Lúc này đây, trong những mầu nhiệm thần linh về tín điều Kitô giáo, chúng ta sẽ đi đến những đoạn cực kỳ quan trọng trong Kinh Tin Kính. Cụ thể là: Chúa Giêsu “được sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria” (Lc 1, 34). Chúng ta sẽ cố gắng trưng ra một số bằng chứng về điều này, cũng như trình bày cho thấy điều đó cần thiết như thế nào trong công trình cứu chuộc thế giới.
Để có thể hiểu được các chứng cứ, chúng ta cần nhìn nhận rằng các sách Tin Mừng không đứng ở vị trí hàng đầu, mà đó là truyền thống. Mọi tín hữu trong Giáo Hội sơ khai, sau Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống và cho tới khi Sách Tin Mừng được viết ra, đều biết rõ về phép lạ năm chiếc bánh và hai con cá (Mt 15, 32-39), về sự Phục Sinh của Chúa Kitô (Mc 16, 9-20), và về sự sinh hạ đồng trinh của Người (Mt 1, 18-25). Điều đó cũng giống như việc chúng ta biết là Thế chiến thứ nhất diễn ra vào năm 1914. Những sự kiện mà chúng ta đọc thấy trong sách vở không tạo nên niềm tin trong chúng ta. Phải vậy không? Nó chỉ chứng thực điều mà chúng ta đã biết. Vậy nên các Sách Tin Mừng đã thiết lập một cách hệ thống những gì đã trở thành niềm tin chung.
Giả sử là bạn sống vào thời kỳ hai mươi lăm năm đầu của Giáo Hội sau lễ Ngũ Tuần. Làm thế nào để bạn có thể trả lời câu hỏi “làm sao tôi biết phải tin điều gì?” Bạn không thể đáp rằng: “Tôi sẽ tìm trong Kinh Thánh”. Bởi vì bấy giờ sách Tân Ước chưa hề được viết ra. Bạn sẽ phải tin vào điều Giáo Hội đã giảng dạy lúc bấy giờ. Chưa từng có lúc nào Chúa chúng ta bảo các nhân chứng của Người là hãy cầm bút viết sách. Người chỉ viết một lần duy nhất trong đời, và đó là viết trên cát (Ga 8, 6.8). Nhưng Người thật sự có bảo các Tông đồ hãy đi rao giảng nhân danh Người và làm chứng cho Người cho tới tận cùng trái đất (Cv 13, 47). Do đó, những ai tùy tiện trích dẫn các câu trong Tin Mừng nhằm biện hộ cho lập luận cá nhân thì rất thường xuyên cô lập trích đoạn đó khỏi bối cảnh lịch sử của nó, cũng như khỏi truyền thống truyền khẩu vốn lưu truyền chân lý của Chúa Kitô.
Khi được viết ra, các Sách Tin Mừng đã ghi lại một truyền thống vốn đã có đó. Các thánh sử không hề tạo ra truyền thống ấy. Sau một thời gian, người ta bắt đầu viết truyền thống thành văn tự, và điều này lý giải những gì đã được viết ở đầu sách Tin Mừng theo thánh Luca. Ngài viết rằng: “mong ngài sẽ nhận thức được rằng giáo huấn ngài đã học hỏi thật là vững chắc” (Lc 1, 1-4). Thánh sử giả định rằng các tín hữu đã được giáo huấn rồi. Sách Tin Mừng không sinh ra Giáo Hội, nhưng chính Giáo Hội đã sinh ra các Sách Tin Mừng. Giáo Hội không xuất phát từ các Sách Tin Mừng; nhưng chính các Sách Tin Mừng đã phát xuất từ Giáo Hội. Giáo Hội có trước các Sách Tin Mừng, chứ các Sách Tin Mừng không có trước Giáo Hội. Không phải bởi vì các thánh sử chép là Chúa đã Phục Sinh mà người ta tin vào điều đó. Đúng hơn, chính vì các thánh sử đã tin nên họ mới ghi chép lại câu chuyện Tử nạn và Phục Sinh của Chúa Giêsu.
