15. Thăng Thiên

Trong bài hôm nay chúng ta sẽ xem xét Kinh Tin Kính, cụ thể là những lời hướng về biến cố Thăng Thiên của Chúa chúng ta, cũng như việc Người ngự bên hữu Thiên Chúa Cha Toàn Năng.

Sau khi Phục sinh, Chúa chúng ta còn ở lại trần gian thêm bốn mươi ngày. Trong suốt quãng thời gian đó, Người chỉ dạy các Tông đồ về Vương quốc Thiên Chúa và thiết lập cơ cấu cho Nhiệm Thể của Người là Giáo Hội. Môsê đã chay tịnh bốn mươi ngày trước khi ban hành lề luật, Êlia cũng chay tịnh bốn mươi ngày trước khi phục hồi lề luật, và giờ đây trong vòng bốn mươi ngày, Chúa Phục Sinh cũng đã thiết lập nên các cột trụ của Giáo Hội và ban hành luật mới của Tin Mừng. Con số “bốn mươi” sắp đi tới hồi kết, và các Tông đồ được truyền phải canh thức đợi chờ ngày thứ năm mươi, tức là ngày của niềm vui hoan hỉ.

Khi đến ngày thứ Năm trong tuần, tức là thời điểm Chúa chúng ta về trời, Người dẫn các Tông đồ lên núi Ôliu. Không phải tại Galilê, nhưng tại chính Giêrusalem, nơi Người đã chịu khổ hình, và tại nơi này đây Người rời bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Hy tế giờ đây đã được hoàn tất. Người tập hợp các Tông đồ lại quanh Người khi chuẩn bị thăng thiên lên ngự trên ngai vinh hiển. Người giơ tay chúc lành cho các ông, và Đôi Tay kéo phép lành từ trời cao xuống đất thấp ấy vẫn còn mang dấu đinh. Quả thế, chính đôi tay bị đâm thủng mới là khí cụ ban phép lành tốt nhất. Nếu bạn muốn nghe lời khuyên hữu ích, hãy tìm đến những ai đã kinh qua đau khổ.

Khi nói về cuộc Thăng Thiên, Kinh Thánh chép rằng đang lúc chúc lành cho các Tông đồ thì Chúa Giêsu rời khỏi các ông, được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa (Lc 24, 50-53). Có một số từ ở đây cần được giải thích, chẳng hạn như Chúa chúng ta “thăng thiên”, Người được “ngự”, và “bên hữu Chúa Cha”. Chúng ta không được nghĩ sự Thăng Thiên giống như là một sự di chuyển. Cũng như không được nghĩ rằng Chúa Giêsu đã vượt ra khỏi những vì sao xa xôi nhất, hay nghĩ rằng giờ đây Người đã cách chúng ta hàng triệu năm ánh sáng, hoặc Người đi từ điểm này sang điểm nọ, hoặc mường tượng cuộc Thăng Thiên của Người giống như một dạng du hành không gian.

Chúa chúng ta đã có một lần hạ giới; Người từ trời mà xuống thế gian. Điều này không nên được hiểu như một cuộc giáng trần về mặt thể lý; đúng hơn, nó giống như vén lên một bức màn mà qua đó Thiên Chúa mặc khải chính mình cho nhân loại. Vậy nên biến cố Thăng Thiên không như một quả tên lửa. Cứ cho là ngay cả khi Chúa Giêsu vượt qua sao Đại Hùng, thì Người cũng không vì thế mà tiến đến gần thiên đàng hơn đâu. Đúng hơn, sự thăng thiên và hạ phàm được đề cập trong Kinh Tin Kính và tín lý Kitô giáo có ý nói đến sự hạ mình và được tôn vinh. Khi Chúa chúng ta xuống trần gian, Người đã khiêm nhu tự hạ. Và khi lên trời, tức là Người được tôn vinh, và đó chính là phương pháp Kinh Thánh luôn dùng để nói về Người. Người lên trời bởi vì Người đã tự hạ, đã vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên Thập giá.

