18. Thánh Phêrô: Đại diện Chúa Kitô

Cho tới lúc này đây chúng ta đã nhấn mạnh ý tưởng rằng Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô. Giáo Hội ấy hữu hình nơi các thành viên của Giáo Hội trên mặt đất này; Giáo Hội ấy vô hình ở chỗ có Chúa Kitô là vị Thủ Lãnh vô hình, và có Chúa Thánh Thần là nguồn sống của Giáo Hội. Chúng ta cũng đã nói rằng Giáo Hội này là một xã hội, một cộng đoàn, một “qahal”, có liên hệ một cách nào đó với cộng đoàn và “qahal” của Cựu Ước, và ngang qua Giáo Hội này Thiên Chúa rộng ban công nghiệp của Chúa Kitô trên đồi Canvê.

Tôi muốn trình bày cho thấy thánh Phêrô nắm giữ quyền tối thượng, không chỉ về mặt danh dự, nhưng còn là quyền tài phán trên Giáo Hội. Thánh Phêrô là đại diện Chúa Kitô, vị Giáo chủ, Giáo hoàng đầu tiên. Thật lạ lùng khi có những người tin rằng sự kiện Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô là điều có trong Kinh Thánh, nhưng lại không công nhận một vị thủ lãnh. Suy cho cùng, làm sao chúng ta biết được rằng Nhiệm Thể ấy tồn tại trên mặt đất này? Nhận biết Chúa Kitô, Đấng đã từng dạo bước trên trần gian, là điều rất dễ, đơn giản là vì đã có người nhìn thấy Người. Nhưng sau khi Chúa lên trời, làm cách nào người ta có thể nhận biết Nhiệm Thể Người và Sự Sống Người được tìm thấy ở nơi nao? Chúa chúng ta đã không bỏ lơ những câu hỏi ấy cho tới khi Người ban một dấu chỉ mà nhờ đó chúng ta nhận biết Nhiệm Thể của Người. Dấu chỉ ấy là dấu chỉ của toàn thể những vật sống động. Sự sống biểu lộ chính mình bằng cách nào? Phải chăng tính hiệp nhất của sự sống được biểu lộ ngang qua cái đầu, vốn chính là nguồn mạch mọi sự vận động cho cơ thể? Đầu là biểu tượng cho sự hiệp nhất của sự sống. Chân và tay có thể bị cắt đi mà không hủy hoại tính hiệp nhất ấy, nhưng mất đầu đồng nghĩa với việc sự sống kết thúc.

Trong trật tự xã hội, phải chăng mọi câu lạc bộ, hội nhóm, đoàn thể, hay quốc gia đều có một thủ lãnh, một tổng thống hay một nhà vua? Ngay cả trong trật tự tâm lý, ý thức về vai trò lãnh đạo là chuyện thường tình. Nơi một đứa trẻ sơ sinh đã có những hoạt động vô cùng phức tạp và đan xen với nhau: những hoạt động thuộc về sinh dưỡng, cảm xúc, cơ học, sự sống và vân vân. Khi đứa trẻ lớn lên, dần dần trẻ đạt đến một giai đoạn mà mọi hoạt động hữu cơ đều xoay quanh đại từ nhân xưng “Tôi”. Trẻ hình thành ý thức về tính hiệp nhất và một điểm quy chiếu, cụ thể là tính tối thượng của ngôi vị.

