Một người làm trong rạp chiếu phim đến gặp tôi và kể tôi nghe câu chuyện này. Một đêm nọ, sau khi cuộc trình chiếu kết thúc, anh ta đang nói chuyện với một số người làm trong khâu hậu trường thì có người hỏi anh rằng: “Anh là người Công giáo đúng không?”
Anh ta bảo: “Tôi từng là người Công giáo, nhưng tôi đã đọc khá nhiều tài liệu về nghiên cứu tôn giáo học so sánh, tâm lý học, tâm thần học và siêu hình học, và rốt cuộc tôi phải từ bỏ đạo Công giáo. Không một ai có thể trả lời cho những câu hỏi của tôi cả”.
Có người đề nghị rằng: “Sao anh không đến gặp Đức Giám mục Sheen, và xin ngài giải đáp cho những vấn nạn của anh?”
Anh ta bảo: “Vậy nên tôi mới đến đây và tôi có một số câu hỏi muốn trình bày với Cha.”
Tôi trả lời rằng: “Trước khi anh đặt câu hỏi, anh hãy quay về khách sạn và chia tay với cô gái hát hợp xướng đang cùng chung sống với anh đã. Rồi sau đó anh hãy quay lại đây và đặt câu hỏi cho tôi”.
Anh ta giơ tay lên, cười và nói: “Ồ, chắc chắn rồi! Tôi thật ra đang muốn lừa Cha thôi, cũng như cái cách tôi đã lừa gạt chính mình vậy”.
Một ít lâu sau tôi gặp lại anh ta và hỏi: “Anh vẫn còn đang bị mất phương hướng, có phải không?”
Anh ta đáp: “Đúng vậy, nhưng tôi vẫn chưa mất hy vọng đâu”.phương hướng, có phải không?”
Anh ta đáp: “Đúng vậy, nhưng tôi vẫn chưa mất hy vọng đâu”.
Đây chính là một thí dụ tuyệt hảo về một con người đang cố che giấu lương tâm của mình. Lương tâm luôn song hành với chúng ta trên đường đời bằng những lời đối đáp gây khó chịu tột cùng. Chúng ta rất khác biệt so với các loài thụ tạo khác, bất kể bao nhiêu điểm tương đồng mà chúng ta muốn khăng khăng bày tỏ. Điều làm chúng ta khác biệt chính là chúng ta có khả năng suy tư phản tỉnh. Không một hòn đá nào có thể tự động xoay mình để nhìn lại chính nó. Cũng không có trang sách nào lại có thể được thấm nhập vào một trang sách khác đến nỗi thấu hiểu được trang sách đó. Nhưng con người chúng ta lại có năng lực nhìn lại chính mình. Chúng ta có thể hài lòng với bản thân; chúng ta cũng có thể giận dữ với chính mình. Chúng ta hoàn toàn có thể mang lấy đủ mọi thứ căng thẳng, vốn là điều không xảy ra nơi các loài động vật. Bạn sẽ chẳng bao giờ thấy một chú gà hay một chú lợn bị mắc chứng “Mặc cảm Oedipus”. Không một loài động vật nào bị mặc cảm cả. Các nhà khoa học đã tìm cách gây ra chứng loét dạ dày ở các loài động vật, nhưng con người chúng ta thì lại tự rước chứng bệnh đó vào người. Thật thế, nếu để tự nhiên, loài vật sẽ chẳng bao giờ mắc bệnh này cả. Nhưng bản thân chúng ta lại cảm thấy có một sự căng thẳng giữa điều chúng ta là và điều chúng ta nên là, giữa lý tưởng và thực tế. Một cách nào đó, chúng ta giống như người leo núi; trong lúc đang trèo thì chúng ta có thể thấy được đỉnh núi vút cao, nhưng đồng thời, khi nhìn xuống thì chúng ta lại thấy một vực thẳm sâu hoắm mà chúng ta có thể rơi xuống đó bất cứ lúc nào.
