Một điều cần chú ý đó là Kinh Tin Kính gần như tóm tắt một cuộc đời. Chúng ta hãy nhìn xem nó lướt qua cuộc đời công khai của Chúa chúng ta nhanh đến là chừng nào: Người được sinh ra; chịu đau khổ; được mai táng; phục sinh; và giờ đây Người đang ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang. Và tất cả những điều đó cũng đã được đặt định để trở nên bản tóm kết cuộc đời của mọi phàm nhân. Có một điều cần lưu ý đó là cuộc đời Chúa chúng ta được chia ra làm ba giai đoạn: ba mươi năm sống vâng phục, ba năm rao giảng và ba giờ chuộc tội cho nhân trần.
Chúng ta sẽ bắt đầu với sự giáng sinh của Người. Hoàng đế Caesar Augustus, bậc thầy quản lý sổ sách của thế giới, đang ngồi tại bàn làm việc của mình tại Tiber, Roma, và trước mặt ông là một tấm bản đồ. Nó được đóng nhãn Orbis Terrarum Imperium Romanum. Bởi vì ông là chủ nhân của cả thế giới, nên ông dự tính sẽ thực hiện một cuộc điều tra dân số. Tất cả mọi quốc gia văn minh trên thế giới đều phải chịu sự chi phối của thủ phủ là Rôma. Tiếng Latinh là ngôn ngữ chính thức và Caesar là người trị vì. Lệnh truyền đã được ban hành tới mọi tiền đồn cũng như các vị tổng trấn, rằng mọi công dân Rôma phải được đăng ký tại chính thành mình cư trú (Lc 2, 1-5). Ở ngoài rìa Đế quốc, trong một ngôi làng nhỏ tên là Nazareth, các binh sĩ dán lên tường bản sắc lệnh yêu cầu mọi công dân phải về lại quê quán để đăng ký kiểm tra dân số.
Thánh Giuse, một người thợ mộc, một hậu duệ ít tiếng tăm của Đại vương Đavít, bị buộc phải đăng ký kiểm tra dân số tại Bêlem, thành của vua Đavít. Theo sắc lệnh, Đức Maria và thánh Giuse phải rời khỏi làng Nadarét để đi đến Bêlem, nơi cách Giêrusalem khoảng năm dặm đường. Năm trăm năm trước, ngôn sứ Mikha đã tiên tri rằng Chúa chúng ta sẽ được sinh ra tại Bêlem (Mk 5, 2). Người chịu chết tại Giêrusalem, đô thành vĩ đại. Ai nấy đều biết cuộc thương khó và tử nạn nhục nhã của Người, nhưng cuộc giáng sinh vinh hiển của Người thì lại bị che giấu nơi ngôi thành hẻo lánh nhất.
Đức Maria có thai và sắp tới ngày mãn nguyệt khai hoa. Còn thánh Giuse thì lòng đầy mong ngóng khi ngài tiến vào ngôi thành nguyên quán của mình. Ngài ra sức tìm kiếm một phòng trọ, hầu Đấng là Chúa tể cả trời và đất có thể được chào đời. Chẳng lẽ Đấng Tạo Hóa lại không thể có nổi một chốn dung thân giữa thế giới mà Người đã tạo dựng hay sao? Thánh Giuse nghĩ rằng, hẳn là phải có phòng trong dãy nhà trọ chứ. Những người giàu có, những người ăn vận xiêm y lộng lẫy, những ai có tiền boa cho chủ trọ thì đều có phòng của riêng mình, thế nhưng khi cuộn sách lịch sử được hoàn tất vào cuối thời gian, thì những dòng chữ bi thảm nhất lại là:
“Hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2, 7).
Tuy nhiên, trong chuồng bò lừa thì có chỗ. Quán trọ là điểm hội tụ của những gì thuộc về thế gian, là nơi người ta bàn chuyện phiếm, là chỗ biểu lộ tâm tư tình cảm, là chốn gặp gỡ của những kẻ giàu sang thành đạt. Chính nơi mà cả thế gian tụ họp ấy, lại chẳng có lấy một chỗ trống. Chuồng lừa là chỗ dành cho những con người sống bên lề xã hội, những kẻ bị bỏ rơi, bị quên lãng. Thế gian những tưởng rằng Con Thiên Chúa phải được sinh ra trong quán trọ. Và chuồng bò lừa sẽ nằm ở cuối danh sách những nơi người ta đến tìm kiếm Người. Cho nên, bài học được rút ra ở đây là: Thiên Chúa hiện diện ở nơi người ta ít nghĩ tới nhất.