Nếu Chúa chúng ta thiết lập một nguồn sống trên trần gian này, nhưng sau đó lại không chỉ định một thủ lãnh, thì theo trật tự tâm lý, rốt cuộc chúng ta sẽ tự hình thành ý thức về vai trò thủ lãnh. Thế nhưng, trong thành phố bán-ngoại giáo là Xêdarê Philípphê (Mt 16, 3-18), Chúa Giêsu đã chỉ định một thủ lãnh và xem xét ba dạng thức điều hành giáo hội. Vậy Nhiệm Thể Người sẽ được điều hành ra sao? Có thể sẽ theo ba phương cách: dân chủ, quý tộc và thần quyền. Thể chế dân chủ nghĩa là đa số phiếu sẽ mang tính quyết định, trong đó tất cả mọi người đều có ý kiến hoàn toàn khác biệt nhau về việc xem xét đâu là chân lý và luật lệ. Thể chế quý tộc không phải là điều hướng đến đa số quần chúng, nhưng hướng đến tầng lớp quý tộc, thượng viện, quốc hội hay viện các quý tộc. Còn chế độ thần quyền nghĩa là Thiên Chúa chọn lấy một người, giống như Người đã chọn Abraham, Isaac, Giacóp và Môsê; rồi Người dẫn dắt, bảo vệ và hướng dẫn vị này.

Chúa Giêsu đã không thiết lập Giáo Hội mà lại không suy xét mọi hình thức điều hành có thể có. Người đã khởi đầu với thể chế dân chủ, và câu hỏi Người đặt ra là: “Người ta nói Con Người là ai?” (Mt 16, 13). Hãy chú ý cụm từ “người ta”. Nói cách khác, Người hỏi: “Nếu mở cuộc thăm dò hay bỏ phiếu, thì dư luận chung về bản thân Thầy sẽ là như thế nào?” Và câu trả lời là gì? Thưa, đó là: “Kẻ thì nói Thầy là Gioan Tẩy Giả, người khác lại bảo là Êlia, kẻ khác nữa lại nói là Giêrêmia hay một trong các vị tiên tri” (Mt 16, 14). Không có tính hiệp nhất, không có sự chắc chắn. Cứ thử để cho người ta diễn giải theo ý kiến cá nhân về cách điều hành Giáo Hội đi rồi những gì bạn nhận được là những quan điểm trái chiều và mâu thuẫn. Chân Lý Ngàn Đời, Đấng đã phán rằng giáo huấn của Người không thể bị thay đổi dù một chấm một nét, sẽ không thể chấp nhận một chính quyền trong đó người ta không thể có sự đồng thuận, và do đó Người chỉ dành cho loại hình quản trị đó một sự im lặng đầy vẻ khinh miệt.

Kế đó, Người hướng về thể chế quý tộc: “Anh em bảo Thầy là ai: chính anh em đấy, Nhóm Mười Hai của Thầy; ‘Nhóm quý tộc’ của Thầy, nhóm riêng được Thầy tuyển chọn, anh em bảo Thầy là ai?” (x. Mt 16, 15). Không hề có câu trả lời. Trước hết, đó là bởi vì chưa có ai được chỉ định làm người phát ngôn viên; hơn nữa, một số người trong bọn họ lại nảy ý nghi ngờ. Tôma hẳn là có những nghi ngại; Giuđa cũng không cảm thấy chắc ăn về khả ăn kiểm soát tài chính khôn ngoan của Chúa; Philípphê cũng đang băn khoăn về mối tương quan với Cha trên trời. Chúa Giêsu không thể chỉ xây dựng Giáo Hội Người dựa trên thể chế quý tộc mà thôi.Vào lúc này, có một người đứng ra, dù chưa được sự đồng thuận của anh em mình, nhưng đã nhân danh cả nhóm mà đưa ra câu trả lời chính xác. Đó là: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Đây là người đã được ơn trên soi dẫn mà nói thay cho cả nhóm, đã tuyên xưng thần tính của Chúa Kitô, đã khẳng định đức tin nơi Chúa, và sắp sửa được chọn làm thủ lãnh cho Nhiệm Thể Người. Đây chính là hình thức quản trị của Giáo Hội theo chế độ thần quyền.

