14. Cuộc tử nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô

Chúng ta sẽ tiếp tục học về Kinh Tin Kính, vốn luôn nối kết sự giáng sinh của Chúa Kitô với khổ đau Thập giá và sự Phục sinh của Người. Chúng ta sẽ xem xét cách cụ thể cuộc khổ nạn và phục sinh, khởi đầu với nỗi thống khổ của Người trong vườn Cây Dầu. Tại đây chúng ta đang đối diện với một mầu nhiệm vĩ đại. Chúa chúng ta đã chịu đau khổ cả về tinh thần lẫn thể xác.

Trước hết chúng ta sẽ đi qua cơn đau đớn về mặt tinh thần của Người trong vườn Ghếtsêmani. Đó là lúc Bữa Tiệc Ly vừa mới kết thúc. Các sách Tin Mừng chỉ ghi nhận một lần duy nhất Chúa chúng ta hát Thánh vịnh (Mt 26, 30), và đó là sau khi Người đã ăn bữa tiệc sau cùng với các môn đệ, và thời khắc ra đi đón nhận cái chết đã đến. Người bảo với các Tông đồ rằng họ sẽ vấp ngã trong giờ khắc này. Các bạn hãy nhớ là Chúa Kitô luôn nói về cái chết chịu đóng đinh và cuộc khổ nạn của Người bằng hạn từ “giờ”, và vinh quang của Người bằng hạn từ “ngày”. Ma quỷ có giờ của chúng, còn Thiên Chúa có ngày của Người.

Khi Người tiến vào khu vườn mà Người hay đến để cầu nguyện, Người bảo các Tông đồ rằng họ sẽ vấp ngã vì Người, bởi “người chăn chiên sẽ bị đánh, và đàn chiên sẽ tan tác” (Mt 26, 31). Chỉ ít lâu sau khi cuộc khổ nạn diễn ra, các ông đã vấp ngã. Các ông bỏ chạy hết. Nhưng Chúa lại an ủi mà rằng: “Nhưng sau khi trỗi dậy, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em” (Mt 26, 32). Chưa từng có ai lập một lời thề hứa như thế, rằng người chết hẹn gặp lại bạn hữu mình sau ba ngày ở trong mồ.

Dù cho đàn chiên có bỏ rơi chủ chăn mình, thì vị Mục tử không hề bỏ rơi đàn chiên. Như xưa kia, trong một khu vườn, Adam đã đánh mất phần sản nghiệp là được hiệp thông với Thiên Chúa, thì nay cũng trong một khu vườn, Chúa Kitô sẽ phục hồi lại ơn hiệp thông đó cho chúng ta. Hai khu vườn Địa Đàng và Cây Dầu đều xoay quanh vận mệnh nhân loại. Trong vườn Địa Đàng, Adam đã phạm tội; trong vườn Cây Dầu, Chúa Kitô mang lấy tội của nhân loại vào thân. Trong vườn Địa Đàng, Adam lẩn trốn Thiên Chúa; trong vườn Cây Dầu, Chúa Kitô kêu cầu lên Cha của Người. Trong vườn Địa Đàng, Thiên Chúa tìm kiếm Adam khi ông đã phạm tội phản nghịch; trong vườn Cây Dầu, Adam mới – tức là Chúa Kitô – tìm gặp Chúa Cha trong sự vâng phục và phó thác. Trong vườn Địa Đàng, một thanh gươm được rút ra, ngăn không cho sự dữ được tiếp diễn. Trong vườn Cây Dầu, Chúa Kitô lại bảo Phêrô xỏ gươm vào vỏ.

Có hai yếu tố liên kết chặt chẽ với nhau trong cơn thống khổ này; một là sự mang lấy tội lỗi, hai là sự vâng phục vô tì vết. Kinh Thánh chép là Chúa Giêsu đi xa các Tông đồ một quãng chừng bằng ném một hòn đá (Lc 22, 41). Lối đo khoảng cách như vậy thật khiến người ta tò mò. Và Chúa chúng ta sấp mặt xuống đất, cầu nguyện rằng: “Abba, Cha ơi (My Father), Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” (Mc 14, 36). Các bạn hãy chú ý đến cách hai bản tính của Chúa Giêsu hiện diện trong thời khắc này. Người và Chúa Cha là một, và do đó Người không xin rằng: “lạy Cha chúng con, nếu có thể được, xin cất chén này đi”, nhưng Người nói: “Cha ơi/Cha của con ơi (My Father)”. Người luôn ý thức rằng tình yêu của Chúa Cha dành cho mình là luôn vẹn toàn. Mặt khác, hãy nhớ là Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Nhân tính của Chúa hãi hùng trước cái chết vì nó là hình phạt dành cho tội lỗi. Sợ hãi trước hình phạt mà tội lỗi đáng phải chịu là điều rất tự nhiên đối với bản tính loài người. Chúa Kitô thật sự diễn tả “chất người” khi Người xin cho khỏi uống chén đắng. Nói cách khác, tiếng “không” là thuộc phần bản tính nhân loại; còn tiếng “có” thể hiện sự vâng phục trước thánh ý Chúa Cha thì biểu lộ dũng khí quyết tâm của Chúa Giêsu trong việc vượt thắng nỗi e sợ của con người trước đau khổ, hầu chu toàn sứ vụ cứu chuộc con người.

