Ngày xửa ngày xưa, có hai chú nòng nọc đang vui đùa dưới nước. Một chú nòng nọc nói với bạn mình rằng: “Tớ nghĩ tớ sẽ ra khỏi chỗ này để xem thử thế giới này có còn gì khác ngoài nước hay không”. Chú nòng nọc kia đáp: “Đừng có ngớ ngẩn nữa! Chỉ có duy nhất một điều chúng ta biết mà thôi, đó là nước”. Chúng ta cũng thường tự hỏi: “Liệu có một thứ quyền năng ở trên sự khôn ngoan tài trí cũng như sức mạnh ý chí con người hay chăng?”
Thế gian này còn có những sự khác nữa, ngoài nước và bản tính loài người yếu đuối của chúng ta, và đó chính là ân sủng. Ân sủng (grace) không phải là tên của một cô gái. Ân sủng chính là sự khôn ngoan siêu vượt ngự đến với chúng ta. Ân sủng nghĩa là “gratis”. Chính bởi vì ân sủng là nhưng không, cho nên chúng ta không thể lập công để chiếm hữu nó theo nghĩa chặt. Ân sủng liên tục xuất hiện trong Tân Ước. Trong tiếng Hy Lạp, ân sủng là “charis”, và từ này xuất hiện khoảng 150 lần. Nếu có một sự sống vượt trên sự sống thuần túy tự nhiên, hay nhân loại, vậy rất có thể Kitô hữu chúng ta có đến hai sự sống: một là sự sống tự nhiên hay nhân loại, và hai là sự sống thần linh hoặc thiêng liêng. Trong sách Khải Huyền, có đoạn chép rằng: “Ngươi tưởng ngươi đang sống nhưng kỳ thực là đã chết” (Kh 3, 1), có nghĩa là xét về mặt sinh học thì bạn đang sống, nhưng xét về mặt thiêng liêng thì bạn kỳ thực đã chết rồi. Chúng ta liên tục chạm mặt những xác sống biết đi trên đường phố. Thân xác họ đang sống, nhưng linh hồn thì đã chết. Như linh hồn chính là sự sống của thân xác, vậy thì linh hồn được sống cũng là nhờ ân sủng, hay nói cách khác là nhờ tham dự vào sự sống thần linh.
Để có thể hiểu được sự sống thần linh này là gì và nó xuất phát từ đâu, trước tiên chúng ta hãy thử mường tượng ra một căn nhà ba tầng. Căn nhà ấy có tầng hầm, tầng trệt và tầng hai. Tầng hầm thì giống như một nơi tối tăm có nhiều rác thải. Tầng trệt thì khá là thoải mái, và tầng hai thì tuyệt vời. Ba tầng này tương ứng với ba cung cách sống mà người đời thường có. Tầng hầm tương ứng với lối sống theo giác quan và cảm xúc: đồ ăn thức uống, khoái lạc xác thịt và những điều tương tự. Tôi không có ý nói rằng những điều ấy là sai trái, mà chỉ là một dạng văn hóa mà thôi. Vị giáo sư đại tài của trường Harvard là Pitirim A. Sorokin gọi đó là nền văn hóa cảm tính. Tầng trệt là tầng của lý trí, khoa học, nghệ thuật, nhân văn và văn hóa. Và có một tầng khác nữa, tầng ân sủng, là nơi hiện diện một trí tuệ cao siêu hơn, một ý chí mạnh mẽ hơn, cũng như những quyền năng và tình yêu mới mẻ.
Một số người sống ở dưới tầng hầm bảo rằng:” Tôi thấy thế này là đủ thỏa mãn rồi”. Họ giống như những học sinh bỏ học về mặt thiêng liêng, không muốn đi lên tầng trệt để thưởng thức các hoạt động văn hóa vốn đem lại cho nhân loại rất nhiều niềm vui. Có những người sống trên tầng trệt của chủ nghĩa nhân văn, lý trí, khoa học và nghệ thuật. Tuy nhiên, họ cũng có thể mang trong mình sự phản đối, không muốn đi lên một tầm cao hơn.
“Tôi phải đi bộ để lên tới tầng thượng, đúng chứ?”
“Tôi buộc phải có chút nỗ lực, và tôi không muốn làm điều đó”.
Bạn nói rằng trên tầng ba có niềm vui, sự bình an và hạnh phúc tuyệt hảo. Làm sao tôi biết chắc được điều đó? Tôi đã lên đó bao giờ đâu?”