Con Thiên Chúa làm người đã được mời bước vào thế giới, thế giới do chính Người tạo nên, bằng cửa sau. Không được chào đón ở trên mặt đất, chính Người đã phải chịu sinh ra dưới lòng đất, vì cái được gọi là chuồng bò lừa ở đây thực chất là một hang động. Người chính là “người hang động” (caveman) đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử. Thế rồi Người đã làm rung chuyển trái đất cho tới tận nền móng của nó. Bởi Người đã được sinh ra trong một cái hang, nên tất cả những ai muốn gặp Người đều phải cúi mình, và sự cong lưng đó lại chính là dấu hiệu của lòng khiêm hạ. Kẻ kiêu hãnh thì không chịu khom lưng uốn gối; do đó, họ lỡ mất dịp đón mừng Đấng Thần Linh. Còn những ai sẵn lòng hạ cái tôi của mình và tiến vào cái hang kia, thì lại nhận thấy mình hoàn toàn không ở trong hang chút nào, nhưng là ở trong cả một vũ trụ, nơi một Hài Nhi bé bỏng nằm trong lòng Mẹ Người, và Hài Nhi đó lại là Đấng tác thành trời đất. Trong số những kẻ đến viếng thăm Người có các mục đồng – là những người tự biết mình ít học, và các nhà thông thái – là những người biết tri thức của mình chẳng chút vẹn toàn.
Thời gian trôi đi; sau cuộc hành trình chạy nạn sang Ai Cập, Mẹ và cha nuôi Người mang Người trở về lại Nadarét, là quê hương và là nơi Người sinh sống cho tới ngày ra đi rao giảng công khai (Mt 2, 19-23). Xem ra đó là một sự chuẩn bị rất ư lâu dài. Người ta có thể tự hỏi tại sao lại phải lâu đến vậy, ba mươi năm âm thầm chuẩn bị cho ba năm sứ vụ. Người ta chỉ có thể đoán mà thôi, và sau đây là suy đoán của chúng ta.
Có thể là Người muốn chờ đợi cho tới khi nhân tính của Người – bản tính mà Người đã đảm nhận – đạt tới sự phát triển toàn vẹn; nhờ đó, Người có thể dâng lên Chúa Cha một hy lễ vẹn toàn. Chẳng phải là người nông dân sẽ chờ cho tới ngày lúa chín rồi mới gặt và đem đi xay đó hay sao? Cũng thế, Chúa Giêsu sẽ chờ cho tới khi nhân tính của Người đạt tới đỉnh điểm của sự hoàn thiện, rồi mới hiến dâng nó vào bàn tay cầm búa của những kẻ đóng đinh, bàn tay cầm liềm muốn “gặt” đi Bánh Hằng Sống từ trời. Dân Do Thái không bao giờ dùng chiên mới sinh để làm hiến lễ, cũng chẳng hái bông hồng mới nở để tỏ lòng tri ân bạn bè. Mọi sự đều có thời khắc viên mãn của riêng mình. Người là Con Chiên đã tự chọn lấy giờ hiến dâng tế lễ; Người là Bông Hồng đã tự chọn lấy thời khắc để chính mình được ngắt đi. Và trong lúc Người lớn lên theo tuổi tác, ân sủng và khôn ngoan trước mặt Thiên Chúa và người đời, Người cũng đã chờ đợi trong sự nhẫn nại, khiêm nhường và vâng phục. Để rồi Người có thể nói: “Giờ đã đến”. Nhờ đó, hạt lúa mì ưu tuyển nhất và chén rượu nho thơm nồng nhất được trở nên chất thể xứng hợp nhất cho hiến lễ. Có lẽ đó chính là lý do vì sao Người đã chờ đợi.