Tại sao lương tâm lại gây khó chịu lạ lùng cho chúng ta, nhưng lại không hề làm thế đối với tất cả các sinh vật khác? Các bạn hãy thử nghĩ về vô vàn những cách thế lạ thường nhằm trốn tránh lương tâm của mình. Thuốc ngủ và rượu bia chỉ là một số ít phương thế để né tránh sự đối đáp khó chịu tột cùng của lương tâm. Các bạn có bao giờ từng để ý là một số người có thể trở nên vô cùng bi quan hay chưa? Khi đi chơi dã ngoại thì họ luôn nghĩ là sẽ có mưa. Lúc nào mọi thứ cũng đều có thể trở thành thảm họa. Tại sao họ lại có thái độ bi quan này? Tự thâm tâm, họ biết lối sống cũng như các hành vi phạm đến lương tâm của họ là không đáng để được hưởng một phán quyết khoan hồng. Do vậy, họ tự mang lấy phán quyết vào chính mình và luôn luôn chờ đợi cái ngày tự lên ngồi trên chiếc ghế điện. Phán quyết của họ bị ảnh hưởng nặng nề bởi thái độ bi quan yếm thế.
The poor neighbor never can do anything good in the ordinary affairs of life.
Một biểu hiện tâm lý khác của việc tránh né lương tâm chính là thói chỉ trích thái quá. Người khác luôn luôn sai lầm! Các bạn có bao giờ chú ý tới các tiêu đề trên báo chưa? Chúng luôn bắt đầu với việc chỉ trích người khác.
“Những phiền phức với chồng tôi là…”
“Tôi không thể chịu nổi vợ tôi vì…”
“Thằng con tôi thật cứng đầu…”
Trong mắt họ, người bên cạnh đáng thương ấy dường như chẳng bao giờ có thể làm được điều gì tốt đẹp, ngay cả trong những chuyện bình thường của cuộc sống.
Tại sao chúng ta lại có thái độ chỉ trích khắt khe thái quá như vậy? Tổng thống Abraham Lincoln đã từng đưa ra câu trả lời đúng đắn. Có lần ông ấy phải nằm viện ở Alexandria trong thời Nội chiến, thời ấy các vị tổng thống chưa được nhiều người biết đến cho lắm. Người phát ngôn của ông ấy đã chưa cho lưu hành ảnh chụp của ông. Và khi ông vào viện, một thanh niên đã chạy tông vào người ông và làm ông ngã sóng soài trên nền nhà.
Người đó hét vào mặt Tổng thống Lincoln rằng: “Tránh đường cho tao mau lên, đồ cái thứ lêu nghêu to xác!”
Vị Tổng thống nhìn anh ta và bảo: “Này anh bạn trẻ, điều gì đang làm anh khó chịu trong lòng?”
Vậy, với thái độ chỉ trích khắt khe, chúng ta nhận thức nơi mình một ý niệm đích thực về công lý, nhưng đồng thời cũng liên tục cảm thấy bị thôi thúc phải sửa sai người khác. Chẳng hạn, chúng ta không thể nào vào một căn phòng đầy những bức tranh, chỉ duy có một bức lại bị nghiêng đi mất hai inch, mà không cảm thấy phải chỉnh lại cho ngay ngắn được. Chúng ta muốn mọi thứ phải được ngăn nắp. Chúng ta muốn mọi sự phải có trật tự hẳn hoi, ngoại trừ chính bản thân mình.