Cũng thế, Giáo Hội không tin vào sự sinh hạ đồng trinh chỉ vì Sách Tin Mừng kể cho chúng ta biết là có một sự sinh hạ như vậy; nhưng đúng hơn, ấy là bởi vì Ngôi Lời Hằng Sống của Thiên Chúa, trong Nhiệm Thể của Người là Giáo Hội, đã tin và các thánh sử đã chép lại vào trong Tin Mừng. Nếu các Tông đồ, những người đã cùng sống với Chúa chúng ta, đã nghe Người giảng dạy công khai trên các ngọn đồi và trong Đền Thánh, nếu các ngài không giảng dạy về sự sinh hạ đồng trinh, thì không một ai khác có thể dạy về điều đó; sẽ không có một người nào ghi chép lại về biến cố ấy. Bởi một biến cố như thế là quá đỗi khác thường so với trí tưởng tượng của con người. Theo lẽ thường, thật khó để chấp nhận rằng biến cố ấy đã xảy ra, nếu như nó chẳng đến từ chính Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Theo lẽ tự nhiên, người duy nhất có khuynh hướng nghi ngờ về sự sinh hạ đồng trinh chính là người đã viết về biến cố ấy trong sách Tin Mừng của mình, cụ thể là thánh Luca. Tôi nhấn mạnh là “theo lẽ tự nhiên”, bởi vì thánh Luca là một y sĩ, ấy thế mà chính vị y sĩ đó đã ghi chép lại cuộc sinh hạ đồng trinh và kể lại biến cố ấy cho chúng ta (Lc 1, 26-38). Những kẻ lạc giáo đã khước từ nhiều điểm giáo huấn của Chúa Giêsu bởi vì đã có những sự chống đối Người và Giáo Hội ngay từ thuở ban đầu. Những kẻ lạc giáo này chối bỏ một số giáo lý của Người, thế nhưng có một giáo huấn ngay từ thời sơ khai không hề bị chúng bác bỏ, và đó chính là giáo huấn về Chúa chúng ta được sinh bởi một trinh nữ. Người ta sẽ cho rằng đây sẽ là điểm giáo lý đầu tiên bị công kích, nhưng thực tế cho thấy biến cố sinh hạ đồng trinh đã được cả các tín hữu lẫn những kẻ lạc giáo đón nhận. Nếu như có kẻ vốn không hề tin Chúa Kitô là Thiên Chúa, thì sẽ thật là ngớ ngẩn khi cố công thuyết phục hắn ta tin vào sự sinh hạ đồng trinh của Người. Và đó chắc hẳn là lý do vì sao Đức Maria không hề kể về biến cố ấy, mãi cho tới ngày Chúa Phục Sinh vinh hiển.
Ở đây chúng ta thường nghe thấy hai lập luận chống đối như sau: “Sách Tin Mừng có chép rằng Chúa chúng ta có anh em, phải không? Nếu Người có anh em, vậy Đức Maria phải có những người con khác, và do đó Bà ấy không thể mãi là trinh nữ”. Chúng ta sẽ cố đưa ra một vài câu trả lời. Tôi thường xuyên đứng trên bục giảng và mở đầu bài giảng của mình thế này: “Anh chị em thân mến”. Liệu điều đó có nghĩa là tất cả mọi người trong cộng đoàn đều có cùng một mẹ hay không, hay đó chỉ là một cách nói mà thôi? Nghĩa rộng của từ “anh chị em” trong ngôn ngữ hiện đại đã được các thánh sử sử dụng. Trong sách Sáng Thế, chúng ta đọc thấy rằng từ “anh em” có nghĩa là một người họ hàng, đôi lúc còn là một người bạn; ví dụ, Abraham gọi Lot là anh em, như sách Sáng Thế có chép: “Sao cho đừng có chuyện tranh chấp giữa bác và cháu, giữa người chăn súc vật của bác và người chăn súc vật của cháu. Vì chúng ta là anh em họ hàng với nhau” (St 13, 8). Ông Lót không phải là anh em với ông Abraham, nhưng là cháu; và đó là cách Kinh Thánh dùng để diễn tả bạn bè và họ hàng thân hữu.