“Tôi sẽ không làm mệt tim mình bằng việc đi bộ đâu”.
Đó không chỉ là thái độ của những người sống trong thế giới của các gian quan, mà còn là của những ai sống thiên về địa hạt của lý trí. Cái bi kịch của cuộc sống không hệ tại ở chỗ những đau khổ mà người ta phải chịu, nhưng là ở những gì họ đã bỏ lỡ. Đó là nỗi buồn to lớn biết chừng nào.
Sách Giáo lý định nghĩa ân sủng là quà tặng siêu nhiên Thiên Chúa ban hầu cứu độ chúng ta nhờ Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta sẽ lược bỏ từ “siêu nhiên”. “Siêu nhiên” ở đây chính là tầng thứ ba trong mối quan hệ với tầng một và tầng hai, nhưng điều này cần nhiều hơn là một sự cắt nghĩa. Giả sử như hoa trên bàn thờ đột nhiên biết đi, chúng bước ra khỏi ngôi nhà nguyện nhỏ bé của chúng ta, đi vào phòng làm việc của tôi và đứng trước mặt tôi. Giả sử là một trong những cánh hoa nhỏ xíu của chúng cúi mình chào tôi. Vậy khả năng chuyển động ấy có thuộc về bông hoa ấy không? Chắc chắn là không rồi. Quà tặng này vượt xa bản tính, sức lực và nhu cầu của một bông hoa. Nói cách khác, đó chính là một món quà siêu nhiên. Giả sử như có một con chó đến đây nghe tôi giảng trong chốc lát và rồi nó đột nhiên cất tiếng rằng: “Ngài bỏ quên một điểm rất hay đấy. Ở chỗ này ngài nên trích dẫn sách Tổng luận Thần học phần hai của thánh Tôma Aquinô. Và tôi nghĩ rằng nếu như ngài đưa vào trong bài giảng trích dẫn này của Shakespeare thì hẳn là nó sẽ giúp ích cho ngài nhiều hơn đấy”. Bản tính loài chó có đòi hỏi việc lên tiếng và lý luận không? Điều này vượt trên bản tính, sức lực và nhu cầu của nó, và đó sẽ là một món quà siêu nhiên dành cho con chó ấy.
Hãy bàn tới con người. Mọi cá nhân đều là một thụ tạo của Thiên Chúa. Cứ cho là tôi đây đột nhiên trở nên con Thiên Chúa đến nỗi không chỉ sự sống của cha mẹ, mà cả sự sống của chính Thiên Chúa tuôn đổ trong tôi; vậy nên lý trí của tôi được đón nhận một luồng sáng mới mẻ chứ không chỉ là ánh sáng lý trí tự nhiên; cũng như ý chí tôi đạt được một nguồn sinh lực mới, chứ không chỉ là là ý chí đớn hèn yếu đuối của bản tính loài người. Nếu tôi trở nên một thụ tạo mới để mình và máu Chúa Kitô cách nào đó ở trong tôi, vậy thì đó sẽ là một quà tặng siêu nhiên Chúa gửi ban theo nghĩa chặt. Chắc chắn tôi không xứng đáng với tặng phẩm ấy. Hơn nữa, khi món quà ấy được trao tặng, nó luôn thay đổi hướng đi của chúng ta, bởi tự bản tính chúng ta là những kẻ yếu đuối. Chúng ta hay nghiêng chiều về tội lỗi, nghi ngờ và ích kỷ. Nếu chúng ta muốn thay đổi đường lối mình, chúng ta phải cần đến một nguồn sức mạnh mới. Con người tự nhiên vẫn tiếp tục tiến bước trên một lối đi nào đó, như Phaolô vẫn sẽ tiếp tục bắt bớ người Kitô hữu; tội nhân vẫn sẽ tiếp tục sống trong vũng tội; người theo chủ nghĩa bất khả tri vẫn sẽ mãi giữ thái độ nghi nan của mình, nếu như chẳng có một quyền năng siêu việt hơn can thiệp vào đời sống họ, và đó chính là quyền năng của ân sủng.
Chúng ta hãy tìm một ví dụ về sự thay đổi hướng đi. Cựu biên tập viên của tờ báo cộng sản “Daily Worker” ở London, cùng với vợ ông ta, đang nghe một chương trình phát thanh radio được thực hiện bởi một ủy viên chính trị của Nga. Bất thình lình, người vợ đứng dậy và tắt đài.
