20. Chủ nghĩa Độc Đoán và Giáo Hội


Trên thế giới thực sự có một thứ gọi là chủ nghĩa độc đoán... Bản chất của chủ nghĩa độc đoán là gì? Tôi cho rằng nó có ba đặc điểm: nó bắt trí óc phải phục tùng một hệ thống giáo điều; nó lấy nỗi sợ làm nền tảng cho sự vâng phục; và nó hủy diệt tự do tư tưởng. Giáo Hội không mang bất kỳ đặc tính nào trong số đó. Giáo Hội không thể có những đặc tính ấy, bởi Chúa chúng ta đã sống giữa một môi trường đầy tính độc đoán. Dân chúng nơi Người sinh sống ở dưới ách thống trị của người Rôma; hơn nữa, những người Pharisêu cũng mang tinh thần độc đoán. Khi Chúa chúng ta thiết lập Giáo Hội, dĩ nhiên Người đã làm cho Giáo Hội trở thành một thành lũy chống lại mọi hình thức độc đoán.

Hãy để ý cách Người đối chiếu Giáo Hội của Người với kiểu cai trị độc đoán: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.” (Mt 20, 25-27)

Chúa chúng ta đã cứu chúng ta và Giáo Hội Người khỏi chủ nghĩa độc đoán bằng cách nào? Ở đây chúng ta sẽ đối chiếu ba đặc điểm của chủ nghĩa cộng sản với ba đặc điểm của Giáo Hội. Trước hết, trong Giáo Hội, chúng ta không vâng phục một hệ thống, nhưng là một Ngôi Vị. Thứ hai, nền tảng của sự vâng phục trong Giáo Hội không phải là sợ hãi mà là tình yêu. Và sau cùng, trong Giáo Hội, tự do tư tưởng được bảo vệ nhờ lòng tôn kính đối với chân lý.

Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng điểm. Trước hết là vấn đề giáo điều. Trong chủ nghĩa cộng sản, cũng như trong bất kỳ hình thức độc đoán nào khác, người ta phải phục tùng một hệ thống, một mạng lưới rất phức tạp gồm những giả định, quy tắc, chỉ thị và mệnh lệnh, thường mang tính trừu tượng, chẳng hạn như chủ nghĩa duy vật biện chứng của cộng sản, học thuyết đấu tranh giai cấp và lý thuyết giá trị lao động.

Người Công giáo không khởi đầu bằng một hệ thống giáo điều. Chúng ta khởi đi từ một Ngôi Vị, chính là Chúa chúng ta, Đấng tiếp tục sống trong Nhiệm Thể của Người là Giáo Hội.

Đức tin là gì? Đức tin là cuộc gặp gỡ giữa hai ngôi vị: bạn và Chúa chúng ta. Đức tin không phải là sự gắn bó với một giáo điều trừu tượng, nhưng là sự hiệp thông với một Ngôi Vị, Đấng không thể lừa dối cũng không thể bị lừa dối. Người độc đoán khởi đi từ đường lối của đảng; còn chúng ta khởi đi từ Chúa chúng ta, Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã phán: “Thầy là sự thật” (Ga 14, 6). Nói cách khác, chân lý được đồng nhất với chính Ngôi Vị của Người.

Hãy nhớ lại khi bạn còn nhỏ. Bạn đã từng nghĩ gia đình chỉ đơn giản là tổng hợp những mệnh lệnh do cha hoặc mẹ đưa ra hay sao? Gia đình còn nhiều hơn thế, phải không? Điều cốt yếu chính là tình yêu dành cho chính con người của cha mẹ bạn.

Đức tin của chúng ta cũng vậy. Trước hết và trên hết, đó là đức tin vào Chúa Kitô, Đấng đang sống trong Nhiệm Thể Người là Giáo Hội; chỉ sau đó mới đến những điều chúng ta minh nhiên tuyên xưng. Nếu Chúa chúng ta không mặc khải những điều ấy, chúng ta đã chẳng tin. Nếu chúng ta đánh mất Người, chúng ta cũng sẽ đánh mất đức tin. Người đứng hàng đầu. Mọi sự khác đều đứng sau. Không có giáo lý, luân lý, tín điều, phụng vụ hay niềm tin nào tách rời khỏi Người. Chính Người là đối tượng của đức tin, chứ không phải một giáo điều trừu tượng.