Có một số người được nhắc tên trong Kinh Thánh như là anh em của Chúa Kitô, ví như Giacôbê, nhưng họ cũng được xác định là con của một bà Maria nào đó. Bà ấy là chị của thân mẫu Chúa chúng ta, vợ của ông Clêôphát (Ga 19, 25). Ông Giacôbê được thánh Phaolô mô tả là người anh em của Chúa, như thánh Tông đồ có chép rằng: “Tôi đã không gặp một vị Tông Đồ nào khác ngoài ông Gia-cô-bê, người anh em của Chúa” (Gl 1, 19). Nhưng vị Giacôbê này thường xuyên được kể tên trong số các Tông đồ, với tư cách là con của ông Anphê (Mt 10, 3). Bạn sẽ tìm thấy ghi chép về điều này trong Tin Mừng Nhất Lãm. Hơn nữa, những người được gọi là anh em của Chúa không hề được Sách Thánh nhắc tên trong tư cách là con cái của thánh Giuse và Đức Maria. Không đâu trong Kinh Thánh có ghi chép rằng thánh Giuse đã sinh ra các anh chị em của Chúa Giêsu, và cũng không đâu có viết rằng Đức Maria có những đứa con khác ngoài Người Con chí thánh của mình.
Ở đây chúng ta gặp thấy một số chứng cứ độc đáo về sự sinh hạ đồng trinh trong Kinh Thánh, độc lập với những dẫn chứng đã quá rõ ràng trong Tin Mừng Luca. Chúng ta sẽ rút hai trong số các chứng cứ này từ trong Tin Mừng Gioan và trong các thư của thánh Phaolô.
Thánh Gioan mặc nhiên khẳng định sự sinh hạ đồng trinh; luôn có một sự mặc định về hai cuộc sinh hạ trong sách Tin Mừng ngài đã trước tác. Chúng ta được sinh ra bởi cha mẹ mình, và chúng ta cũng được sinh ra bởi Thiên Chúa nhờ vào dòng nước Thánh Tẩy trong Bí tích Rửa Tội. Hãy nhớ là Chúa Giêsu đã có ý nói tới điều này khi Người bảo ông Nicôđêmô rằng ông cần phải được sinh ra một lần nữa: lần sinh hạ đầu tiền là từ trong lòng mẹ, theo xác thịt, và lần sinh hạ thứ hai là bởi nước và Thần Khí (Ga 3, 1-21). Điều khiến chúng ta trở nên Kitô hữu không đến từ việc được cha mẹ sinh ra, nhưng là được Thiên Chúa sinh ra trong Bí tích Rửa Tội.
Hãy nhớ là khi thánh Gioan chép về biến cố Chúa giáng sinh, thực tế ngài đã mặc nhiên khẳng định sự sinh hạ đồng trinh rồi. Ngay từ đầu sách Tin Mừng, thánh sử viết rằng Chúa Kitô đã ban cho chúng ta quyền làm con cái Thiên Chúa (Ga 1, 12). Ngài cho chúng ta biết điều này xảy ra nhờ vào một cuộc sinh hạ, nhưng đồng thời và ngay lập tức ngài cũng nhấn mạnh rằng đó không phải là sự sinh hạ theo kiểu con người. Rồi sau đó ngài liệt kê các lý do vì sao đó không phải là sự sinh hạ theo kiểu người phàm. Ngài viết: “Họ được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1, 13). Lời khẳng định này của thánh Gioan đã mặc định một nền tảng hiểu biết phổ quát và mang tính Kitô giáo về sự sinh hạ đồng trinh. Máu huyết, ước muốn của nhục thể và ước muốn của đàn ông là gì, nếu chẳng phải là sự sinh hạ theo kiểu phàm nhân. Tất cả những yếu tố này đã bị loại trừ khỏi cuộc sinh hạ của Chúa chúng ta. Chính Đức Mẹ đã bảo rằng Mẹ là người nữ đồng trinh, không hề biết tới nam nhân, và thiên sứ đã nói quyền năng Thiên Chúa sẽ phủ bóng trên Mẹ (Lc 1, 26-38). Bạn cũng sẽ tìm thấy những yếu tố ấy trong hai Sách Tin Mừng của thánh Gioan và thánh Luca. Làm thế nào các Kitô hữu thời ấy hiểu được về sự sinh hạ thiêng liêng, nếu như họ chẳng hề biết gì về sự sinh hạ đồng trinh? Vào cuối thế kỷ thứ nhất, chẳng có ai đọc phần mở đầu Tin Mừng Gioan và cảm thấy ngạc nhiên về việc thánh sử đề cập tới một sự sinh sản mới mẻ, không ngang qua con đường tính dục. Họ không ngạc nhiên, bởi lúc bấy giờ, toàn thể thế giới Kitô giáo đã biết đó chính là cách Kitô giáo được khai sinh. Sự sinh hạ đồng trinh xuất phát từ ý tưởng của Thiên Chúa, chứ không phải bởi người phàm. Và không ai có thể tưởng tượng nổi điều đó nếu như nó đã chẳng xảy ra.