Từ “ngự” trong câu “Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3, 1) có nghĩa là gì? Từ “ngự” ở đây mang nghĩa “nghỉ ngơi sau cuộc giao tranh”. Chúa chúng ta đã bỏ Thập giá lại sau lưng, cùng với cát bụi, cơn khát, nỗi thống khổ và đau đớn của nó. “Ngự” không có nghĩa là Chúa Giêsu ở trong trạng thái bị động. Bạn hãy mở sách Sáng Thế, và sách có chép rằng Thiên Chúa nghỉ ngơi sau khi hoàn tất công trình tạo dựng (St 2, 2). Liệu điều đó có nghĩa là Người cảm thấy mệt mỏi không? Chắc chắn Sách Thánh không có ý nói đôi tay Chúa đã rệu rã.

Chúa chúng ta giờ đây tìm chốn nghỉ ngơi vì công việc của Người đã hoàn tất. Trên Thập giá, Người đã tuyên bố rằng: “Mọi sự đã hoàn tất” (Ga 19, 30). Mọi hình ảnh tiên trưng cũng như biểu tượng trong Cựu Ước giờ đây đã được thành toàn. Mọi lời trong Cựu Ước đã được ứng nghiệm. Không có một đấng trung gian nào khác. Thập giá chính là sự đền bù và đền thay vĩnh viễn cho tội lỗi loài người. Trong lúc cầu nguyện với Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nói: “Con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm” (Ga 17, 4). Đó là ý nghĩa của việc Chúa Kitô “ngự”.

Vậy còn “ngự bên hữu Chúa Cha” có nghĩa là gì? Bên hữu hay tay hữu hàm ý quyền năng và sức mạnh, nó có nghĩa là Chúa Kitô sở hữu quyền năng của Thiên Chúa trên khắp vũ trụ. Tay hữu không có nghĩa một sự gần gũi hay lân cận về thể lý; nhưng là sự chia sẻ vinh quang. Chúa Kitô giờ đây là trung gian giữa Thiên Chúa và con người; đó chính là quyền năng của Người.

Biến cố Thăng Thiên của Chúa Giêsu được mô tả trong Kinh Thánh giống như một vị thượng tế tiến vào cung thánh sau bức màn (Hr 6, 19). “Sau bức màn” là một lối diễn tả khá lạ. Nó có nghĩa gì? Nó hướng về một điều gì đó nơi Cựu Ước. Trong đền thờ Giêrusalem, cũng như trong Nhà Tạm khi dân Do Thái còn ở trong hoang mạc trước đó, trước nơi Cực Thánh là một tấm màn rất nặng, rất đẹp và cũng rất huyền bí. Bức màn được treo lên và buông rũ theo đúng chỉ dẫn được Thiên Chúa trao trên núi Sinai. Nó được thêu rất tinh xảo với các sắc màu tím, xanh lam, đỏ thắm, cùng với vải lanh se sợi nhỏ. Rồi có hai hình thần hộ giá bằng chỉ vàng được thêu vào bức vải, như được mô tả trong sách Xuất Hành (Xh 37, 7-8).

Đằng sau tấm màn ấy là những biểu tượng tráng lệ cho lịch sử và đức tin của dân Do Thái. Phía sau tấm màn chính là Nơi Cực Thánh. Vị tư tế được phép tiến vào Nơi Cực Thánh mỗi năm một lần, và cũng chỉ sau khi ông đã thanh tẩy bản thân bằng máu và rảy máu lên tấm màn. Khi điều này diễn ra, người dân trong một khoảnh khắc ngắn ngủi có được sự giao tiếp với Nơi Cực Thánh, nhờ vào vị tư tế của họ, nhưng trong suốt cả năm thì nơi đó bị che đi.

Người ta có thể nghe thấy tiếng chuông reo, tiếng sột soạt đến từ bộ lễ phục đẹp đẽ của vị tư tế và tiếng bước chân của ông đằng sau tấm màn. Chính tại nơi đó đã có một chút hình bóng mờ nhạt tiên báo về một mầu nhiệm. Người Do Thái đã nói với nhau những gì khi nhìn thấy bức màn đó? Họ biết họ không thể tiến vào trong. Hẳn là họ đã thốt lên rằng: “Cách lòng, cách lòng rồi, chúng ta đã bị chia cách khỏi Thiên Chúa”. Bất cứ người Do Thái chân chính nào trong Cựu Ước hẳn cũng đều cảm thấy một nỗi niềm xao xuyến trong tim như vậy.