Có thể lấy một ví dụ. Khi một chàng trai yêu một cô gái, có một tập tục là anh trao cho cô một chiếc nhẫn và hai người đính hôn. Nhưng điều quan trọng nhất trong tập tục ấy không phải là chiếc nhẫn mà là tình yêu dành cho chính con người cô gái. Đối với chúng ta cũng vậy.

Đối với người Công giáo, không có điều gì trong Giáo Hội đáng tin nếu tách khỏi Chúa Kitô, Đấng đang sống trong Giáo Hội. Nếu chúng ta không tin Chúa chúng ta là Thiên Chúa, nếu chúng ta chỉ nói Người là một người tốt, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ tin vào Bí tích Thánh Thể hay mầu nhiệm Ba Ngôi. Nếu chúng ta tin Chúa chúng ta chỉ đơn giản là một con người đã chết và tan thành bụi đất, chúng ta cũng sẽ không tin vào ơn tha thứ tội lỗi.

Nhưng chúng ta biết Chúa chúng ta đã từng giảng dạy, cai quản và thánh hóa qua một thân xác thể lý mà Người nhận lấy từ Đức Mẹ; và giờ đây chúng ta biết Người vẫn tiếp tục giảng dạy, cai quản và thánh hóa trong Nhiệm Thể mà Người đã đón nhận từ lòng nhân loại. Thân thể thứ nhất của Người được Chúa Thánh Thần bao phủ; Nhiệm Thể Người cũng được Chúa Thánh Thần bao phủ trong ngày Lễ Ngũ Tuần. Vì thế, chúng ta đón nhận mọi lời của Người, chứ không chỉ những gì các môn đệ của Người đã ghi chép. Điều chúng ta đón nhận là Ngôi Lời hằng sống, Đấng vẫn sống xuyên suốt các thế kỷ.

Bạn hẳn đã từng nghe người ta nói: “Tôi không muốn bất kỳ giáo hội nào đứng giữa tôi và Chúa Kitô!”

Không có một Giáo Hội nào đứng giữa chúng ta và Chúa Kitô cả. Giáo Hội chính là Chúa Kitô! Giáo Hội không đứng giữa Người và chúng ta cũng như thân xác tôi không đứng giữa tôi và tâm trí vô hình của tôi. Giáo Hội là điều thánh Augustinô gọi là totus Christus, “Đức Kitô toàn thể”; vì thế, Giáo Hội chính là chân lý của Người đang sống xuyên suốt mọi thời đại.

Hãy tạ ơn Thiên Chúa vì đức tin của bạn, đức tin vào Ngôi Vị Chúa Kitô. Người là Đấng đương thời vĩnh cửu!

Người ta còn đưa ra một lời cáo buộc khác, đó là nếu bạn thuộc về Giáo Hội thì bạn bị cai trị bằng nỗi sợ. Quả thật, trong mọi hệ thống độc đoán, nỗi sợ là nền tảng của sự vâng phục. Nhưng vì chúng ta khởi đi từ Ngôi Vị Chúa Kitô, nền tảng của sự vâng phục nơi chúng ta không phải là sợ hãi, mà là tình yêu.

Bạn không thể yêu chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhưng bạn có thể yêu một con người. Giữa Chúa chúng ta và chúng ta có một mối dây tình yêu, và hai điều ấy không thể tách rời. Chúa chúng ta đã không trao cho thánh Phêrô quyền cai quản và lãnh đạo Giáo Hội cho đến khi thánh Phêrô ba lần thưa với Người rằng mình yêu mến Người (Ga 21, 15-17).

Quyền truyền lệnh trong Giáo Hội chỉ phát xuất từ sự vâng phục Chúa Kitô. Sự phục tùng của người Công giáo đối với Giáo Hội giống như sự tin tưởng và thuận phục mà chúng ta dành cho một người bạn hết lòng yêu thương mình. Nó cũng giống như sự vâng lời của một người con đối với người cha đầy tình yêu.