Bà bảo chồng mình – và bạn cũng hãy lưu ý là cả hai vợ chồng đều là người cộng sản – rằng: “Em không tin là ông ta muốn có hòa bình. Em nghĩ ông ta muốn chiến tranh. Ông ta miệng thì nói hòa bình, chứ lòng thì chỉ có chiến tranh thôi”.
Người chồng đáp: “Đừng ăn nói kiểu đó; cách ăn nói của em chẳng giống người cộng sản chút nào”.
Người vợ nói: “Em không quan tâm cách em ăn nói như thế nào”.
Người chồng thẳng thừng: “Nếu em còn ăn nói kiểu đó, anh sẽ báo cáo với đảng!”
Người vợ tuyên bố: “Anh cứ việc đi mà báo cáo!”.
Người chồng băn khoăn: “Nhưng sao kỳ vậy? Cứ như thể em muốn trở thành người Công giáo vậy!”
Người vợ trả lời: “Thì em là người Công giáo mà!”
Người chồng hân hoan: “Bắt tay cái nào đồng chí! Anh cũng vậy nè!”.
Thế là chúng ta có ở đây hai vợ chồng cùng chung sống với nhau, cùng chia sẻ lý tưởng cộng sản, và đột nhiên cả hai cùng thay đổi mà không ai biết sự thay đổi của người kia. Điều gì đã thực hiện cuộc thay đổi kỳ lạ ấy? Một nguồn sức mạnh đến từ bên ngoài, sức mạnh của ân sủng.
Không có chuyện trở nên tốt hơn theo trật tự tự nhiên và đột nhiên xứng đáng nhận lãnh ân sủng, theo nghĩa chặt của từ này. Tự nhiên và ân sủng rất khác biệt nhau, cũng như sự khác nhau giữa sinh ra và tạo thành. Khi bạn làm nên một cái gì đó, tức là bạn đã làm nên một vật không giống mình. Khi bạn làm một cái bàn, cái bàn ấy không cùng chia sẻ bản tính của bạn. Khi cha mẹ sinh ra một đứa con, tức là họ đã sinh ra một “cái gì đó” giống như họ. Khi Thiên Chúa dựng nên chúng ta, Người là Đấng sáng tạo chúng ta; nhưng khi Người sinh ra chúng ta, thì Người sẽ không chỉ là Đấng sáng tạo, mà còn là Cha của chúng ta. Khi ân sủng xuống trên chúng ta, như Chúa Giêsu nói, chất nhựa tuôn chảy từ thân cây nho ra tới các cành, và cũng chính dòng nhựa sống ấy tiếp tục chảy đi khắp các cành cây. Chúng ta bắt đầu được dự phần vào bản tính của Chúa chúng ta, cho nên Người tuôn đổ bản tính của Người xuống trên chúng ta. Thánh Gioan nói: “Chúng ta đã lãnh nhận từ nguồn sung mãn của Người” (Ga 1, 16). Khi chúng ta đáp lại ân sủng, chúng ta trở nên một điều gì đó giống như cây bút chì trong tay. Cây bút chì ấy, bao lâu còn được bàn tay ta điều khiển, sẽ làm bất cứ điều gì bàn tay muốn nó làm. Chúng ta là khí cụ của Thiên Chúa, và chúng ta vâng nghe lời Người giống như cây bút chì vâng theo ý muốn của bàn tay. Và một khi có sự vâng phục tuyệt đối, sự thánh thiện sẽ nảy mầm. Đó chính là định nghĩa thế nào là một vị thánh. Một vị thánh là người luôn sẵn sàng vâng nghe tiếng Chúa giống như cây bút chì trong tay tôi đây.
Ân sủng có tác động thế nào trên bản tính loài người chúng ta? Ân sủng biến thân thể trở nên đền thờ Thiên Chúa; đó là một trong những lý do dẫn đến sự thanh khiết. Đền thờ là nơi Thiên Chúa ngự trị. Bạn có nhớ lúc Chúa Giêsu tiến vào Đền thờ Giêrusalem không? Khi người Pharisêu đòi một dấu lạ, Chúa phán: “Hãy phá hủy Đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ xây dựng lại” (Mc 14, 58). Người không nói về đền thờ trần thế. Người có ý nói tới Đền thờ là chính Thân thể Người, bởi vì Thiên Chúa cư ngụ trong nhân tính của Chúa Kitô. Người ngự trong chúng ta nhờ vào việc thông phần. Thân thể là thánh thiêng và chúng ta tỏ lòng tôn kính nó. Ân sủng đem lại hiệu quả chủ yếu ở trí khôn và ý chí.