Chúa chúng ta đã mang lấy tội lỗi nhân loại vào thân, cứ như thể chính Người là kẻ có tội. Đây là điều rất khó hiểu đối với chúng ta, bởi vì chúng ta luôn tưởng rằng nỗi đau khổ thể lý là một điều gì đó vượt trên sự dữ luân lý. Hơn nữa, vì chúng ta đã quá quen với việc phạm tội nên chúng ta không còn nhận ra được sự khủng khiếp của nó. Những con người vô tội thì hiểu rõ về tội hơn những kẻ tội lỗi ngập đầu. Điều duy nhất mà con người chẳng hề rút ra bài học từ kinh nghiệm chính là phạm tội. Khi phạm tội, tội nhân bị lây nhiễm bởi chính nọc độc của tội lỗi; tội trở nên một phần của kẻ đó đến nỗi hắn có thể tự cho mình là nhân đức, như người bị sốt cao lại cứ nghĩ mình đang khỏe mạnh vậy. Cũng như bác sĩ đứng ngoài và nhìn vào bệnh tật, chỉ có bậc thánh đức - người đứng bên ngoài dòng chảy tội lỗi - mới có thể nhìn vào sự dữ và thấu hiểu trọn vẹn sự khủng khiếp của nó.

Điều quan trọng là chúng ta phải nhận ra Thiên Chúa đã cảm nhận như thế nào về việc ý chí con người đối nghịch với thánh ý Thiên Chúa. Tôi tự hỏi phải tìm ví dụ nào đây để có thể minh họa cho điều này. Có lẽ ví dụ gần gũi nhất là khi bậc làm cha mẹ cảm nhận một sức mạnh xa lạ, đến từ sự cố tình chống đối, nơi một trong những đứa con của mình. Đứa trẻ đó có thể biểu hiện sự ngoan cố và khinh nhờn trước những lời lẽ ôn tồn khuyên bảo, đầy ắp tình yêu và niềm hy vọng của cha mẹ, và thậm chí là “lờn mặt” trước nỗi sợ bị phạt.  Một thân hình nhỏ bé và tâm trí non nớt như vậy lại có thể chứa đựng một sức mạnh chống đối đáng kinh ngạc. Đây chỉ là một hình ảnh mờ nhạt so với việc con người chúng ta cố tình phạm tội. Đối với linh hồn, tội là gì nếu chẳng phải là một nguyên lý khôn ngoan theo kiểu thế gian, tự vận hành cách độc lập như thể không có Thiên Chúa hiện hữu? Phản-Kitô chẳng là gì khác hơn sự phát triển tối đa, không thể bị ngăn trở của cái tôi vị kỷ. Đó chính là điều Chúa Kitô phải đối diện trong vườn Cây Dầu, là toàn bộ ý chí nhân loại chống lại ý muốn thần linh.