Bức màn trong Cựu Ước được gọi là thân thể Chúa Kitô. Khi Người chết trên Thập giá, bức màn Đền thờ bị xé ra (Mc 15, 38). Nó bị xé từ trên xuống dưới, như thể có ý chỉ rằng việc xé ấy không được thực hiện bởi bàn tay con người. Nói cách khác, tấm màn che giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và loài người, giờ đây đã bị phá hủy. Nhờ vào cái chết của Chúa Kitô, giờ đây loài người có thể đến được với Chúa Cha, về được đến thiên đàng.

Khi viên bách quản dùng giáo đâm thủng cạnh sườn Chúa Kitô (Ga 19, 34), sự kiện đó có thể mang tính biểu tượng. Kinh Thánh gọi thân thể Người là “Bức màn”, và khi cạnh sườn Người bị đâm thâu, thì Nơi Cực Thánh, chính là trái tim của Thiên Chúa hằng sống, được tỏ bày. Trong mọi trường hợp, tội của con người trước khi được cứu độ thì không thể tiến vào sau bức màn.

Giờ đây Chúa Kitô đã đảm nhận lấy nhân tính; Người mặc lấy nó; Người sống kiếp phàm nhân; Người chết trong nhân tính, và ngay cả sau khi đã hy sinh chịu chết Người vẫn tiếp tục đảm nhận lấy nó. Người đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa Thiên Chúa và loài người; nhờ đó, Người đã kiến tạo ơn hòa giải.

Khi nhìn vào nhân tính chất đầy tội lỗi của mình, tôi cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng khi nhìn lên nhân tính của Chúa Kitô, giờ đây đã phục sinh và thăng thiên, thì lòng tôi tràn ngập niềm vui hoan hỉ. Nhìn vào nhân tính của mình, tôi cảm nhận được sự bất lực của bản thân. Nhìn lên nhân tính Chúa Kitô, tôi nhìn thấy niềm hy vọng. Nhìn vào nhân tính bản thân, tôi thấy tội của mình. Nhìn lên nhân tính Người, tôi thấy sự thánh thiện của Người, và chính nhân tính thánh thiện của Chúa Kitô giờ đây đã được nâng lên cõi thiên đàng.

Điều đó có nghĩa gì đối với chúng ta? Nhiều lắm chứ, nhưng tôi chỉ xin đề cập tới hai điểm thôi. Điều đó có nghĩa là có một nhân tính, giống như nhân tính của chúng ta, đang ở trên thiên đàng. Hãy thử nghĩ xem, thật kỳ diệu biết bao khi thân xác chúng ta biểu lộ chính sự sống của Chúa Kitô ngay trong lòng nó. Thứ hai, điều đó còn có nghĩa là giờ đây chúng ta có một vị thượng tế trên trời, một Đấng có thể cảm thông với những nỗi yếu hèn của chúng ta, bởi vì Người đã từng gánh lấy chính những yếu hèn đó của kiếp con người.

Tôi nhấn mạnh là có một nhân tính đang hiện diện trên thiên đàng. Khi Thiên Chúa xuống thế, Người đã mặc lấy một nhân tính. Nhân tính bị ném vào trong lò lửa trên đồi Canvê để đền tạ cho tội lỗi loài người. Khi đã phục sinh, nhân tính ấy giờ đây đã lên trời, hầu có một sự liên tục giữa Nhập thể và Thăng thiên.

Trong mầu nhiệm Nhập thể, Chúa chúng ta đã mặc lấy một thân xác, nhưng không chỉ là một thân xác để chịu đau khổ; nếu không, Người chỉ đảm nhận lấy thân xác đó một thời gian rồi lại thôi. Nếu Người chỉ đảm nhận lấy nhân tính đó để chịu khổ vì chúng ta, tại sao Người lại không trút bỏ nhân tính ấy? Suy cho cùng, tấm áo của Người đã bị hư hoại và ô nhơ; tấm áo ấy đã từng chịu nắng nôi khó nhọc. Sao không quăng nó đi cho rồi?