Một chứng cứ khác đến từ các thư của thánh Phaolô. Thánh nhân cũng mặc nhiên khẳng định về sự sinh hạ đồng trinh. Như đã biết, các thư của ngài vốn được viết bằng tiếng Hy Lạp. Khi thánh nhân nói về biến cố Chúa giáng sinh, ngài sử dụng một kiểu diễn tả rất độc đáo trong tiếng Hy Lạp. Thư gửi tín hữu Galát có chép: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ” (Gl 4, 4-5). Hãy chú ý cụm từ “sinh làm con một người phụ nữ”. Nó diễn tả sự sinh hạ dưới quyền chi phối của lề luật, nhằm biến chúng ta trở thành dưỡng tử. Bất cứ khi nào thánh Phaolô mô tả cuộc sinh hạ của Chúa chúng ta, ngài không bao giờ sử dụng từ ngữ thông thường để mô tả việc sinh con. Nói cách khác, ngài không bao giờ sử dụng từ ngữ diễn tả sự sinh con theo kiểu người phàm, vốn là kết quả của sự nên một trong thân xác giữa người nam và người nữ - một từ rất hay được dùng trong mọi bản văn khác của Tân Ước.
Từ thông dụng trong tiếng Hy Lạp vốn là một dạng của từ “gennao”, diễn tả một sự sinh hạ như cách mà tôi và bạn chào đời vậy. Nhưng thánh Phaolô, trong bốn trường hợp, đã nói về khởi đầu theo thời gian của Chúa chúng ta. Hãy nhớ rằng Người mang ngôi vị vĩnh cửu; chỉ có nhân tính của Người là có khởi đầu. Trong bốn trường hợp mà thánh Phaolô đã đề cập tới khởi đầu theo thời gian của Chúa chúng ta, trong tư cách phàm nhân, thánh Tông đồ đã sử dụng một từ Hy Lạp hoàn toàn khác bởi vì cuộc giáng sinh của Chúa không giống sự sinh hạ theo kiểu thường tình. Người sử dụng một số dạng của từ “ginoma”. Ngài không hề sử dụng từ ngữ diễn tả sự chào đời thường thấy, như của mọi phàm nhân, để diễn tả sự giáng sinh của Chúa Kitô. Trái lại, ngài sử dụng một từ mang ý nghĩa là “trở thành” (to become) hoặc “bước vào hiện hữu” (come into existence).
Một ví dụ rất lý thú cho điều này là trích đoạn thư Galát chương 4, câu 23 đến 29. Trong thư này, thánh Phaolô có ba lần sử dụng một từ mang nghĩa là được sinh ra theo nghĩa thông thường. Ngài dùng từ ấy để diễn tả sự chào đời của Ítmaên và sự khai sinh của dân tộc Israel. Nhưng khi nói đến cuộc sinh hạ của Chúa chúng ta, ngài không dùng từ ấy nữa, mà là một từ khác, một dạng của động từ “ginomai”, bởi đây là một cuộc sinh hạ đồng trinh.