Trước khi đi vào nội dung trình thuật, chúng ta phải xem thử xem có những ý kiến phản đối nào? Một ý kiến chống lại trình thuật này đó là Chúa Giêsu không xây dựng Giáo Hội Người trên nền tảng Phêrô. Nhưng đúng hơn là Người xây dựng trên nền tảng là lời tuyên xưng đức tin của Phêrô về thần tính của Chúa Giêsu. Điều này hoàn toàn không đúng, bởi Chúa Giêsu đã nói với Phêrô ở ngôi thứ hai số ít, như chúng ta sẽ thấy nơi bản văn. Chúa nói với Phêrô rằng: “Anh là người có phúc” (Mt 16, 17); “Thầy sẽ trao cho anh…” (Mt 16, 19); “Bất cứ thứ gì anh cầm buộc” (Mt 16, 19). Ở đây không hề có cái gì gọi là tuyên xưng đức tin. Chúa chúng ta đang nói chuyện với một người bằng đại từ ngôi thứ hai số ít, và người này đã được Chúa đổi tên từ Simon thành Đá.

Chúng ta hãy trở lại với bản văn này và xem qua một số điểm. Chúa Giêsu nói với Simon Phêrô rằng: “Anh là người có phúc’ (Mt 16, 17). Những lời này chúng ta đã được nghe trước đây. Đây là những lời mà vị Tổng lãnh thiên thần đã phán với Đức Maria trong biến cố Truyền Tin. Khi vị Tổng thần hiện ra với Mẹ và hỏi xin liệu Mẹ có muốn trao cho Thiên Chúa một bản tính nhân loại, qua đó Người có thể cứu độ thế gian hay không, thì trước đó vị Tổng thần đã cung kính chào Mẹ: “Bà là người có phúc” (Lc 1, 42). Tại sao lại là “có phúc”? Bởi vì Mẹ đã được Chúa ban tặng ân huệ trở nên thân mẫu Chúa Kitô. Cũng giống như trong biến cố Truyền Tin, Chúa Giêsu đã khen Phêrô rằng “anh là người có phúc”. Như Đức Mẹ được chúc phúc vì Mẹ là mẹ Chúa Kitô, Đấng là Đầu của Nhiệm Thể, thì Phêrô cũng được chúc phúc vì ngài sẽ trở thành Đấng đại diện Chúa Kitô, và là vị thủ lãnh hữu hình của Nhiệm Thể Người.

Kế đó, Chúa Giêsu nói tiếp: “Hỡi Simon con ông Giôna, anh là người có phúc” (Mt 16, 17). Chúa Giêsu vẫn còn đang gọi ngài bằng tên riêng, tên gia đình. Chúa vốn đã ban cho ngài một cái tên khác, là Kêpha theo tiếng Aram – có nghĩa là tảng đá – hoặc là Phêrô theo tiếng Anh. Nhân nói về lời tuyên xưng đức tin, Chúa Giêsu cho Phêrô hay rằng: “Không phải máu huyết xác thịt đã mặc khải cho anh điều này” (Mt 16, 17). Nói cách khác, không phải nhờ vào bản năng hay lý trí mà anh biết được Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa. Tương tự như thế, xét về lý trí cách riêng thì chúng ta cũng không thể biết Chúa Kitô là Con Thiên Chúa nổi đâu. Lý trí có thể giúp gợi lên cho chúng ta những bằng chứng đáng tin cậy, nhưng dù sao đi nữa thì vẫn cần phải có sự soi sáng bởi ơn trên. Thánh Phêrô đã được hưởng một ơn soi sáng rất đặc biệt, bởi ngài nhận ra Chúa Kitô không chỉ là Đấng Mêssiah mà thôi, nhưng còn là Người Con của Chúa Cha Vĩnh Cửu.