Thật ra, ấy là bởi vì Người không đảm nhận nhân tính chỉ để đền thay tội lỗi chúng ta. Mục đích của Thiên Chúa xuống trần là để mang chúng ta vào trong sự hiệp thông trọn vẹn với Chúa Cha. Người làm điều đó cách nào? Bằng cách thể hiện cho thấy thân xác chúng ta không phải là một rào cản đối với sự hiệp thông thần linh, bằng cách đem nó lên thiên đàng, bằng cách tỏ cho những ai đang phải trải qua thử thách, khổ đau, hiểu lầm, bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc sống, rằng rồi đây thân xác họ sẽ mặc lấy sự vinh hiển trên trời.

Bằng cách thông phần vào Thập giá Chúa Kitô, chúng ta cũng được dự phần vào vinh quang của Người. Một cách nào đó, toàn thể nhân loại đạt được cùng đích của mình trong biến cố Thăng thiên của Chúa Kitô.

Vẻ đẹp tinh khôi của Chúa chúng ta đã về với Cha trên trời. Người đã mang trở về điều mà Người không có khi xuống trần gian. Phải, Người mang theo thần tính của mình; Người đem thần tính trở về cùng với Người. Người cũng còn mang theo một điều gì khác nữa. Đó chính là nhân tính.

Chân lý tuyệt vời và đầy ơn phúc được tỏ lộ trong biến cố ấy. Hãy nhớ là Chúa Giêsu đã nhấn mạnh chân lý ấy khi Người đối diện với Caipha, và Người bảo ông ta rằng một ngày kia ông sẽ nhìn thấy Con Người ngự bên hữu Đấng uy quyền (Mt 26, 64). Nhân tính, điều vốn bị sỉ nhục quá đỗi, nay không còn là một nhân tính phủ đầy nhục nhã nữa, nhưng đã được tôn vinh.

Sự Thăng thiên của Người đã đưa vòng tròn nhân tính ấy – với tất cả thành phần của nó, linh hồn, thể xác – lên tận ngai Thiên Chúa. Mục đích của Nhập thể là để trở nên điều kỳ diệu và khuôn mẫu cho chúng ta. Theo một nghĩa nào đó, bởi vì Chúa Kitô là Adam mới trên trời, thì bạn và tôi cũng ở đó. Bao lâu chúng ta còn ở trong tình trạng ân sủng trên cõi đời này, ấy là bấy lâu chúng ta đã được hưởng vinh phúc thiên đàng cách tiềm tàng rồi đấy.

Nhưng đó không phải là lý do duy nhất Chúa chúng ta đảm nhận lấy nhân tính. Người đảm nhận lấy nhân tính còn là để có thể cảm thông với những nỗi yếu hèn của chúng ta. Thư gửi tín hữu Do Thái có một trích đoạn tuyệt hay về điểm này; tác giả thư ấy viết rằng: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Dt 4, 15).

Chúa chúng ta, Đấng giờ đây đang ngự trên trời, là vị Thượng tế của chúng ta. Người là Đấng trung gian của chúng ta. Người là Đấng thấu hiểu lòng dạ chúng ta. Người không hề xa cách chúng ta bởi Người đã mặc lấy nhân tính như chúng ta. Nhân tính Người, khi còn ở thế gian, đã vô cùng nhạy bén đến nỗi nó cảm thấy ngỡ ngàng phấn khích trước vẻ đẹp của một bông huệ, đã xúc động bồi hồi trước một con chim sẻ bị thương. Bất kỳ thứ gì làm xao xuyến trái tim con người – dù cao cả hay thấp hèn, dù tốt hay xấu, dù bạn hữu hay thù nhân – thì cũng đều có thể lay động nhân tính ấy cách sâu sắc.

Không người nào lại quá xa tầm với của Đấng có tấm lòng thấu hiểu cảm thông tất cả mọi sự như thế, bởi không một ai có thể “thoát” được vòng tay ôm ấp đầy tình yêu của Người. Người có thể cảm thông với kẻ nghèo vì chính Người đã là người nghèo; với kẻ mệt nhọc và nặng gánh bởi chính Người cũng đã từng chịu bao khó nhọc gian nan; với kẻ cô đơn, bị hiểu lầm và bách hại, bởi cũng chính Người đã từng ở trong hoàn cảnh đó.