Vì vâng phục thánh ý Chúa Cha, Chúa chúng ta đã mang lấy vào thân mọi tội lỗi của thế gian mà trở nên một “Đấng gánh tội” (sin bearer). Không có một tội nào con người ta đã phạm trên đời mà Chúa Giêsu lại không chịu đau khổ vì nó. Tội của Adam cũng đã hiện diện ở vườn Cây Dầu, vì với tư cách là đầu của toàn thể nhân loại, ông đã khiến cho tất cả phải đánh mất quyền thừa hưởng ân sủng của Thiên Chúa. Cain cũng có mặt ở đó, thấm đẫm máu tươi của em mình. Sự kinh tởm của Sôđôm và Gômôra cũng có mặt ở đó. Sự thờ ơ quên lãng của dân được Chúa tuyển chọn, là những kẻ đã cúi mình trước ngẫu thần, cũng ở đó. Tâm hồn chai đá của dân ngoại, những kẻ đã nổi loạn chống lại luật tự nhiên, cũng có ở đó. Tất cả mọi tội lỗi đều có mặt ở đó: những tội đã phạm trên đất nước khiến cho thiên nhiên cũng phải hổ thẹn; tội của những người trẻ, vì họ mà trái tim dịu hiền của Chúa Kitô bị đâm thâu; tội của những bậc lão niên, những người đáng lẽ ra đã qua cái tuổi phạm tội; tội phạm trong bóng tối, nơi người ta cứ tưởng mắt Chúa chẳng thấy gì; tội phạm nơi thanh thiên bạch nhật, thậm chí khiến cho quân gian ác phải rùng mình kinh sợ. Những lời báng bổ được đặt trên môi miệng Người, cứ như thể chính Người đã tuôn ra những lời đó.

Từ bắc chí nam, từ đông sang tây, tội lỗi của cả thế gian, bốc lên như những luồng khí hôi thối, dập vùi Chúa chúng ta như sóng cồn thác lũ. Tựa như Samsôn, Người vươn tay ra và kéo toàn bộ tội lỗi của nhân loại vào thân Người như thể Người là kẻ có tội, hầu thay mặt chúng ta đền trả “món nợ đời”, nhờ đó chúng ta được một lần nữa giao hòa với Chúa Cha. Người đã chuẩn bị tinh thần để dâng lên hy tế cực trọng, bằng chất lên linh hồn vô tì tích của mình mọi tội lỗi của thế gian. Tôi nhấn mạnh là mọi tội lỗi đều hiện diện tại khu vườn đó; tội của bạn cũng như tội của tôi. Vậy có chi lạ lùng khi từ thân thể Người máu bắt đầu tuôn đổ (Lc 22, 44), từng giọt nặng nề rơi xuống đất như những hạt ngọc kết thành chuỗi châu cứu độ? Tội nằm trong máu, và để tẩy trừ tội lỗi, thì máu cần phải được đổ ra. Người là Đấng vô tội, nhưng Người đã cầu nguyện và chịu đau khổ cho chúng ta.

Thế rồi Giuđa đi tới. Chúa Giêsu thậm chí còn phải cảm nếm nỗi đau của sự phản bội đến từ kẻ giả danh bằng hữu. Giuđa vòng tay ôm cổ Thầy chí thánh, rồi hôn lấy hôn để Người (Mt 26, 49). Chúa chúng ta bị biến thành gã hề trong đêm Người bị xét xử trước hai ông quan tòa tôn giáo là Khanna và Caipha (Mt 26, 57-68). Cả hai người là quan tòa tôn giáo, thuộc về dân Do Thái. Nhưng còn có hai vị quan tòa xét xử dân sự khác là Philatô và Hêrôđê (Lc 23, 1-25). Philatô là người Rôma và là dân ngoại, còn Hêrôđê là người xứ Êđôm. Các quan tòa không đồng thuận với nhau về lý do tại sao Chúa bị kết án. Những lời cáo buộc khác nhau đã được đưa ra ở các phiên tòa khác nhau. Ở tòa đạo, Chúa Giêsu bị kết án tội nói phạm thượng. Ở tòa đời, Người bị kết án tội phản nghịch. Trước tòa đạo, Người bị kết tội là quá đạo đức, quá thần thiêng, quá lạc lõng giữa cõi bụi trần. Còn trước tòa đời, Người bị kết án là quá chạy theo chính trị, quá phàm nhân, quá lụy tục. Họ không thể đồng tình về lý do tại sao Người phải bị kết án; họ chỉ có thể chấp nhận rằng Người đáng bị như vậy. Người bị luận tội dựa trên những lời cáo buộc mâu thuẫn nhau; một đằng là bởi Người quá thần thiêng, và đằng khác lại bởi Người quá con người; và bởi thế mà hình phạt thích đáng dành cho Người  chính là dấu chỉ của việc bị người đời chống báng, chính là cây Thập giá.