Trí khôn là năng lực mà nhờ đó chúng ta nhận biết vạn vật; ý chí là năng lực mà nhờ đó chúng ta đưa ra sự chọn lựa. Đối tượng của trí khôn hay lý trí là sự thật; còn đối tượng của ý chí là sự thiện hay tình yêu. Khi ân sủng tác động đến trí khôn, nó biểu lộ chính mình như một luồng sáng. Thật khó để diễn tả tác động của ân sủng trên tâm trí con người. Bạn hãy thử tưởng tượng ánh sáng mặt trời chiếu tỏa qua cửa kính màu. Ánh sáng ấy bị khuếch tản và tỏa ra đủ loại màu sắc khác nhau. Đó chính là tác động của ân sủng lên trí khôn; nó đem lại cho trí khôn một tầm nhìn mới mẻ. Đối với lý trí, đức tin giống như kính thiên văn đối với đôi mắt vậy. Kính thiên văn không hủy hoại đôi mắt, nhưng kiện toàn đôi mắt. Khi đức tin hiện diện trong chúng ta, chúng ta có được một niềm xác tín mới mẻ vượt trên lý trí. Tất cả những gì bạn được hưởng nhờ thông qua những chỉ dẫn này chỉ là động lực để tin mà thôi. Còn niềm xác tín thì phải phát xuất từ đức tin, mà đức tin lại là quà tặng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu nói với Phêrô rằng: “Không phải xác thịt đã mặc khải cho anh điều này, nhưng là Cha Thầy Đấng ngự trên trời” (Mt 16, 17). Sự xác tín đến từ đức tin thật lớn lao đến nỗi không gì có thể hủy diệt được. Sự xác tín thì cao trọng hơn những lý do và động lực dẫn tới đức tin, chính bởi vì ánh sáng thì từ Thiên Chúa mà đến.
Chúng ta có rất nhiều niềm xác tín mạnh mẽ hơn những lý do mà mình có thể trưng ra. Nếu chúng ta bị chất vấn là hãy chứng tỏ bản thân là con hợp pháp, điều này sẽ khá là khó đấy. Chúng ta không có giấy tờ chứng thực cho chuyện đó. Nhưng không gì có thể làm lung lay niềm xác tín của chúng ta. Một người thông thái có thể trưng dẫn các lý do phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa và thần tính của Chúa Kitô cho một trong những đứa con của chúng ta, nhưng người ấy sẽ chẳng thể nào hủy hoại được đức tin của đứa trẻ ấy. Đức tin không chỉ đem lại niềm xác tín, mà nó còn ban cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ, một nhãn quan được canh tân về sự sinh hạ, đau khổ, cái chết, niềm vui, lạc thú, văn chương và nghệ thuật. Những ai sở hữu điều mà thánh Phaolô gọi là tâm trí xác thịt thì chẳng thể hiểu được những sự thuộc đức tin; điều này giống như nỗ lực dạy cho người mù hiểu biết về màu sắc. Rất thường xuyên, những ai thiếu vắng ân huệ đức tin thì luôn tự hỏi làm sao chúng ta có thể xác tín đến như thế.
“Tại sao chúng ta lại có được nhãn quan về đau khổ như thế này?”
“Tại sao chúng ta lại không bị ưu tư sầu não?”
“Và tại sao chúng ta không nghĩ tới việc tự tử?”
Đơn giản là vì chúng ta nhìn mọi sự cách tỏ tường hơn. Chúng ta có được ánh sáng mà họ không hề có. Có lẽ chúng ta đã nói rằng chúng ta cũng có cùng cặp mắt vào ban đêm như ban ngày, nhưng mắt ta không nhìn thấy gì vào ban đêm. Lý do là vì sao? Bởi vì chúng ta thiếu ánh sáng mặt trời. Cứ để hai người tiếp cận cùng một vấn đề giống nhau và họ sẽ có cách nhìn nhận rất khác nhau. Đó là vì một người chỉ có nơi mình lý trí và giác quan, còn người kia thì có đức tin.