Bởi vì Người đã từng chịu thử thách, thử thách cả về tinh thần lẫn tâm hồn, thử thách bởi nỗi sợ hãi, bởi nỗi buồn đau sững sờ, bởi sự rối loạn hoang mang về mặt tinh thần, cùng một trận chiến cam go với sự dữ và sự suy sụp tinh thần trầm trọng. Do đó, Người có khả năng cảm nhận được nỗi đau buồn sâu sắc nhất tận sâu trong đáy lòng con người chúng ta.

Và vẻ đẹp của tất cả những điều này là Đấng bị thử thách ấy không hề có tội. Và đó cũng là điều giúp Người có thể uống cạn chén cảm thông, thật sự không ngoài gì khác hơn sự cảm thông và trọn vẹn mọi nỗi sầu thảm, đơn giản bởi vì Người không có tội. Bởi vậy, chúng ta có một nhân tính đang ở trên thiên đàng, nhân tính ấy biết hết mọi yếu hèn và mọi thử thách cam go chúng ta đang gặp phải. Có được một vị thượng tế có thể thấu hiểu những yếu đuối của phận người, đây quả thật là một niềm hy vọng lớn lao và đẹp đẽ dành cho mỗi người chúng ta.

Vậy giờ đây khi Người đã đem nhân tính ấy đi vào trong vinh quang bên hữu Chúa Cha, Người làm gì ở đó? Chẳng lẽ Người không có việc gì làm hay sao? Chắc chắn là phải có rồi. Người là Đấng trung gian cơ mà; chúng ta gần như có thể nói rằng Người liên tục bày tỏ cho Chúa Cha thấy những vết thương của Người và nói rằng: “Cha ơi, hãy nhìn xem, Con đã chịu thương tích trong nhà của những kẻ yêu mến Con. Con yêu mến loài người. Con đã chịu đau khổ cho họ. Lạy Cha, xin hãy tha cho họ”.

Người chính là hy tế của chúng ta; Người mãi luôn hiện diện trước nhan Cha Người. Như Kinh Thánh có chép: “Người hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta” (Dt 7, 25).

Bạn thấy đó, chúng ta thường hiểu sai về cuộc đời Chúa chúng ta. Chúng ta nghĩ rằng Người sống trên trần gian, rao giảng các mối phúc và chịu đau khổ. Chúa chúng ta không xuống trần chỉ để làm những việc đó. Người đang sống, đang cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, Người là Đấng đại diện cho tất cả những ai kêu cầu Người. Người đã hoàn tất công việc của đức công bình trên mặt đất vì Người đã trả nợ tội khiên, nhưng công việc của lòng thương xót trên trời thì vẫn còn dang dở. Công việc ấy cứ mãi tiếp diễn bởi chúng ta cần sự chuyển cầu của Người.

Tôi muốn tiếp tục nói về mầu nhiệm Thăng thiên, nhưng chúng ta cần bàn về một điểm khác trong Kinh Tin Kính. Chúa chúng ta bảo Người sẽ lại đến để xét xử thế gian (Mt 24, 30). Không một tôn sư nào trên đời đã từng nói như thế. Chúa Giêsu phán Người sẽ quay trở lại, trong tư cách Đấng Thẩm phán ngồi trên Tòa Vinh Quang, xung quanh có các thiên thần hầu hạ, để xét xử nhân loại dựa theo công việc họ đã làm. Không ai có thể tưởng tượng nổi rằng có một con người có thể nhìn thẳng vào vực thẳm lương tâm, vạch trần mọi động cơ ẩn giấu và ban hành phán xét chúng cho đến muôn đời.

Khi cuộc phán xét cuối cùng diễn ra, nó sẽ diễn ra ngay trước mặt Thiên Chúa lẫn người phàm. Chúa Giêsu có nói:

“Bấy giờ, dấu hiệu của Con Người sẽ xuất hiện trên trời; bấy giờ mọi chi tộc trên mặt đất sẽ đấm ngực và sẽ thấy Con Người rất uy nghi vinh hiển ngự giá mây trời mà đến. Người sẽ sai các thiên sứ của Người thổi loa vang dậy, tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn từ bốn phương, từ chân trời này đến chân trời kia” (Mt 24, 30-31).