Chúng ta hãy cùng nhau xem một cảnh ngắn từ mỗi phiên xét xử. Trong phiên xét xử trước tòa án tôn giáo, Caipha không thể tìm ra lý do nào để ông ta có thể kết án Chúa Giêsu. Ông cho dẫn ra các nhân chứng giả, nhưng lời chứng gian của bọn họ không ăn khớp với nhau. Sau cùng Caipha phải nại đến một lời thề. Ông ta buộc Chúa chúng ta phải tuyên thệ dưới lời thề đó, cùng với toàn bộ sự nghiêm nghị mà ông có thể tỏ ra, cũng như cảm giác khó chịu trước những lời cáo gian đầy mâu thuẫn của những kẻ làm chứng dối, ông bảo Chúa Giêsu rằng: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Ki-tô Con Thiên Chúa không? (Mt 26, 63). Lúc này đây, khi Caipha hỏi có phải Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, hay không, thì các bạn hãy nhớ cho là tư tưởng của ông không giống với tư tưởng của chúng ta. Khi bạn và tôi nghe từ “Đấng Kitô”, chúng ta nghĩ ngay đến cuộc đời trần thế của Người. Nhưng đó không phải là trường hợp của Caipha. Ông ta truy ngược về tất cả các lời tiên tri. Ông đi đến tận sách Sáng Thế. Ông biết Đấng Mêssiah đã được loan báo trước cách nào. Vậy nên câu hỏi của Caipha thực chất sẽ là: Ông Giêsu này có phải là Đấng Mêssiah không? Liệu ông ta có phải là Con Thiên Chúa không? Ông ta có khoác lên mình sức mạnh thần linh không? Ông ta có thật là Ngôi Lời mặc lấy xác phàm hay không? Có thật là Đức Chúa, Đấng qua nhiều dịp và bằng nhiều phong thái khác nhau đã nói với chúng ta ngang qua các tiên tri, nay trong những ngày sau hết này đã ngỏ lời với chúng ta qua Người Con của Người hay chăng? Caipha hỏi: “Ông có phải là Con Thiên Chúa không?” Chúa chúng ta đáp: “Chính tôi đây” (Mt 26, 64). Với ý thức siêu phàm và nét uy nghi lẫm liệt, Chúa Giêsu tuyên bố Người là Đấng Mêssiah và là Con Thiên Chúa hằng sống. Khi Người phán “chính Ta đây” (I am), tôi tin chắc rằng Caipha đã nghĩ ngay đến lần Thiên Chúa phán với Môsê trên núi Sinai, đó chính là những lời Thiên Chúa đã dùng để công bố Danh Người: “Ta là Đấng Hiện Hữu’ (I am Who am) (Xh 3, 14).

 

Chúa Giêsu một lần nữa nói với Caipha rằng: “Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26, 64). Hãy nhìn xem: Chúa Giêsu khẳng định thần tính của Người, rồi đến nhân tính, và cả hai bản tính đều được đặt dưới đại từ nhân xưng “Tôi”. Người tuyên bố với Caipha rằng một ngày kia chính ông ta sẽ bị xét xử.

Thế là Caipha tuyên bố Chúa Giêsu có tội. Ông ta xé áo mình như một biểu tượng cho thấy ông đã nghe một lời phạm thượng, vì Chúa Kitô đặt mình ngang hàng Thiên Chúa. Nhưng Caipha, Thượng Hội Đồng Do Thái, và toàn dân không thể công bố bản án tử cho Chúa Giêsu được. Quyền ấy thuộc về người Rôma, cho nên họ vội vã mang Chúa Giêsu đến cho Philatô. Viên tổng trấn này đã xét xử Chúa Giêsu nhiều lần trước khi gửi Người qua chỗ vua Hêrôđê (Mt 27, 11-26). Một điểm thú vị cần lưu ý ở đây chính là bản án dành cho Chúa Giêsu được trình gửi lên Philatô. Cứ theo lẽ thường thì bản án xét xử dù có gửi đi đâu cũng đều không có gì thay đổi. Chúa chúng ta bị kết án tội nói phạm thượng. Và khi bị gửi lên một tòa án cao cấp hơn, chúng ta thường cho là Người cũng sẽ bị kết án tội nói phạm thượng. Nhưng không phải thế. Tại sao? Bởi vì nếu Caipha và đồng bọn ông ta tố cáo Chúa Giêsu với quan Philatô rằng Chúa Giêsu đã tự đặt mình ngang hàng Thiên Chúa, thì Philatô sẽ nhạo cười bọn họ. Philatô là một người ngoại giáo; ông ta sẽ nói rằng: “Như các ngươi có thần thánh của riêng mình thì ta đây cũng có vậy! Sáng nào ta cũng thắp hương kính Ngài mà”. Thế nên bọn người Caipha phải tìm một bản án khác. Và bản án mà bọn họ đưa ra cho Chúa Giêsu là tội phản nghịch. Người sẽ bị kết án là kẻ làm chính trị, một kẻ phàm nhân trần tục.