Hãy nhớ là tất cả các Tông đồ đều có mặt tại Xêdarê Philípphê, vậy mà Chúa Giêsu chỉ nói chuyện với một người trong số họ. Chúa nói với Phêrô; cũng hãy lưu ý rằng đây là cuộc nói chuyện mang tính cá nhân: “Anh là đá” (Mt 16, 18). Hãy chú ý đến điểm song song giữa lời tuyên xưng của Phêrô và lời chuyển giao quyền bính của Chúa chúng ta. Phêrô nói: “Thầy là Đức Kitô”; Chúa đáp lời: “Anh là đá”. Phêrô tuyên xưng sự vĩ đại của Chúa Kitô; đến lượt mình, Chúa Kitô công bố sự vĩ đại của thánh tông đồ. Hãy nhớ là cái tên Phêrô nghĩa là Tảng Đá. Đó là một cái tên mới; phù hợp với sứ vụ của ngài. Đây không phải là lần đầu cụm từ “tảng đá” xuất hiện trong Thánh Kinh. Trong suốt Cựu Ước, Thiên Chúa được gọi là Đá Tảng. Như chúng ta sẽ thấy về sau, Thiên Chúa còn được gọi là Đấng mang chìa khóa (Key Bearer); và Người cũng được gọi là Mục Tử. Chúa chúng ta là Con Thiên Chúa, Đá Tảng mọi thời, thế mà Người đã đặt Phêrô làm một viên đá. Đọc qua Cựu Ước và bạn sẽ nhận thấy có nhiều trường hợp Thiên Chúa được gọi là Đá Tảng. Trong sách Xuất Hành (17, 6) và sách Dân Số (20, 8), có một tảng đá tuôn trào ra nước uống, và sau này thánh Phaolô có nói: “Và Tảng Đá đi theo họ là Chúa Kitô” (1Cr 10, 4). Nói cách khác, tảng đá mà Môsê dùng gậy đập vào là hình ảnh tiên trưng cho Chúa Kitô, Đấng là Đá Tảng Vĩnh Cửu.

Trong Cựu Ước, có bốn mươi lần Thiên Chúa được gọi là Tảng Đá. Trong sách Đanien, Đấng Mêssiah được gọi là Tảng Đá sẽ nghiền nát bức tượng có chân làm bằng đất sét ra bụi đất (Đn 2, 45). Chính Chúa Giêsu đã phán rằng ai tuân giữ giới răn của Người sẽ giống như ngôi nhà được xây trên đá (Mt 7, 24). Hàm ý ở đây chính là Con Thiên Chúa, trong Cựu Ước, cụ thể trong sách Isaia, được gọi là Đá Tảng của Israel. Đấng Kitô này, trong tư cách là Con Thiên Chúa, đã nâng đỡ “qahal” cũ, vậy nên khi tới lượt mình, Phêrô, trong tư cách là một tảng đá, cũng sẽ nâng đỡ “qahal” mới, “ecclesia” mới, hay còn gọi là Giáo Hội mới. Nói cách khác, có một sự thông truyền năng quyền thần linh từ Thiên Chúa sang cho Phêrô, để ông trở nên đá tảng nền móng. Chúa Kitô là Đá Tảng, nhưng Người là Đá Tảng vô hình; còn Phêrô được đặt làm Đá Tảng hữu hình cho Thân Thể Huyền Nhiệm của Chúa Kitô.

Nếu được phép sử dụng dẫn chứng mang tính học thuật, trong Tin Mừng Mátthêu bản Hy Lạp, nơi có câu “Anh là Phêrô và trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy” (Mt 16, 18), thì từ “Phêrô” ở đây là “Petros” và từ “đá” là “petra”. Trong văn học cổ điển, chẳng hạn như của Hômer, bạn sẽ thấy từ “petros” có nghĩa là một hòn đá nhỏ, là một phần của một tảng đá khổng lồ như Gibraltar. Chúa chúng ta đã thật sự nói với Phêrô rằng: “Anh thật sự là ‘petros’ của Thầy, là ‘Petra’ linh thiêng”. Cả hai đều mang tính ngôi vị, Chúa Kitô Đá Tảng là một ngôi vị, và Phêrô Đá Tảng cũng là một ngôi vị. Trong tư cách là thân thể hữu hình, Giáo Hội có Phêrô là đá tảng nền mỏng hữu hình. Còn trong tư cách là một thực tại thiêng liêng vô hình, Nhiệm Thể Chúa Kitô có Chúa Kitô trên trời là Đá Tảng Thần Linh Vĩnh Cửu.