Chúng ta đã biết về cơn cám dỗ của Người, cụ thể đó là một sự đảo ngược cơn cám dỗ của Adam và Eva. Satan đã cám dỗ Chúa chúng ta từ bỏ Thập giá, mà chỉ ban bánh ăn cho dân chúng, thực hiện một số phép lạ, hoặc làm bất cứ điều gì khác ngoại trừ việc đền thay tội lỗi muôn dân và đối đầu với quyền lực ác thần (Mt 4, 1-11). Sau cơn cám dỗ, lúc Chúa Giêsu bắt dầu cuộc đời công khai, Người đi qua bên kia sông Giođan, nơi Gioan Tẩy Giả đang rao giảng. Bấy giờ là gần thời điểm Lễ Vượt Qua, tên của lễ này bắt nguồn từ khi dân Do Thái còn làm nô lệ bên đất Ai Cập. Để phóng thích dân Do Thái, Thiên Chúa đã trừng phạt người Ai Cập. Họ mất con đầu lòng. Bởi vì sứ thần của Chúa đã không chạm tới các con đầu lòng của dân Do Thái, nên họ đã được yêu cầu phải sát tế một con chiên và bôi máu nó lên khung cửa, chứ không phải rảy xuống mặt đất, kẻo máu chiên bị chà đạp dưới chân người. Sứ thần của Chúa, khi nhìn thấy máu bôi trên khung cửa như là lời hứa và dấu chỉ của ơn cứu chuộc khỏi ách nô lệ, sẽ vượt qua ngôi nhà ấy. Bởi thế mà hy lễ ấy dần dà được gọi là lễ “Vượt Qua” (Xh 12, 27).
Dân Do Thái tiếp tục dâng hy tế Chiên Vượt Qua vào mùa lễ Vượt Qua. Trong suốt nhiều thế kỷ, hàng trăm ngàn con chiên đã bị sát tế. Hãy nhớ rằng trước cả thời Môsê, ông Abraham đã được Chúa yêu cầu sát tế chính con của mình là Isaac (St 22, 2). Ông chất củi lên vai Isaac, bảo cậu tự mình vác lấy vật thiết yếu cho cuộc hiến tế. Hình ảnh đó chính là biểu tượng cho Thiên Chúa Cha hiến dâng Con Một của Người. Như Isaac là đứa con duy nhất của Abraham, Chúa chúng ta cũng là Người Con duy nhất của Cha trên trời. Khi Abraham và Isaac lên đến đỉnh núi, Isaac hỏi cha rằng: “Chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?” (St 22, 7). Thiên Chúa đã ban một con cừu thay thế cho Isaac, và đó là hình ảnh tiên trưng cho việc Chúa Kitô, một cách nào đó, đã dùng chính mình để đền tội thay cho chúng ta. Thế nhưng, vấn đề ở đây là: khi Isaac hỏi “chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?”, thì Abraham đã đáp “chính Thiên Chúa sẽ liệu con ạ” (St 22, 8). Agnum providebit: Chiên làm lễ toàn thiêu, chính Chúa sẽ lo liệu.
Với ký ức về hy tế của Abraham và Isaac, cũng như ký ức về mùa lễ Vượt Qua và toàn thể các con chiên được sát tế, dân Do Thái lúc bấy giờ đang tiến về Giêrusalem. Mỗi gia đình đều có con chiên Vượt Qua của riêng họ. Bạn hãy thử tưởng tượng hình ảnh bờ sông Giođan chỉ một màu trắng muốt, màu lông của các con chiên được mang đến thành đô để sát tế. Dân Do Thái hiểu rõ ý nghĩa của hành động ấy. Nó là một lời gợi nhớ và là ký ức về việc họ đã được giải thoát khỏi ách nô lệ chính trị thế nào. Các ngôn sứ đã cho họ biết rằng đó là hình ảnh của sự giải phóng khỏi ách nô lệ thiêng liêng. Ngôn sứ Isaiah tuyên sấm với họ rằng Con Chiên đích thực của Thiên Chúa sẽ đến, và Người sẽ là một con người. Ngôn sứ có viết: “Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta” (Is 53, 6). Người sẽ trở nên một hy lễ ư? Đúng vậy, chính Người đã tự hạ mình chịu đòn vọt. Môi Người không thốt một lời ta thán.