Cần phải nhớ rằng Caipha và Thượng Hội Đồng Do Thái rất ghét người Rôma. Người Rôma đã thống trị đất nước họ. Mỗi lần có kiện cáo gì thì họ phải tìm đến thẩm phán người Rôma, họ buộc phải xài tiền của Rôma, và hình ảnh của Caesar thì tràn ngập các con đường trong thành Giêrusalem và trên mọi miền Đất Thánh. Bọn họ ghét những kẻ xâm lược; bọn họ ghét Rôma. Khi họ đem Chúa chúng ta ra trước Philatô và khi viên tổng trấn hỏi bản án dành cho Người là gì, họ bảo rằng Người mắc tội gây rối loạn quốc gia, chống đối không chịu nộp thuế cho Hoàng đế. Hãy thử tưởng tượng xem, không chịu nộp thuế cho Caesar, là Hoàng đế Caesar mà bọn họ ghét cay ghét đắng đấy! Philatô thừa biết bọn họ không ưa gì Hoàng đế. Nhưng để có thể đạt được mục đích, sau nhiều lần tranh cãi, bọn họ nói với Philatô rằng: “Nếu ngài tha nó, thì ngài không phải là bạn của Caesar. Ai xưng mình là vua thì chống lại Caesar” (Ga 19, 12). Philatô sợ bị báo cáo lên Rôma. Ai mà biết được Hoàng đế sẽ xử ông ta như thế nào chứ? Ai mà biết được liệu Hoàng đế có cất chức ông hay không? Dù cho Philatô đã tìm cách cứu Chúa Giêsu – ông đã tuyên bố Chúa vô tội đến bảy lần – giờ đây ông buộc phải truyền đem Chúa đi đánh đòn, rồi đem Người ra trước mặt toàn dân và phán: “Đây là vua các người!”. Một làn sóng chống đối hô to lên rằng: “Chúng tôi không có vua nào khác ngoại trừ Caesar!” Vậy là Philatô bèn trao Chúa Giêsu cho họ đem đi đóng đinh.

Chúa chúng ta bị dẫn lên đồi Canvê. Trên ngọn đồi ấy, Người trao đôi tay mình cho bọn lý hình, đôi bàn tay hằng chảy tràn ân sủng cho nhân loại. Tiếng búa gõ trầm đục đầu tiên vang lên trong thinh lặng. Đức Maria và thánh Gioan phải bịt tai mình lại; bởi thanh âm thật không thể chịu nổi được. Rồi một tiếng búa chát chúa khác vang lên. Rồi cây Thập giá được từ từ nâng lên khỏi mặt đất. Rồi một tiếng “huỵch” cứ như thể làm chấn động cả hỏa ngục, thanh dọc Thập giá rơi tọt vào cái lỗ được đục sẵn trên mặt đất. Và như thế, Chúa chúng ta đã bước lên bục giảng một lần cuối cùng.

Người cất tiếng bảy lần. Lời đầu tiên của Người là dành cho tất cả những kẻ đã đóng đinh Người, tất cả những kẻ đã đẩy Người đến chỗ chết: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34). Không phải sự thông thái, nhưng là chính sự vô tri mới là lý do để họ được tha bổng. Rồi sau ba giờ bị treo trên Thập giá, Chúa chúng ta chuẩn bị phó dâng mạng sống Người. Hãy nhớ, Người luôn nói rằng: “Mạng sống tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga 10, 18). Cần lưu ý là khi Chúa nói lời thứ bảy, Kinh Thánh chép rằng Người nói lớn tiếng để minh chứng Người làm chủ mạng sống mình. Cũng như các hành tinh đi hết quỹ đạo của mình và trở về điểm xuất phát sau một quãng thời gian lâu dài, như thể là để bày tỏ niềm tôn kính Đấng đã cho phép chúng vần xoay, thì Đấng là Người Con Hoang Đàng, Đấng đã rời bỏ nhà Cha của Người, Đấng đã “phung phí” sự sống và máu thịt Người vì chúng ta, giờ đây đang trên đường trở về nhà Cha. Từ môi miệng Người cất lên lời nguyện tuyệt hảo: “Lạy Cha, con phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46). Như một con tim tan vỡ trong niềm hoan lạc của tình yêu, Người gục đầu và trao thần khí.