Có rất nhiều cách nhắm mắt bịt tai trước những lời đối đáp gây khó chịu của lương tâm. Bản tính con người luôn hành động theo cùng một cách. Chúng ta hãy cùng quay về thời của Shakespeare. Rất lâu trước khi chúng ta khám phá ra những nghiên cứu sâu sắc về tâm thần học, thì Shakespeare, trong tác phẩm bi kịch nổi tiếng là Macbeth, đã mô tả hai trường hợp điển hình, một về chứng loạn thần và một về chứng rối loạn thần kinh. Ông Macbeth thì mắc chứng loạn thần, còn Bà Macbeth, vợ ông ta, thì lại bị rối loạn thần kinh. Các bạn có nhớ câu chuyện đó không? Để có được ngai vàng, hai người họ đã cho ám sát nhà vua là Duncan và địch thủ của Macbeth là Banquo. Macbeth bị lương tâm cắn rứt đến độ ông ta rơi vào chứng loạn thần, và bắt đầu nhìn thấy hồn ma của Banquo. Ông ta tưởng tượng ra hình ảnh Banquo ngồi trên một chiếc bàn. Và con dao găm dùng để giết nhà vua thì cứ liên tục lởn vởn trước mặt ông ta: “Cái gì đang lởn vởn trước mặt ta thế này, một con dao găm ư?” (2.1). Sự tưởng tượng chính là hình ảnh phóng chiếu của lương tâm dằn vặt vì tội lỗi của ông ta. Các bạn hãy chú ý đến sự khôn ngoan thông thái vĩ đại của Shakespeare trong việc chỉ ra rằng bất cứ khi nào có một cuộc cách mạng chống lại lương tâm, thì những gì theo sau nó luôn là chủ nghĩa hoài nghi, quan ngại, vô thần và sự chối bỏ hoàn toàn triết lý sống. Macbeth đã rơi vào một tình cảnh trong đó cuộc đời, đối với ông ta, chỉ như là một ngọn nến và chẳng có ý nghĩa gì:
Ngày mai, rồi lại ngày mai, và rồi lại ngày mai. Bằng một nhịp độ nhỏ nhặt, nó cứ thế len lỏi vào ngày này qua ngày khác. Đến cái âm tiết cuối cùng của dòng thời gian được ghi khắc, Và mọi ngày hôm qua chỉ đều soi sáng những kẻ ngu si. Đây là con đường dẫn tới cái chết đầy bụi bặm. Hãy tắt đi, tắt đi, hỡi ngọn nến ngắn ngủi! (5.5) Chủ nghĩa hoài nghi, bất khả tri và vô thần không có nền tảng lý trí. Những chủ nghĩa đó đều đặt nền móng trên trật tự luân lý cùng với sự nổi loạn chống lại lương tâm.
Hãy nhìn vào Bà Macbeth; sự dằn vặt tội lỗi của bà ta được biểu lộ qua chứng rối loạn thần kinh. Người tỳ nữ nói về bà ta rằng đôi khi bà ta dành tới mười lăm phút để rửa tay (5.1). Cảm giác tội lỗi hiện hình nơi bà, và thay vì tẩy rửa tâm hồn mình, điều mà bà đáng lý ra nên làm, thì bà lại phóng chiếu mặc mặc cảm tội lỗi đó nơi hành vi rửa tay. Bà nói: “Dù cho có sử dụng mọi thứ nước hoa Ả Rập thì ta cũng chẳng thể làm cho đôi tay này nên thơm tho được” (5.1).
Có lần tôi đang hướng dẫn một phụ nữ trẻ, và cô ấy đã dành tới mười lăm tiếng đồng hồ để thâu băng và ghi âm. Sau buổi hướng dẫn đầu tiên để xưng tội thì cô ấy bảo người thư ký của tôi rằng: “Đủ rồi. Không học hành gì nữa. Tôi không còn muốn nghe bất cứ điều gì về Giáo hội Công giáo”.
Người thư ký của tôi gọi cho tôi, và tôi bảo hãy giúp cô ta hoàn tất nốt ba bữa học còn lại về chủ đề xưng tội và sau đó tôi sẽ gặp cô ta. Sau khi ba buổi học kết thúc, cô ta rơi vào một cơn khủng hoảng thật sự, cô la hét và gào thét rằng: “Cho tôi ra khỏi đây! Tôi không muốn nghe gì liên quan tới Giáo Hội nữa!”
Phải mất khoảng năm phút để cô bình tĩnh lại.
Tôi nói với cô ta: “Chị này, hoàn toàn không có sự tương xứng nào giữa những điều chị đã nghe và cách chị phản ứng, cho nên tôi nghĩ là phải có một cái gì đó. Chị có biết tôi nghĩ vấn đề nằm ở đâu không? Tôi cho là chị đã từng phá thai.”
Cô ấy đáp: “Phải!”