Chúng ta không cảm thấy có một khoảng cách nào giữa Chúa chúng ta và chúng ta. Cũng như người học trò càng gắn bó với thầy mình thì càng thấm nhuần những chân lý của người thầy, chúng ta cũng càng trở nên kết hợp với Chúa Kitô khi càng yêu mến Người và càng đón nhận chân lý của Người.

Càng nhận biết Chúa chúng ta, càng vâng phục chân lý được biểu lộ qua Giáo Hội Người, chúng ta càng ít sợ hãi. Kinh Thánh nói: “Tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi” (1 Ga 4, 18). Chân lý của Người càng trở nên chân lý của chúng ta, chúng ta càng yêu mến Người.

Nếu chẳng may chúng ta lìa bỏ đức tin, thì điều đó không giống như thôi yêu thích một cuốn sách, một bài hát hay một món đồ trang sức. Đó là đánh mất một tình bạn. Đó là lìa xa một tình yêu.

Tôi thật sự không thể tưởng tượng điều gì lạnh lẽo hơn, nô lệ hơn, làm tê liệt lý trí con người hơn và hủy hoại tự do hơn cái quyền lực vô danh khủng khiếp mà hàng triệu người đang cúi đầu trước nó: quyền lực của cái gọi là “người ta”.

“Người ta nói năm nay ai cũng mặc màu xanh.”

“Người ta nói người Công giáo thờ Đức Mẹ.”

“Người ta nói Freud mới là đúng.”

“Người ta” là ai?

Vô số nô lệ và con rối mỗi ngày cúi đầu trước huyền thoại vô hình và độc đoán mang tên “người ta”. Chẳng lạ gì những chế độ độc tài xuất hiện để nhân cách hóa thứ nô lệ khủng khiếp ấy.

Hàng triệu người không chịu đón nhận quyền bính của Chúa Kitô, Đấng đã sống lại từ cõi chết và vẫn tiếp tục sống trong Giáo Hội. Chúng ta biết mình vâng phục ai! Còn họ không biết mình đang vâng phục ai. Họ không thể chỉ ra một con người hay một đối tượng cụ thể đứng đằng sau cái “người ta” vô danh và đáng sợ kia. Nhưng tạ ơn Chúa, chúng ta biết. Chúng ta vâng phục Chúa chúng ta và Giáo Hội.

Tôi đã nhận được hàng ngàn lá thư từ những người đã rời bỏ Giáo Hội, hoặc đang sống bên ngoài Giáo Hội vì họ đã bước vào một cuộc hôn nhân thứ hai hay thứ ba không thành sự. Tất cả đều diễn tả một nỗi bất hạnh sâu xa trong lòng, một sự chán chường, ghê sợ và lo âu. Không phải vì họ đã vi phạm một điều luật, nhưng vì họ đã phá vỡ mối dây tình bạn với Thánh Tâm Chúa.

Nỗi cô đơn của họ cho thấy rằng khi không còn một Ngôi Vị để yêu mến, người ta cũng không còn sự chắc chắn; chỉ còn lại sự phục tùng. Nhưng khi có tình yêu dành cho Chúa Kitô, tình yêu ấy bắt đầu tin mọi sự.

Không ai có thể vượt qua tình yêu mà Chúa Kitô đã tỏ bày khi cứu chuộc chúng ta và thiết lập Nhiệm Thể Người là Giáo Hội. Không thể có một sự chắc chắn nào lớn hơn trên đời này. Tình yêu của Người có thể cứu chúng ta khỏi chủ nghĩa độc đoán cùng với nỗi sợ hãi của nó, và làm cho chúng ta thực sự trở thành những thụ tạo biết yêu thương, được kết nối với Người bằng những sợi dây trìu mến, Đấng đã yêu chúng ta cho đến chết.