Trong khi Gioan Tẩy Giả đang rao giảng, ông nhìn thấy hết mọi con chiên người ta đem theo, nhưng ông cũng nhìn thấy Chúa chúng ta giữa đám đông dân chúng. Gioan Tẩy Giả cất cao giọng, chỉ về Chúa chúng ta và hô lên rằng: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian!” (Ga 1, 29). Suốt nhiều thế kỷ, câu hỏi của Isaac cứ thế âm vang “chiên làm lễ toàn thiêu đâu?”. Và Gioan Tẩy Giả đã cho câu trả lời: “Đây chính là Chiên Thiên Chúa”. Con chiên là hy lễ và Chúa Kitô cũng là hy lễ. Gioan Tẩy Giả gọi Người là Chiên Thiên Chúa. Thật thế, Người không phải là Chiên của dân chúng, không phải Chiên của dân Do Thái hay bất cứ con người nào, nhưng Người là Chiên của Thiên Chúa. Khi giờ đã đến, giờ Con Chiên chịu sát tế, thì Người không trở nên hy lễ cho những kẻ mạnh thế hơn Người; đúng hơn, Người đã hoàn tất hy tế tình yêu dành cho tội nhân. Không phải phàm nhân đã dâng hy lễ này, dù đúng là chính họ đã ra tay sát tế hy lễ. Chính Thiên Chúa đã tự tay dâng hy lễ ấy. Ngay từ đầu cuộc đời công khai của mình, Chúa Kitô đã báo trước về hy tế này. Thập giá không phải là một ý định nảy sinh muộn màng trong cuộc đời Chúa chúng ta.
Trong sách Khải Huyền, thánh sử Gioan nói về Con chịu hiến tế kể từ thời tạo thiên lập địa (Kh 13, 8). Điều này có nghĩa là, theo ý định thần linh, Con Chiên đã chịu hiến tế từ đời đời, dù cho sự hoàn tất theo thời gian của hy tế ấy chỉ được diễn ra trên đồi Canvê. Nếu chúng ta có thời gian để tìm hiểu từng chi tiết về cuộc đời Chúa Kitô, chúng ta sẽ nhận thấy rằng Thập giá có một vị trí vượt trội trong tất cả những gì Người đã nói hoặc làm. Thế nhưng, Thập giá không hề là điểm kết thúc. Chúa Kitô chưa bao giờ nói về Thập giá mà lại không đồng thời loan báo về Sự Phục Sinh.
Khi Nicôđêmô tìm đến trò chuyện với Chúa Giêsu vào ban đêm, khi Chúa phán rằng Nicôđêmô không biết rõ về luật Môsê nhiều như ông tưởng, Chúa cho ông hay Người không chỉ là Con của loài người, mà còn là Con Thiên Chúa. Người phán: “Giả như tôi nói với các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được?” (Ga 3, 12). Người đã từ trời mà hạ mình xuống thế gian. Chúa chúng ta đã sử dụng một hình ảnh rất phổ biến đối với Nicôđêmô và toàn dân Do Thái. Người nói với ông rằng: “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3, 14-15). Nhưng Chúa có ý gì khi Người bảo “như Môsê đã giương cao con rắn đồng trong sa mạc?”
Trở ngược về sách Dân Số, chúng ta sẽ thấy rằng dân chúng nổi loạn chống lại Thiên Chúa trong hoang địa. Thiên Chúa trừng phạt dân bằng cách cho rắn lửa ra cắn họ, và nhiều người đã phải mất mạng (Ds 21, 6). Rồi Thiên Chúa bảo Môsê làm một con rắn bằng đồng và treo nó lên cây. Qua Môsê, Chúa phán rằng ai nhìn lên con rắn đồng sẽ được chữa lành khỏi vết thương rắn lửa cắn (Ds 21, 8).
Hiển nhiên là tự thân con rắn đồng kia chẳng có gì để có thể chữa lành những kẻ bị rắn cắn. Không hề có một mối quan hệ nội tại nào giữa con rắn đồng và rắn lửa, ấy thế mà những ai nhìn lên nó lại được chữa lành, và ai không chịu nhìn lên nó thì cũng không được chữa. Vài trăm năm sau, Chúa chúng ta đã đến trong thế gian này, và Người đã ban cho hình ảnh cũ xưa ấy ý nghĩa đích thực của nó. Giờ đây Người bảo Người chính là con rắn bằng đồng ấy. Cũng như Môsê đã giương cao con rắn bằng đồng đó lên cây, thì chính Người, Chúa chúng ta, cũng sẽ được giương cao lên cây Thập giá, và tất cả những ai nhìn lên Người sẽ được cứu rỗi. Mối dây liên hệ là ở chỗ này: Con rắn bằng đồng trong hoang mạc trông giống hệt loài rắn lửa đã cắn dân Do Thái, nhưng bản thân nó lại không hề có độc. Con rắn đồng ấy trông thì có vẻ như là có độc, nhưng thực chất thì không hề có. Chúa Giêsu có ý muốn nói rằng chính Người cũng sẽ được giương cao lên một ngọn cây. Bản thân Người sẽ ra như thể là kẻ tội lỗi. Người sẽ ra như thể toàn thân Người chứa đầy nọc độc của tội. Chẳng phải quan tòa sẽ kết án Người hay sao? Nếu Người bị kết án, chẳng phải Người sẽ trông như là kẻ có tội hay sao? Thế mà Người lại là Đấng vô tội, và tất cả những ai nhìn lên Người sẽ được chữa lành.