Cô ấy cảm thấy nhẹ lòng khi nói ra được điều đó. Lương tâm bất an của cô biểu hiện ra bên ngoài qua hành vi chống đối việc xưng thú tội lỗi; các chân lý đức tin thì không phải là vấn đề. Thông thường, chúng ta nhận thấy rằng một cuộc tấn công chống lại tôn giáo sẽ mang lại cảm giác thỏa mãn trong chốc lát cho một lương tâm bất ổn. Lương lầm nó cũng giống như chính quyền nước Mỹ vậy, được chia thành ba ngành: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Về lập pháp: Quốc hội sẽ làm luật. Về hành pháp: tổng thống sẽ đảm bảo sự thực tiễn trong việc thượng tôn pháp luật. Về tư pháp: Tòa án Tối cao sẽ định đoạt việc tuân thủ pháp luật đó. Cả ba điều này đều nằm trong con người chúng ta. Trước tiên, chúng ta có một Quốc hội. Có một luật bên trong bảo rằng: “Ngươi sẽ phải làm cái này, ngươi không được làm cái kia”. Lương tâm khiến cho chúng ta cảm thấy vui vẻ bình an khi làm điều tốt, và cảm thấy dằn vặt khó chịu khi làm điều xấu. Luật này đến từ đâu? Từ bản thân mình ư? Không phải thế. Bởi nếu tôi tự mình làm ra luật thì tôi cũng có thể tự phá hủy luật được. Luật đó đến từ xã hội ư? Cũng không, bởi vì đôi khi lương tâm sẽ khen ngợi tôi trong lúc xã hội kết án tôi; và đôi khi lương tâm lên án tôi trong lúc xã hội ca tụng tôi. Vậy khía cạnh hành pháp của lương tâm, vốn sẽ phân xử liệu tôi đã tuân theo luật hay chưa, đến từ đâu? Nó nói rằng: “Ta có mặt ở đó, và Ta đã thấy ngươi!”. Một số người lại bảo: “Đừng quan tâm đến nó!”. Nhưng chúng ta biết rất rõ là phải nghe theo tiếng lương tâm! Chúng ta cũng biết những động cơ thúc đẩy hành vi đó.
Cuối cùng, lương tâm phán xét chúng ta và khen ngợi chúng ta trong một số hành vi nhất định. Cảm giác vui thích khi được lương tâm khen ngợi thì cảm giác cũng có điểm giống với việc chúng ta được cha mẹ khen. Cảm giác buồn rầu chán nản vì bị lương tâm trách móc thì cũng giống với việc bị cha mẹ khiển trách. Chắc chắn phải có một ai đó đứng sau lương tâm, chính là Đấng Chí Thánh, chuẩn mực cho đời sống của chúng ta. Hầu hết các vấn đề liên quan đến tâm thần có nguồn gốc từ một sự nổi loạn trong tâm trí nhằm chống lại lề luật được khắc ghi trong tâm khảm chúng ta. Chỉ khi con người quay trở về với lương tâm thì bình an và hạnh phúc cũng sẽ tự khắc trở lại. Cuộc sống rất khác biệt. Điều mà chúng ta tìm kiếm chính là sự bình an trong tâm hồn.
Lương tâm mách bảo chúng ta khi chúng ta làm điều sai trái, đến độ chúng ta cảm thấy như thể là đã tự bẻ gãy một chiếc xương bên trong cơ thể. Gãy xương gây ra đau đớn bởi vì khúc xương đó không nằm ở vị trí thuộc về nó; lương tâm cắn rứt chúng ta vì nó không được nằm ở đúng vị trí mà nó thuộc về. Nhờ vào khả năng suy tư phản tỉnh, chúng ta có thể nhìn thấy chính mình, nhất là vào ban đêm. Như có người từng viết: “Mọi kẻ vô thần đều sợ bóng tối”. Và lương tâm như là một giọng nói nhỏ nhẹ, cất lên rằng: “Anh không cảm thấy hạnh phúc, vì đây không phải là cách anh nên sống” Tự do của bạn sẽ không bao giờ bị hủy diệt. Bạn cảm nhận được một lời mời gọi ngọt ngào và tự hỏi: “Tại sao nó lại không được nên mạnh mẽ hơn?” Nó sẽ mạnh mẽ hơn nếu chúng ta biết lắng nghe đấy.
Thiên Chúa tôn trọng tự do mà Người đã ban cho chúng ta. Hẳn là các bạn có thể đã từng xem thấy bức tranh của họa sĩ Holman Hunt vẽ Chúa chúng ta, một tay cầm đèn, tay còn lại gõ vào cánh cửa phủ đầy dây leo. Họa sĩ Holman Hunt đã bị chỉ trích vì bức tranh đó. Họ nói rằng cánh cửa mà lại không có then cài bên ngoài, và điều này đúng thật. Nhưng cánh cửa đó tượng trưng cho lương tâm; và cửa lương tâm chỉ có thể được mở ra từ bên trong mà thôi!


0 Nhận xét