiên Chúa.
Chúng ta sẽ áp dụng quy luật này. Nó phổ quát đến mức nó có thể được chứng thực trong mọi trật tự. Như đã biết, một hòn đá không có hoạt động nội tại, mặc dù khi Michelangelo hoàn tất bức tượng Môsê, ông ta dùng chiếc đục đập vào bức tượng và bảo: “Hãy nói đi!”, bức tượng ấy trông sống động đến mức nó có thể cất tiếng, nhưng nó không hề có hoạt động nội tại. Nhưng thực vật thì có hoạt động nội tại. Chúng có một “cái miệng” để hấp thu mọi yếu tố cần thiết cho sự sống từ Mẹ Thiên Nhiên. Đối với động vật, chúng sở hữu sự sống cao cấp hơn thực vật. Thực vật có năng lực sinh trưởng; nó có năng lực sinh sản, năng lực sản sinh ra hạt giống. Còn động vật có tới hai năng lực nội tại mà thực vật không hề có. Một là khả năng di chuyển, và hai là khả năng nhìn, nếm, rờ chạm và ngửi, vốn được gọi là hoạt động giác quan. Một cái cây không thể quyết định sẽ di cư từ New York tới Florida hay California vào mùa đông. Nhưng một con vật có thể chạy từ chỗ có nắng sang chỗ có bóng râm. Nhờ vào khả năng tri giác, loài vật có thể thu nhận thế giới xung quanh vào bên trong nó. Thú vật sở hữu một thế giới nội tại; một con chó có thể nhận biết giọng của chủ nó.
Còn đối với con người, chúng ta có một kiểu hoạt động cao cấp hơn nữa không? Có chứ, đó là suy tư và ước muốn. Con người có tất cả mọi hoạt động nội tại của động thực vật, nhưng còn có một thứ gì khác mà chúng không có: đó là tri thức và tình yêu. Trước hết, con người suy tưởng về những điều như là niềm tin, công lý, hy vọng, tương quan và lòng cương nghị. Những tư tưởng ấy đến từ đâu? Chúng không hề xuất phát từ thế giới bên ngoài. Bạn không bao giờ tìm ra niềm tin từ một chuyến đi dạo. Bạn không bao giờ tìm thấy sự kiên cường trong việc ăn đồ tráng miệng. Bạn không bao giờ tìm thấy một mối tương quan từ việc leo một ngọn đồi. Vậy những ý tưởng đó đến với bạn từ đâu? Thưa, chính tâm trí bạn sản sinh ra chúng. Tâm trí bạn rất phong nhiêu. Đừng nghĩ rằng kiểu sinh sản duy nhất trên đời này là khi động vật hay con người sinh con đẻ cái. Có một dạng sinh sản tinh sạch nơi tâm trí, là khả năng sản sinh ra tư tưởng hay lời nói.
Khi tâm trí sảnh sinh ra tư tưởng, điều nó sản sinh không hề rời xa nó như trái táo rơi khỏi cây táo, như thú con ra khỏi dạ thú mẹ khi sinh. Hoa trái của tâm trí chúng ta vẫn ở lại trong tâm trí. Điều chúng ta cần làm là đi vào trong tâm trí và tìm thấy nó. Tư tưởng thì khác biệt với tâm trí, nhưng chúng lại không tách biệt nhau. Khi tôi muốn tìm kiếm một tư tưởng nào đó, tôi quay trở về với tâm trí tôi. Nhưng tôi không đi tìm tư tưởng như cách tôi đi tìm sách trên kệ đâu.
Chúng ta có một ý chí, và do đó chúng ta có thể lựa chọn. Chúng ta có thể yêu, và nhờ có ý chí, chúng ta có năng lực yêu mến những gì chúng ta nghĩ tưởng. Chúng ta có thể yêu mến sự thật trong tâm trí mình. Chúng ta không phải lúc nào cũng cần phải yêu mến những sự bên ngoài chúng ta. Điều kỳ diệu nơi ý chí chúng ta là những gì chúng ta thương mến, giống như tư tưởng, đều có thể hiện diện cách nội tại bên trong chúng ta.