Chúa Giêsu nói: “Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy, ‘ecclesia” của Thầy, ‘qahal’ của Thầy”. Chứ Người không nói: “Thầy sẽ xây các Giáo hội của Thầy”. Giáo Hội là Thân Thể Người. Chúa Kitô không thể có nhiều thân thể, nếu không Người sẽ là quái vật. Toàn bộ cấu trúc sống động của Nhiệm Thể được đặt nền móng trên một con người, là người sẽ nhận được ơn trợ lực từ trời cao. Hãy lưu ý câu “Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”. Cũng chính từ “xây” này đã được dùng trong sách Sáng Thế. Trong bản dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh, bản Vulgata, chính từ này đã được sử dụng để mô tả cách Thiên Chúa dựng nên Evà từ Ađam cũng như cách Chúa Kitô xây dựng Giáo Hội Người. Ađam giống như một công trình chưa hoàn tất, mãi cho tới khi Êva được dựng nên. Kinh Thánh chép Chúa Kitô đạt đến sự viên mãn của Người nơi Hiền thê Người là Giáo Hội. Cũng như Êva được dựng nên từ Ađam, thì Giáo Hội cũng đựng dựng nên từ Chúa Kitô.

Chúa Giêsu phán: “Cửa hỏa ngục sẽ không thắng được” (Mt 16, 18), sẽ không thắng được Giáo Hội. Ở đây Chúa chúng ta không ám chỉ các cánh cửa theo nghĩa đen, nhưng đúng hơn là một thế giới vô hình, không thấy được. Cụm từ “chiến thắng”, như trong “sự dữ sẽ không thể chiến thắng”, có nghĩa là áp đảo, khuất phục (overpower). Chúa chúng ta bảo đảm với Phêrô rằng Giáo Hội của Người sẽ không thể bị phá hủy, không thể bị sai lầm, bởi vì “cửa” tượng trưng cho “quyền lực”. “Cửa” trong văn hóa Do Thái là nơi các nhà cố vấn, những người quyền thế, hay người trong triều đình hội họp gặp gỡ. Sách Sáng Thế viết rằng ông Lót ngồi nơi cửa thành Sôđôm (St 19, 1); sách Bà Rút chép ông Bôát xử lý các vấn đề pháp lý tại cửa thành Bêlem (R 4, 1). Hỏa ngục có cửa môn, có ngai tòa, có hội đồng, và có cả kho tàng quyền lực của riêng nó. Nó sẽ luôn luôn chống đối Giáo Hội, nhưng Chúa chúng ta đã hứa rằng cửa hỏa ngục sẽ không thắng nổi. Nói cách khác, Giáo Hội sẽ mãi trường tồn theo năm tháng. Hãy lưu ý là đặc ân này không được trao cho con người Simon, nhưng là cho Phêrô. Chúa chúng ta đã hứa Người sẽ mãi ở với Giáo Hội của Người cho tới tận thế (Mt 28, 20).