Đôi khi người ta nói rằng Giáo Hội hủy diệt tự do tư tưởng và gần như tiêu diệt lý trí. Thực ra điều ngược lại mới đúng. Chính chủ nghĩa độc đoán mới hủy diệt tự do tư tưởng đích thực.

Bạn phải luôn phân biệt giữa tự do khỏi việc suy nghĩ và tự do để suy nghĩ. Ma quỷ đã khá thành công trong việc thuyết phục thế gian rằng nếu bạn chấp nhận chân lý của Thiên Chúa thì bạn không còn tự do; thậm chí nếu bạn chấp nhận bất kỳ chân lý nào, bạn đang hủy diệt lý trí của mình. Nó đã thuyết phục nhiều linh hồn rằng bất cứ giới hạn nào đặt trên lý trí đều là sự hủy diệt lý trí.

Trong vườn địa đàng, ma quỷ đã gợi ý cho tổ tiên chúng ta rằng nếu họ không biết điều ác thì Thiên Chúa, bằng cách nào đó, đang hủy hoại tự do của họ. Vì vậy nó hỏi đại ý: “Tại sao Thiên Chúa lại truyền lệnh cho các ngươi? Đối với Người, các ngươi sẽ không thực sự tự do cho đến khi biết điều ác” (x. St 3, 5).

Nói cách khác, ma quỷ đã bảo tổ tiên chúng ta rằng mục đích của Thiên Chúa là ngăn cản sự tìm hiểu tự do; Người muốn giữ nhân loại trong sự ngu dốt.

“Đừng để bị lừa. Thiên Chúa là một ông già cổ hủ.”

“Người là kẻ phản động!”

“Người không muốn các ngươi biết điều ác.”

“Hãy tự do đi!” Đó là lời của Satan.

Thiên Chúa bị trình bày như kẻ thù của chân lý, cũng giống như một đứa trẻ năm tuổi cho rằng người cha không cho nó cầm súng săn đang tước đoạt tự do của nó. Đối với ma quỷ, sự trung thành lâu dài với người phối ngẫu, với quê hương hoặc với chân lý đều là dấu hiệu của nô lệ và thiếu tự do.

Có thật là càng đón nhận chân lý Thiên Chúa thì chúng ta càng mất tự do không?

Trước khi đi học, tôi được tự do tin rằng Shakespeare sinh năm 1224. Sau cùng người ta bảo tôi Shakespeare không sinh năm 1224 mà sinh năm 1564. Người ta cho tôi một niên đại chính xác. Tôi nhận ra rằng giáo dục thực sự đã hạn chế “tự do” của tôi trong việc mắc sai lầm.

Trước khi đi học, tôi cũng từng nghĩ H₂O là những chữ cái viết tắt của tên một điệp viên. Rồi tôi rơi vào tay một ông thầy “phản động”. Ông ấy chấm dứt tất cả chủ nghĩa “tự do” của tôi. Bạn có biết ông ấy bảo H₂O là gì không? Ông ấy nói đó là công thức hóa học của nước!

Tôi càng học thì càng mất đi tự do để sai lầm.

“Tự do” là một từ bị lạm dụng rất nhiều. Chúng ta muốn được tự do khỏi một điều gì đó chỉ để được tự do cho một điều khác. Tôi muốn được tự do khỏi chủ nghĩa cộng sản để hoàn thiện linh hồn mình. Tôi muốn được tự do khỏi đói khát để phát triển thân xác Thiên Chúa đã ban cho tôi. Tôi muốn được tự do khỏi sợ hãi để có thể tự do yêu thương.

Bạn thấy đó, tự do khỏi một điều gì luôn nhằm đến tự do cho một điều gì. Có ích gì khi được giải thoát khỏi mọi thứ nếu chúng ta không biết mục đích của tự do là gì?

Tự do không phải là giải thoát khỏi chân lý; tự do là đón nhận chân lý.