Tân Ước có ghi chép lại tới ba mươi ba lần sự chào đời của một đứa trẻ, và trong mỗi trường hợp như thế Tân Ước sử dụng từ “gennao”, nhằm ám chỉ sự chào đời bình thường như bạn và tôi, nhưng từ ấy lại không hề được dùng để diễn tả sự sinh hạ của Chúa Giêsu. Chúa chúng ta, trong tư cách một con người, đã được sinh ra từ đời đời. Xét vì Người đã đảm nhận lấy nhân tính, nên Người đã được sinh ra trong thời gian – phải, người có một khởi đầu, và sự sống của Người khởi đầu từ một trinh nữ.
Bạn thấy đấy, lý do giải thích cho sự khác biệt này là như sau: Chúa Kitô đã nhập thể vào trong gia đình nhân loại, chứ Người không từ nhân loại mà ra. Thiên Chúa dựng nên Adam, con người đầu tiên, mà không cần đến hạt giống của nam nhân, vậy tại sao chúng ta lại ngần ngại trước ý tưởng rằng Adam mới cũng được tạo thành mà không cần đến hạt giống người nam? Như Adam cũ được dựng nên từ đất và được phú ban một linh hồn sống động, vậy thì Thần Khí Chúa cũng đã tạo nên thân thể Chúa Kitô nơi cung lòng Đức Maria. Truyền thống Kitô giáo về sự sinh hạ đồng trinh đã bám rễ vững chắc đến nỗi các nhà hộ giáo thời sơ khai không cần phải bảo vệ tín điều ấy. Ngay cả những kẻ lạc giáo cũng tin vào điều đó, bởi nó được xây dựng trên nền tảng vững chắc như một dữ kiện lịch sử.
Tiếp theo lại là một điểm thú vị khác. Có hai trình thuật sinh hạ nơi các Sách Tin Mừng: sự sinh hạ của Chúa Kitô (Lc 2, 1-7) và của Gioan Tẩy Giả (Lc 1, 57-58), nhưng bạn hãy chú ý đến sự khác biệt về trọng tâm. Câu chuyện về thánh Gioan Tẩy Giả xoay quanh người cha của ngài là ông Dacaria. Còn câu chuyện về cuộc sinh hạ của Chúa Giêsu lại tập trung nơi người mẹ. Tại sao lại tập trung nơi người mẹ? Một lần nữa, chính bởi vì đó là một cuộc sinh hạ đồng trinh. Bạn có thể tự hỏi rằng: “Tại sao lại phải là một sự sinh hạ đồng trinh chứ? Chẳng lẽ Chúa chúng ta lại không thể đến trong trần gian bằng cách khác hay sao?”. Chắc chắn rồi! Thậm chí Người cũng chẳng cần phải được sinh ra đâu. Tuy nhiên, nếu xét theo trật tự hiện tại, tại sao lại phải là một cuộc sinh hạ đồng trinh?
Chúng ta đã đi tới điểm bắt đầu hơi khó hiểu một chút, và tôi hy vọng là tôi có thể cắt nghĩa được điều này. Lý do khiến chúng ta tin vào sự sinh hạ đồng trinh, và lý do tại sao, xét theo trật tự hiện tại, Chúa chúng ta lại chọn cách đó để nhập thể, đó là bởi Người muốn có một cá nhân thật tốt lành thánh thiện để mang Người đi vào trần gian này. Không một vị tướng hay nhà vua nào, sau khi đã chiến thắng khải hoàn, lại tiến vào thành đô trên những con đường bụi bặm, nhưng phải là trên những đại lộ phủ đầy hoa. Nếu như Đấng Thánh Khiết tuyệt đối, thay vì chọn con đường của sự thanh khiết, lại chọn bất cứ cánh cổng nào khác dẫn vào thế giới loài người, hẳn là Người đã gây ra cho chúng ta một trở ngại vô cùng lớn; cụ thể là, nếu như Người đã được sinh ra trong một nhân loại ngập tràn tội lỗi, làm thế nào Người lại là Đấng vô tội cho được? Nếu như một cây cọ, khi được nhúng vào mực đen, sẽ cho ra chữ viết màu đen, và tấm vải khi được nhuộm màu sẽ mang lấy màu thuốc nhuộm, vậy thì chẳng phải Người, dưới cái nhìn của thế gian, cũng đã bị lây nhiễm vết nhơ tội lỗi mà cả nhân loại đang phải mang lấy hay sao? Nếu như Người đã đi vào trần gian ngang qua cánh đồng lúa mì đầy những sự bất toàn yếu đuối, vậy chắc hẳn là trên tấm áo nhân tính của Người cũng đã bị dính mắc những vỏ trấu tội lỗi rồi. Nói cách khác, vấn đề của chúng ta là thế này: Làm thế nào Thiên Chúa lại có thể vừa làm người mà lại vừa không bị ô nhơ tội lỗi?