Một lần nữa, Chúa Giêsu nói rằng Người không chỉ là một vị tôn sư, nhưng còn là một đấng cứu chuộc. Người đến trong thế gian, trong thân phận con người, để cứu chuộc con người. Các bậc tôn sư dùng chính đời sống mình mà biến đổi con người; còn Chúa chúng ta dùng chính sự chết của Người để biến đổi nhân loại. Và nọc độc của thù hận, tính xác thịt và ghen tương, vốn là những thứ ẩn sâu trong trái tim con người, thì không thể được chữa lành bằng những cách thức giản đơn như kêu gọi cải cách xã hội. Lương bổng của tội là sự chết; vì thế, tội chỉ có thể được đền bù bằng chính cái chết mà thôi. Như trong các cuộc hiến tế cổ thời, một cách biểu trưng, ngọn lửa thiêu rụi hết tội lỗi cùng với tế vật; vậy nên trên Thập giá, tội lỗi của toàn thế giới cũng được gột rửa nhờ vào cuộc tử nạn của Chúa Kitô. Người vừa uy nghiêm thẳng mình trong tư cách là Vị Thượng Tế, vừa phủ phục cúi mình dưới hình hài của Tế vật. Nếu có điều gì mà mọi bậc tôn sư đều muốn, thì đó là một cuộc sống trường thọ, hầu danh tiếng của mình sẽ được nhiều người biết tới. Sự chết luôn luôn là một nỗi bi kịch to lớn đối với một vị tôn sư. Khi Socrates được trao cho chén thuốc độc, thông điệp của ông đã bị đứt đoạn một lần và mãi mãi. Đối với Đức Phật, sự chết là một hòn đá chắn đường cản lối mọi giáo huấn của các nhà thần bí Đông phương. Chúa chúng ta thì luôn loan báo về cái chết của Người, qua đó mà Người sẽ mang lấy vào thân tội lỗi của nhân loại và trở nên như thể là một kẻ tội lỗi.
Chúa chúng ta trò chuyện với Nicôđêmô và tuyên xưng mình chính là Ánh sáng cho trần gian. Điểm đáng kinh ngạc nhất nằm ở chỗ Người bảo sẽ không có ai hiểu được giáo huấn của Người cho tới ngày Người chịu tử nạn và Phục sinh. Không một tôn sư nào trên trần gian đã từng tuyên bố rằng giáo huấn của ông cần được chứng thực bằng một cái chết thảm khốc. Vậy mà ở đây chúng ta có một bậc Tôn sư, Người đã đặt giáo huấn của mình xuống hàng thứ yếu. Người đã lôi kéo người ta đến với Người, không phải bởi giáo huấn hay những gì Người đã giảng dạy, mà bằng chính cái chết bị đóng đinh của Người. Chúa Giêsu phán: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8, 28). Người không bảo rằng họ sẽ hiểu Người qua giáo huấn của Người; nhưng đúng hơn, nhờ vào căn tính và phẩm vị của Người mà họ mới có thể nắm bắt được ý nghĩa của việc Người đến trong trần gian. Chỉ lúc đó, chỉ sau khi đã đưa Người vào chỗ chết, họ mới nhận ra sự thật trong lời Người nói.
Cái chết của Người, thay vì trở nên đường nét cuối trong chuỗi những thất bại, lại là sự thành công đầy vinh hiển và là đỉnh cao của sứ vụ Người trên trần gian. Sự khác biệt lớn lao nơi ảnh tượng giữa Đức Phật và Chúa Kitô đó là Đức Phật luôn luôn an tọa, hai tay khoanh lại trước thân hình phương phi, đôi mắt nhắm lại hướng vào nội tâm; còn Chúa Kitô thì không “an tọa” trên trái đất này. Người được giương cao, Người đã lên ngự trên ngai báu. Con người và cái chết của Người chính là trái tim và linh hồn của giáo huấn của Người. Thập giá chính là trung tâm cuộc đời Người. Vậy chúng ta còn lại điều chi nữa? Chỉ còn việc kể cho bạn nghe về Thập giá, sự chết và sự an táng của Người mà thôi.

0 Nhận xét