Nicôđêmô và Giuse Arimathi đến để hạ xác Người xuống khỏi Thập giá. Như Kinh Thánh có chép, các ông dùng một trăm cân mộc dược để xức xác Người, ngay tại “thửa vườn nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh” (Ga 19, 41). Từ “thửa vườn” gây liên tưởng đến vườn Địa Đàng và sự sa ngã của loài người; nhưng nó còn hàm ý sự phục sinh từ cõi chết thông qua hình ảnh bông hoa chớm nở vào lúc xuân thì. Trong thửa vườn đó có một ngôi mộ, và theo như ngôn ngữ Thánh Kinh, là chưa được dùng để chôn cốt ai. Đấng được sinh bởi một cung lòng trinh nguyên, thì nay cũng được chôn cất trong một ngôi mộ “trinh nguyên”.

Chẳng có điều gì chướng bằng cảnh đóng đinh ngay giữa một khu vườn, ấy vậy mà vẫn có một sự bù đắp nào đó, bởi cũng chính khu vườn đó sẽ chứng kiến cảnh phục sinh. Chúa chúng ta được sinh ra trong một cái hang của người lạ, và Người lại được mai táng trong ngôi mộ của kẻ không thân quen, bởi vì việc sinh ra và chết đi của phận người thì đều là những điều xa lạ với Người. Chết vì tha nhân, Người được an táng trong ngôi mộ của tha nhân. Ngôi mộ đặt xác Người chỉ là mượn tạm, mượn tạm vì Người sẽ trả lại nó vào Chúa Nhật Phục Sinh, như chính Người đã trả lại con lừa mà Người đã mượn để cưỡi vào thành thánh, lúc Người bảo rằng: “Chúa cần đến chúng” (Mt 21, 3).

 

Khi Người trỗi dậy từ cái chết, Người đã nhiều lần hiện ra, và một trong các lần hiện ra đó diễn ra chỉ một tuần sau ngày Phục sinh. Các Tông đồ khác đều đã được trông thấy Chúa. Sau bao nhiêu nghi nan, rốt cuộc họ đã tin, nhưng là cũng chỉ sau khi đã được thấy biết bao nhiêu là bằng chứng. Chúa chúng ta hiện ra giữa phòng Tiệc Ly và phán: “Bình an cho anh em” (Lc 24, 36). Tôma, một trong các Tông đồ, lại không chịu tin. Ông bảo: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” (Ga 20, 25). Thế là Chúa chúng ta lại hiện ra với Tôma và nói với ông rằng: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20, 27). Tôma phục mình xuống dưới chân Đấng Phục Sinh mà tuyên xưng rằng: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga 20, 28).

Có những người sẽ chẳng bao giờ chịu tin, ngay cả khi họ được nhìn thấy. Tôma nghĩ rằng ông có lý khi đòi hỏi phải được mắt thấy tai nghe, nhưng còn thế hệ tương lai, nếu chúng cũng đòi hỏi bằng chứng tương tự, thì chuyện sẽ ra sao? Giả sử bạn không tin vào biến cố Phục sinh cho tới khi bạn được xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Chúa. Vậy thì Chúa Giêsu có ý muốn nói rằng, thế hệ tương lai phải đón nhận biến cố Phục Sinh như một chân lý từ những ai đã được cùng ở với Người. Do đó mà Chúa chúng ta đã phác họa về đức tin của người tín hữu sống sau thời các tông đồ, bấy giờ những chứng nhân đời đầu đã không còn nữa, nhưng đức tin của người tín hữu đã có một nền tảng vững chắc bởi vì các Tông đồ đã tận mắt nhìn thấy Chúa Phục Sinh.

Làm thế nào chúng ta biết được là biến cố Phục Sinh đã thực sự diễn ra? Đơn giản là vì Giáo Hội đã có mặt ở đó, chính nơi các Tông đồ; các ngài đã được xem thấy sự Phục Sinh. Ngay cả thánh Tôma, người bị cho là cứng tin, cũng đã hiện diện ở đó. Và ngài đã tin! Ngài tin nhân danh tất cả những ai, tuy không xem thấy tận mắt, nhưng đã đón nhận lời chứng của những người được Chúa Kitô sai đi rao giảng Tin Mừng Phục Sinh cho mọi dân nước. Nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc đâu. Trong bài tới, chúng ta sẽ bàn về biến cố Chúa Kitô thăng thiên và lên ngự bên hữu Chúa Cha.

0 Nhận xét