Sẽ thật chẳng hợp lẽ chút nào khi Người chỉ xét xử một khu vực cụ thể, nơi Người đã từng lao nhọc và mặc khải chính mình, trong ngày Người trở lại trong vinh quang. Ngày ấy Người sẽ tỏ lộ chính mình và xét xử mọi quốc gia và dân tộc. Nhưng Người không nói cho chúng ta biết ngày giờ. Người chỉ cho hay ngày ấy sẽ đột ngột mà đến, như một ánh chớp đột ngột xé toang không trung vậy (Mt 24, 27).

Đấng Cứu Thế chính là Vị Thẩm Phán. Cách Người thực hiện cuộc phán xét như thế thật là tuyệt vời. Bạn có thể tưởng tượng nổi không, khi nhìn thấy một vị thẩm phán trần gian tuyên bố với tên tội phạm rằng: “Ngươi có tội. Nhưng ta sẽ gánh lấy tất cả mọi tội lỗi và hành vi gian ác của ngươi. Ta sẽ chịu đau khổ vì ngươi”?

Chúa chúng ta đã mang lấy vào thân mọi tội lỗi của nhân trần, để khi chúng ta ra trình diện trước phép công bình của Thiên Chúa, thì Đấng đã chịu khổ vì chúng ta sẽ xét xử chúng ta. Cuộc phán xét ấy sẽ lạ lùng và kỳ vĩ biết bao khi chúng ta được nhìn thấy Đấng đã hằng yêu thương chúng ta quá đỗi, và như Tin Mừng Matthêu có chép rằng:

“Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái.

Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: ‘Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han.’

Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?’

Đức Vua sẽ đáp lại rằng: ‘Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.’

Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên trái rằng: ‘Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm viếng.’

Bấy giờ những người ấy cũng sẽ thưa rằng: ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu?’

Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: ‘Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy.’

Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời” (Mt 25, 31-46).

Đó là hình ảnh về ngày phán xét chung trong Tin Mừng Matthêu, và cũng là câu chuyện về sự trở lại của Chúa Kitô. Ý tứ ở đây là Chúa chúng ta đã mang lấy vào thân một khuôn mẫu nhân tính. Nhân tính giống như một chiếc khuôn mà chính phủ dùng để đúc tiền xu. Một khi cái khuôn đúc đã được chế tạo, thì hàng triệu đồng xu có thể được tạo hình theo đó.

Chúa Kitô, “con người khuôn mẫu” của chúng ta, đã sinh ra trên cõi đời; Người đã chịu đau khổ, đã vượt thắng cám dỗ, đã trỗi dậy từ cõi chết và đã được tôn vinh bên hữu Chúa Cha. Chúng ta giống như những đồng xu. Bởi vì Người đã được sinh ra, thì chúng ta cũng được sinh ra như vậy, không phải theo cách xác thịt, nhưng là một sự sinh hạ thiêng liêng.

Bởi vì Người đã vét rỗng chính mình và đón nhận đau khổ, thì chúng ta cũng phải vét rỗng chính mình. Thập giá trở nên điều kiện cần có cho ngôi mộ trống, và một khi cuộc đời chúng ta được đúc theo khuôn mẫu là cái chết chịu đóng đinh của Chúa Giêsu, thì cũng chính cuộc đời ấy sẽ được khuôn đúc theo sự Phục sinh và Thăng thiên đầy vinh hiển của Người.

Chúng ta có thật sự đang là những đồng xu của Người hay không? Cũng như năm xưa Người đã hỏi mượn một đồng tiền, thì một ngày kia Người cũng sẽ hỏi xin đồng xu của chúng ta, và Người sẽ hỏi: “Hình và danh hiệu khắc trên đồng xu này là của ai, có phải của Caesar không?” Thật vậy, chúng ta thuộc về thế gian, hay chúng ta thuộc về Thiên Chúa? Ước chi được như vậy.

0 Nhận xét