Khi nào bạn thực sự tự do nhất? Khi bạn biết sự thật về một sự vật. Bạn được tự do vẽ một tam giác với điều kiện nó có ba cạnh. Bạn được tự do vẽ một con hươu cao cổ với điều kiện bạn vẽ nó có chiếc cổ dài. Bạn được tự do lái xe trên đường với điều kiện bạn tuân thủ luật giao thông. Bạn tự do trong luật lệ; bạn tự do trong chân lý. Bạn được tự do điều khiển máy bay nếu bạn tôn trọng định luật hấp dẫn và những chân lý của ngành hàng không.

Đó chính là điều Chúa chúng ta muốn nói khi Người phán: “Sự thật sẽ giải phóng anh em” (Ga 8, 32).

Chân lý của Giáo Hội là chân lý đến với chúng ta từ Chúa Kitô. Khi chúng ta bắt đầu xa rời nó, chúng ta lạc đường. Trong Giáo Hội có một tấm bản đồ dẫn tới chân lý của Chúa Kitô. Chúng ta có thể rời khỏi con đường vì tội lỗi hoặc sai lầm, nhưng bao lâu còn giữ tấm bản đồ ấy, chúng ta vẫn có thể quay trở lại con đường. Có những người đi chệch đường rồi lại xé luôn tấm bản đồ. Đó mới là bi kịch lớn hơn.

Giáo Hội luôn dạy chúng ta nhìn cả hai mặt của một vấn đề. Tôi đã giảng dạy triết học tại một trường đại học trong hai mươi lăm năm, và tôi nhận thấy những ai giảng dạy trong đại học đều phải biết cả hai phía của một vấn đề.

Tại trường đại học Công giáo nơi tôi giảng dạy, mọi người đều biết những quan điểm của thế giới hiện đại về từng vấn đề. Trong triết học, chúng tôi biết Marx, Sartre, Heidegger, Jaspers, Freud và nhiều người khác. Nhưng bạn có nghĩ các giảng viên trong các đại học thế tục biết gì về tư tưởng Kitô giáo không? Họ thường chỉ biết một phía của vấn đề, chứ không phải cả hai.

Hãy xem thông điệp của Đức Giáo Hoàng về chủ nghĩa cộng sản.

Có một người cộng sản từng nói với tôi rằng phần giải thích hay nhất về chủ nghĩa cộng sản mà ông từng đọc nằm trong thông điệp của Đức Thánh Cha về chủ nghĩa cộng sản, bởi Đức Thánh Cha trình bày cả hai phía của vấn đề.

Hãy nhìn vào công trình triết học và thần học vĩ đại của thánh Tôma Aquinô mang tên Summa Theologica. Mỗi vấn đề mà trí tuệ vĩ đại của ngài khảo sát đều khởi đầu bằng một nghi vấn và một khó khăn; sau đó ngài mới đưa ra câu trả lời. Chúng ta biết cả hai phía của vấn đề. Những người ngoài Giáo Hội thường chỉ biết một phía, và nhiều khi lại là phía sai.

Tự do của chúng ta không phải là độc lập khỏi chân lý, mà là lệ thuộc vào tình yêu. Đó chính là niềm vui của việc làm người Công giáo.

Có lẽ tôi có thể làm rõ điều này bằng một hình ảnh.

Trên một hòn đảo giữa biển có một nhóm trẻ em. Bao quanh hòn đảo là những bức tường lớn. Bên trong các bức tường ấy, lũ trẻ ca hát, nhảy múa và vui chơi.

Một ngày nọ, có một nhóm người đến đảo. Họ là những nhà cải cách. Họ nói với lũ trẻ:

“Ai đã dựng những bức tường này lên? Có người đang hạn chế tự do của các cháu. Hãy phá chúng xuống!”

Lũ trẻ phá bỏ những bức tường.

Nếu bạn trở lại hòn đảo ấy sau đó, bạn sẽ thấy tất cả lũ trẻ co cụm ở chính giữa đảo, sợ chơi đùa, sợ nhảy múa, sợ rơi xuống biển.

Đó chính là Giáo Hội. Bức tường ấy là chân lý. Và như Chúa Kitô trong Giáo Hội đã phán:“Nếu Người Con có giải phóng anh em, thì anh em mới thực sự là những người tự do.” (Ga 8, 36)

0 Nhận xét