Ngoài ra còn có ý chí. Khi ân sủng tác động lên ý chí, nó trao ban cho ý một nguồn sinh lực mới mà chúng ta chưa hề có trước đây. Nó ban cho chúng ta một khả năng mới mẻ hầu chống trả lại cơn cám dỗ. Rất thường xuyên, mỗi khi có ai đó trở nên nô lệ cho tội, chúng ta nói về người đó như đang chịu ảnh hưởng bởi một sự cưỡng bách nào đó. Chúng ta nói rằng: “Ồ, anh ta là tay ăn nhậu không biết kiểm soát.” Đó là sự thật. Những lời Chúa chúng ta sử dụng để diễn tả sự cưỡng chễ là “nô lệ”. Điều này không có nghĩa là những người này đã hoàn toàn hủy hoại tự do bản thân. Vẫn luôn còn đó một chút tự do nơi người nghiện rượu, nơi một kẻ biến thái, và nơi bất cứ ai bị làm nô lệ cho tội lỗi. Những tội vốn khởi đầu bằng hành vi tự do nơi mỗi người có thể đã làm suy yếu ý chí của họ, chứ không hủy diệt hoàn toàn. Vẫn còn đó khả năng cho ân sủng thiết lập một bước đệm khởi đầu trong đời sống của họ. Ân sủng tự thân có “ngày trọng đại” (D-day) của riêng nó, và Thiên Chúa vẫn có thể bước vào trong cuộc đời của những người này. Khi chúng ta tìm cách giúp cho người khác chữa lành các thói hư tật xấu, thì tật xấu ấy vẫn không hoàn toàn bị khu trừ, mà ta chỉ có thể lấn át nó đi mà thôi. Làm cách nào để lấn át nó đi? Bằng cách đặt vào cuộc sống của mình một điều gì đó mới mẻ. Ân sủng của Chúa sẽ tiến vào một khi chúng ta bắt đầu yêu mến Người; và rồi, những tật xấu ấy sẽ bắt đầu bị đẩy lui. Một khi tình yêu mới ngự đến, chúng ta sẽ được thay đổi. Tôi nhớ có lần giúp đỡ mục vụ cho một phụ nữ nghiện rượu, và tôi bảo cô ta: “Chị yêu rượu hơn bất cứ thứ gì khác trên đời. Chính vì lý do đó, tôi chẳng thể chữa cho chị cho tới khi chị bắt đầu yêu một thứ gì khác.” Vậy là chúng tôi cầu nguyện xin Chúa ban ân sủng, và ân sủng được ban xuống và chị được chữa lành.
Đây chính là tác động mà ân sủng tạo ra cho những ai bị suy nhược về ý chí. Ân sủng cũng ban cho chúng ta sức mạnh để gây ảnh hưởng lên tha nhân. Nếu những lời tôi nói đây có chút ảnh hưởng nào đó, ấy là không phải vì tôi có kiến thức hay sức mạnh. Nếu tôi ảnh hưởng lên được các bạn, ấy là bởi Thần Khí và ân sủng Chúa đang hoạt động nơi các bạn. Lời lẽ của tôi chẳng có nghĩa lý gì. Tất nhiên là tôi không hề bắt đầu những bài hướng dẫn này mà không cầu nguyện xin Thần Khí và ân sủng Chúa ban cho tôi sức mạnh, nhưng nếu có một lúc nào đó các bạn được biến đổi, đừng có nói rằng:” Ôi, chúng con rất biết ơn Đức Tổng”. Đức Tổng Sheen đâu có làm gì đâu. Tôi chỉ là một khí cụ mỏng giòn của Thiên Chúa đầy lòng từ bi mà thôi.
Nếu bạn được biến đổi, vậy thì đã có một sự khác biệt giữa bản tính của bạn và ân sủng. Trước khi có ân sủng, bạn hành động theo cách riêng của mình; sau khi lãnh nhận ân sủng, bạn hành động theo đường lối Chúa. Đó là sự khác biệt đấy. Lương tâm bạn trở nên bén nhạy, và điều trước đây được cho là quý giá đối với bạn, giờ đây lại chẳng là gì, và điều trước đây bị coi là rác rưởi, giờ đây lại trở nên quý giá bội phần. Đó chính là ân sủng. Ân sủng là sức mạnh siêu nhiên soi sáng tâm trí bạn để bạn nhìn thấy được những sự vượt trên lý trí; đó chính là sức mạnh siêu nhiên kiện cường ý chí bạn để thực thi những việc trước đây bạn không thể làm nổi. Ân sủng biến đổi bạn từ một thụ tạo trở nên con Thiên Chúa, và quan trọng nhất là ân sủng cho phép bạn gọi Thiên Chúa là Cha.
0 Nhận xét