Rồi Người nói thêm rằng: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời” (Mt 16, 19). Hãy thử tưởng tượng mà xem, Phêrô không chỉ là đá tảng nền móng, mà một khi ngài đã ở bên trong Giáo Hội này, ngài sẽ nhận được chìa khóa. Chúa Giêsu nói rằng: “Ta là Cửa” (Ga 10, 9). Trong sách Khải Huyền, Chúa Kitô vinh quang được mô tả là đang cầm chìa khóa, và sách Khải Huyền cho hay: “Người đã mở thì không ai đóng lại được, và Người đã đóng thì không ai mở ra được” (Kh 3, 7). Cũng như Đá Tảng Vĩnh Cửu đã đặt nên một đá tảng hữu hình, như vị Mục Tử Tốt Lành sắp sửa đặt Phêrô làm Người Mục Tử, thì Đấng Mang Chìa Khóa, Đấng Mang Chìa Khóa Vĩnh Cửu, cũng trao cho Phêrô chìa khóa của Người. Nói cách khác, Phêrô thật sự là Đại diện của Chúa Kitô: Thầy trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi” (Mt 16, 19). Điều này có nghĩa là bất cứ điều gì Phêrô phán truyền hay cấm đoán, là ngài đã thực hiện nhân danh Chúa Kitô. Ôi, năng quyền thật lớn lao thay! Trời và đất hòa thành một quyền lực duy nhất. Vì trời dường như trở thành một tiếng vọng của đất, như thể Thiên Chúa đang lắng tai nghe vị Đại diện của Ngài là Phêrô. Năng quyền của Phêrô là quyền lập pháp bưởi ngài có thể cầm buộc và tháo cởi. Đó là một quyền bính mang tính điều hành quản trị, vốn sẽ gìn giữ thánh nhân khỏi mọi sai lầm về mặt giáo lý. Quyền bính này không hề có giới hạn, vì Chúa chúng ta đã phán rằng bất cứ điều gì Phêrô cầm buộc, thì chính Người cũng sẽ cầm buộc.

Ở đây Chúa Giêsu đã hứa chuyển giao quyền bính cho Phêrô, nhưng cũng có những chỗ khác trong Thánh Kinh Người liên kết Phêrô với chính mình. Một khoảnh khắc thú vị là vào đêm Tiệc Ly. Tất cả các Tông đồ tụ họp xung quanh Chúa Giêsu, và Người nói với Phêrô rằng: “Simon ơi, Satan đã xin Thầy cho được sàng anh em như sàng gạo” (Lc 22, 31). Hãy lưu ý chỗ số nhiều ở đây; Chúa nói rằng “Satan xin sàng anh em”. Rồi Người lại tiếp: “Nhưng Thầy đã cầu nguyện để anh giữ được đức tin. Phần anh, một khi đã trở lại, anh hãy củng cố anh em mình” (Lc 22, 32). Lưu ý, Chúa Giêsu bảo Satan muốn sàng tất cả bọn họ. Nhưng Người cầu nguyện cho ai? Ở đây Người không cầu nguyện cho cả nhóm Mười Hai; Người chỉ cầu nguyện cho một mình Phêrô thôi. Người gọi ông bằng ngôi thứ hai số ít, bởi vì nếu tảng đá nền móng sụp đổ, thì toàn bộ tòa nhà cũng sụp đổ theo. Chúa Giêsu cũng bảo Phêrô rằng ông sẽ vấp ngã; và thật đúng như thế chỉ vài tiếng đồng hồ sau, khi ông chối Chúa trước mặt con hầu gái rằng: “Tôi không biết người ấy!” (Mt 26, 72). Nhưng Chúa Giêsu nói Người sẽ trở lại vào ngày Lễ Ngũ Tuần, và Người sẽ là nguồn trợ lực cho nhóm Mười Hai. Bị cô lập và tách biệt khỏi Phêrô vị Đại diện Chúa Kitô, các Tông đồ sẽ rất yếu đuối. Chúng ta không được cho rằng quyền bính này chỉ được trao cho mình Phêrô mà thôi, bởi lúc đó Chúa không hề gọi ông bằng tên Simon. Simon đã chết, nhưng Phêrô thì sống mãi. Piô, Lêô, Biển Đức và những vị khác đã chết, nhưng Phêrô vẫn còn mãi cho tới tận cùng thời gian.