Trước hết, Thiên Chúa phải làm người. Người phải nên giống chúng ta để có thể liên đới với chúng ta trong nhân tính. Người mang lấy vào thân tội lỗi của chúng ta. Nhưng đồng thời, Người cũng phải là một con người hoàn hảo. Người không thể nào là một tội nhân. Người phải hoàn toàn vô tội. Người phải ở bên ngoài dòng chảy tội lỗi khủng khiếp kia, vốn được truyền từ Adam và nay đang làm băng hoại cả nhân loại. Bạn đã thấy vấn đề chưa? Chúa Kitô phải là người. Người phải khác biệt với mọi con người khác, theo nghĩa Người phải là Đấng Cứu Chuộc chúng ta, và phải hoàn toàn vô tì tích như một Adam mới.
Vấn đề chúng ta đang gặp phải thì cũng giống như vấn đề của một con tàu. Bạn hãy tưởng tượng một con tàu đang đi trên một vùng biển ô nhiễm và hôi thối. Con tàu ấy rất muốn dời sang một vùng biển hay một hồ nước khác gần kề, nơi có dòng nước trong lành thanh khiết. Rõ ràng là cần phải có sự tách biệt nào đó giữa vùng nước bẩn và vùng nước sạch; bằng không thì hai vùng nước sẽ hòa thành một với nhau. Vậy cần phải làm gì? Thông thường người ta sẽ xây một âu thuyền. Tàu bè đi trên vùng biển ô nhiễm sẽ tiến vào chỗ âu thuyền đó – nơi được tách biệt hoàn toàn với vùng nước bẩn – để rồi người ta sẽ nâng tàu lên đi vào trong vùng nước trong lành.
Chúa chúng ta phải liên đới với nhân loại tội lỗi, và sự liên đới ấy chỉ ở trong phương diện Người sẽ là một con người thật sự. Người phải hoàn toàn vô tì tích, nhờ đó Người không cần được cứu chuộc, nhưng sẽ trở thành Đấng cứu chuộc chúng ta. Chúa Kitô đã được nhấc ra khỏi dòng chảy tội lỗi của nhân loại, và được đặt làm vị thủ lãnh mới ngang qua cuộc sinh hạ đồng trinh. Bạn hãy chiêm ngắm những hệ quả tốt lành mà mầu nhiệm này mang đến cho chúng ta. Đức Trinh Nữ diễm phúc là nguồn cảm hứng cho tất cả mọi người. Thiên chức làm mẹ sẽ bảo hộ cho bậc sống trinh nữ, và bậc sống trinh nữ lại trở nên nguồn cảm hứng cho thiên chức làm mẹ. Không có ai làm mẹ thì thế hệ mai sau sẽ chẳng còn bậc sống trinh nữ, và không có người nữ trinh thì những ai làm mẹ sẽ lãng quên lý tưởng cao vời vốn vượt ra khỏi trần thế này. Có bao lần bạn thăm viếng một ai đó và được nghe họ nói rằng: “Ôi, đứa bé trông giống cha nó như đúc”. Nếu chúng ta nhìn ngắm Chúa Kitô, hẳn là chúng ta phải thốt lên rằng: “Người trông giống hệt Thân mẫu Người”. Thật thế, Người đón nhận thần tính nơi Cha Người; và một nhân tính vô tì tích nơi Mẹ Người. Đó là lý do vì sao chúng ta yêu mến Đức Maria. Kính mừng Maria, Đấng đầy ơn phúc!

0 Nhận xét