Giờ đây chúng ta hãy đến với Thiên Chúa. Thiên Chúa là Sự Sống hoàn hảo; vì thế, Người có hoạt động nội tại hoàn hảo. Tôi nhấn mạnh là “hoạt động nội tại hoàn hảo”. Bởi Người là Đấng Thần Linh, nên chúng ta chỉ có thể phần nào hiểu hoạt động nội tại hoàn hảo nơi Người thông qua chính những kinh nghiệm của chúng ta; cụ thể là từ hai năng lực là lý trí và ý chí của chúng ta. Chúng ta phải tìm vào bên trong chính mình để có thể nhận thấy những nét tương đồng mờ nhạt nơi sự sống thần linh. Những gì tâm trí chúng ta thực hiện là nghĩ tưởng và yêu thương. Còn Thiên Chúa thì suy tưởng về một tư tưởng hay một lời nói khác biệt với Người, nhưng lại không hề tách biệt với Người, cũng giống như tư tưởng của tôi không tách biệt với tâm trí tôi, mặc dù nó khác biệt với tâm trí. Tôi cũng như bạn, chúng ta có nhiều tư tưởng, nhưng Thiên Chúa thì chỉ có một tư tưởng duy nhất. Và trong tư tưởng đó chứa đựng trọn vẹn mọi thứ tri thức. Thiên Chúa không cần lời nào cả ngoại trừ một lời duy nhất, và lời đó chính là hình ảnh và là nét huy hoàng của hữu thể Người.
Chúng ta hãy nhớ lại những gì đã chép trong Tin Mừng theo thánh Gioan, “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta” (Ga 1, 14). Đấng Ngôi Lời đã làm người ấy là ai? Thưa, chính là Con Thiên Chúa, Ngôi Hai trong Ba Ngôi, tư tưởng của Thiên Chúa. Tại sao chúng ta gọi Người là Con Thiên Chúa? Điều đó không khó trả lời. Tôi đã chẳng nói rằng bạn sản sinh tư tưởng hay lời nói nơi tâm trí mình hay sao? Tôi đã chẳng nói rằng có một sự sản sinh cao cấp hơn sự sản sinh về mặt xác thịt hay sao? Thiên Chúa đã sinh ra một Lời vĩnh cửu.
Bây giờ, chúng ta hãy áp dụng điều đó cho loài người. Chúng ta gọi nguyên lý của sự sinh sản là gì? Là người cha, có phải không? Còn thuật ngữ chỉ sự được sinh ra trong trật tự trần thế được gọi là gì? Là người con. Thay vì gọi Thiên Chúa, Đấng suy tưởng, là Đấng Suy Tư, và thay vì gọi tư tưởng hay lời của Thiên Chúa là tư tưởng, tại sao chúng ta lại không gọi Đấng suy tưởng là Cha? Và tại sao chúng ta không gọi Thiên Chúa, hoặc Đấng là chính Tư Tưởng của Cha, là Con? Vậy nên Ngôi Lời làm người được gọi là Con. Vịnh gia có viết: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con” (Tv 2, 7). Con Thiên Chúa, Đấng trở nên Con của loài người, là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Chúng ta hãy sử dụng một phép loại suy khác. Chúng ta có Ngôi Ba trong Ba Ngôi Chí Thánh. Chúng ta đã nói rằng chúng ta không những nghĩ tưởng mà còn yêu thương nữa. Tình yêu là một mối tương quan; nó là một chuyển động hướng về “người được yêu” để hiệp nhất người ấy với “người yêu”. Tôi yêu bạn đơn giản vì tôi đang chuyển trao sự thật cho bạn. Tình yêu không phải là thứ gì đó bên trong tôi; tình yêu không phải là thứ gì đó bên trong bạn. Tình yêu là một mối dây huyền nhiệm hiệp nhất cả hai chúng ta. Mặc dù tình yêu khác biệt với tư tưởng, nó phát xuất từ tư tưởng và đồng thời từ chính người đang nghĩ tưởng. Thiên Chúa yêu mến sự hoàn thiện của Người; hữu thể nào cũng yêu mến sự hoàn thiện của nó. Sự hoàn thiện của đôi mắt là màu sắc; và do đó mắt ta yêu thích được nhìn thấy màu sắc. Sự hoàn thiện của đôi tai là sự hài hòa; và đôi tai ta luôn khao khát nghe được sự hài hòa ấy. Sự hoàn thiện nơi dạ dày hệ tại ở đồ ăn; và đó là lý do ta thích ăn uống. Sự hoàn thiện viên mãn của Chúa Cha chính là Chúa Cha. Thiên Chúa Đấng suy tư yêu mến Lời của Người. Chúa Cha yêu thương Chúa Con. Tình yêu không phải là thứ gì đó ở nơi Chúa Cha hay Chúa Con mà thôi.