Một trường hợp khác cho thấy Chúa Giêsu liên kết Phêrô với chính mình là vào lúc trả thuế Đền thờ. Đây là lần duy nhất trong Thánh Kinh cho thấy Thiên Chúa liên hợp với con người dưới đại từ nhân xưng “chúng ta”. Hãy nghĩ thử xem, khi còn là một đứa trẻ, có lẽ bạn đã cảm thấy tự hào biết bao khi được cha mình đưa tay ôm lấy và nói: “Hai cha con mình cùng nỗ lực cố gắng nhé”. Vào thời điểm trả thuế Đền thờ, Chúa Giêsu bảo Phêrô hãy trả cho cả hai thầy trò, Người bảo “đóng thuế phần Thầy và cả phần anh nữa’ (Mt 17, 27). Rồi Người cho biết thêm là “để khỏi làm gai mắt người ta” (Mt 17, 27). Ở chỗ này Chúa Giêsu nên một với Phêrô; Phêrô được liên kết với Thầy trong một phương thế không hề giống một ai khác trên đời: “Chúng ta”. Chúa Kitô và Phêrô. Đó là lý do vì sao các văn thư của Giáo hoàng luôn khởi đầu bằng hai từ “Chúng ta”.

Sự hiệp nhất riêng biệt này tồn tại giữa “Patros” và “Petra”, Đá Tảng vô hình và Đá Tảng hữu hình, giờ đây được tiếp diễn sau biến cố Phục Sinh. Trên bờ biển hồ Galilê, Chúa chúng ta hỏi Phêrô ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” Bởi vì không thể có sự chuyển giao quyền bính nếu như không có tình yêu, cho nên sau khi Phêrô ba lần khẳng định tình yêu của mình, Chúa chúng ta đã ba lần trả lời ông rằng: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy”, “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”, “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (Ga 21, 15-17). Ở đây, Vị Mục Tử Nhân Lành chuyển giao quyền bính cho Phêrô người mục tử. Chỉ có duy nhất một đàn chiên vì chỉ có duy nhất một Mục Tử, và chỉ có duy nhất một người làm thủ lãnh đàn chiên. Nói cách khác, Giáo Hội bao gồm các giám mục, linh mục và giáo dân, cũng như năm xưa Chúa chúng ta đã liên kết chính mình với các Tông đồ, môn đệ và dân chúng; và Phêrô chính là vị thủ lãnh. Những lời Chúa Giêsu nói, trong tiếng Hy Lạp là “boskine poinine”; nghĩa là: “Anh đã nhận lệnh rồi đó, anh đã được ban quyền tài phán và quyền thực thi. Để anh có thể chăn dắt chăm nuôi chiên con và chiên mẹ của Thầy, Thầy chuyển giao quyền năng Mục Tử của Thầy cho anh”. Rồi Chúa nói cho Phêrô biết ông sẽ chết cách nào, rằng ông cũng sẽ chịu đóng đinh. Và sau này Phêrô đi đến Rôma, nơi ông chịu tử hình. Ông bảo lý hình rằng ông không xứng đáng được chết giống như Thầy mình, nên ông xin được đóng đinh ngược đầu xuống đất.

Đá Tảng Vĩnh Hằng đã nói với Phêrô rằng ông sẽ là Đá Tảng. Hòn đá tảng nền móng sẽ được đặt ở đâu nếu chẳng phải là gần sát mặt đất? Đá Tảng được đặt ngày hôm ấy đã trở nên nền móng cho Giáo Hội, và từ đó tới nay, Giáo Hội luôn có một Mục Tử, một Đá Tảng, một Đấng Mang Chìa Khóa, một Giáo chủ, một thợ xây cầu nối giữa trời và đất, một Đấng đại diện Chúa Kitô, một Giáo hoàng, một Đức Thánh Cha. Một thủ lãnh duy nhất cho một Thân Thể duy nhất, nhờ vậy chúng ta biết Giáo Hội ở nơi đâu. Như người ta có nói trong thế kỷ đầu tiên, “Ubi Petrus ibi ecclesia”, Phêrô ở đâu, Giáo Hội ở đó.

0 Nhận xét