Tình yêu là một mối dây huyền nhiệm liên kết hai Đấng, và ở đây chúng ta không bàn tới những con người sinh học, nhưng là một điều gì đó vô hạn. Tình yêu không thể biểu lộ chính mình bằng các bài thánh ca, bằng lời nói hay những cái ôm. Nó không thể diễn tả chính mình qua việc so sánh với bất cứ thứ gì trên trần gian này. Nó chỉ có thể bộc lộ chính mình bằng điều biểu thị trọn vẹn sự viên mãn của việc trao ban, cụ thể hơn, là một hơi thở, một điều quá cao vời, quá sâu sắc vượt xa mọi lời nói. Mọi tình yêu sâu thẳm đều không thể diễn tả bằng lời, và tình yêu hiệp nhất Chúa Cha và Chúa Con được gọi là Thần Khí Thánh, Chúa Thánh Thần, Thánh Thần Tình Yêu. Như màu sắc, hương thơm, và vẻ đẹp của bông hồng không làm ra ba bông hồng, nhưng chỉ là một bông duy nhất; cũng như tôi hiện hữu, tôi suy tư, và tôi yêu thương; thế nhưng tôi chỉ có một bản tính duy nhất. Trong một thể thức thâm sâu khôn dò hơn thế nữa, nơi Thiên Chúa có ba ngôi vị, nhưng chỉ một Thiên Chúa mà thôi.
Thiên Chúa có một tình thương bao la vô bờ bến. Thiên Chúa là Sự Sống, Sự Thật và Tình Yêu. Giờ đây ta đã biết Sự Sống là Chúa Cha, Sự Thật là Chúa Con và Tình Yêu là Chúa Thánh Thần.
Và để kết thúc, tôi muốn mượn lời của John Donne mà rằng:
Xin hãy đập vào trái tim con, lạy Ba Ngôi Chí Thánh
Vì Ngài chỉ gõ cửa, chỉ thở hơi, chiếu sáng và tìm cách chữa lành
Xin hãy lật đổ con,để con biết đứng dậy và cúi mình
Xin dùng thần lực mà thanh tẩy con, và làm cho con nên thụ tạo mới
Bởi tâm hồn con như một đô thị thuộc về kẻ khác
Con lao tâm khổ tứ tìm cách đón nhận Người, nhưng thật chỉ hoài công
Ngài đặt vào trong con một lý trí, như người quản đốc, hầu đốc thúc con
Thế mà nay nó đã ra yếu nhược và yêu chuộng thói gian trá
Dẫu thế, con vẫn mến yêu Ngài tha thiết, cũng như vẫn muốn được Ngài yêu thương.
Nay con đã bị gả vào tay kẻ thù nghịch Ngài
Xin gỡ con khỏi cuộc hôn thú đó, xin hủy đi nút thắt dây uyên ương
Hãy mang con về với Ngài, giam con trong trái tim Ngài
Con sẽ chẳng được tự do, nếu không được Ngài làm cho say mến
Và chẳng biết trinh trong là thế nào, nếu Ngài không quyến rũ con.
(HOLY SONNET 14, Divine Poems)

0 Nhận xét