44. Chết và Phán Xét

Sau cùng, chúng ta cũng phải bàn đến chủ đề về sự chết và phán xét. Nếu có điều gì diễn tả nét đặc trưng của cuộc sống, thì đó là việc con người chúng ta không muốn chấp nhận các ranh giới. Tất cả chúng ta đều muốn cái vô hạn. Đó là lý do vì sao chúng ta thường xuyên thấy thất vọng. Chúng ta nhận ra sự chênh lệch khủng khiếp giữa một lý tưởng mà chúng ta đã thai nghén và thực tại phũ phàng. Nhưng dù vậy, chúng ta vẫn tiếp tục tìm kiếm, bởi chúng ta có một khả năng vô hạn để tiếp nhận nhiều hơn nữa. Giả sử như bạn được sở hữu một điều gì đó tốt lành, thì thật chẳng thể tưởng nổi khi bạn nói rằng bạn không muốn nhiều hơn nữa. Tự nhiên đã đặt ra giới hạn cho sự “tiếp nhận nhiều hơn” nơi thân thể chúng ta. Có một giới hạn cho những thú vui thể xác; khi cứ “chất” đầy thêm thì đến một lúc những thú vui đó trở nên nỗi dày vò đau đớn và chúng ta sẽ cảm thấy chán ngán chúng. Thế nhưng, những khao khát nơi linh hồn chúng ta thì lại không có giới hạn, nó sẽ chẳng bao giờ đạt được tới điểm thỏa thuê. Đối với chân lý để bạn tìm hiểu, sự sống để hưởng thụ, tình yêu để cảm nếm và vẻ đẹp để trải nghiệm, chúng hoàn toàn không hề có giới hạn.

Nếu đời chỉ là thế này thôi, chắc chắn chúng ta đã bị lừa dối. Chúng ta sẽ nổi đóa, giống như một người phụ nữ lên cơn điên khi bà ở trong một căn phòng chứa đầy đồ thời trang nhưng lại không có lấy một tấm gương soi. Bởi vì bạn có một thân xác và một linh hồn, bạn có biến một trong hai trở thành ông chủ. Bạn có thể khiến thân xác phục lụy linh hồn, mà đó vốn là điều Kitô giáo vẫn hay dạy, hoặc bạn có thể để linh hồn làm tôi cho thân xác, và hậu quả sẽ rất khổ sở đấy. Chính lựa chọn này làm cho sự sống trở nên thật trang nghiêm. Chơi game mà biết trước mình không thể thua thì chẳng vui vẻ gì. Chiến trận sẽ chẳng chút hào hùng nếu như triều thiên chiến thắng lại được đặt trên đầu kẻ không hề ra trận. Kịch nghệ sẽ không còn chút gì là thú vị nếu các diễn viên bị thay bằng những con rối. Cuộc đời sẽ ra vô nghĩa nếu cùng đích đời đời của chúng ta không được định đoạt bằng tiếng “xin vâng” hay “không bao giờ” trước lời mời gọi đón nhận ơn cứu độ. Chúa chúng ta đã nói thế này: “Anh em đừng sợ kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn. Nhưng đúng hơn hãy sợ Đấng có thể hủy diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10, 28). Trong một dịp khác, Người lại nói: “Được cả thế gian mà đánh mất linh hồn thì nào có ích gì? Người ta sẽ lấy gì để đổi lấy linh hồn mình?” (Mt 16, 26).

Rồi có một ngày thử thách này sẽ chấm dứt. Tôi biết việc thuyết phục não trạng thời hiện đại ngày nay là điều rất khó khăn, bởi họ không muốn nghe về sự chấm dứt của cuộc sống. Cái chết ngày nay thường được ngụy trang bởi các nhân viên tang lễ. Họ gần như sẽ khiến bạn tin rằng hạnh phúc đâu đâu cũng có. Họ không muốn đối mặt với với sự liễu đoạn của kiếp người. Và không biết bạn có nhận ra hay chăng, rằng não trạng thời hiện đại hôm nay cảm thấy lúng túng khi đối diện với cái chết? Họ không biết phải làm thế nào để bày tỏ niềm cảm thông bởi vì họ chỉ lo tập trung vào những tình huống dẫn tới cái chết, thay vì lưu tâm đến những vấn nạn liên quan tới cái chết, cụ thể chính là thiên đàng và hỏa ngục.

Có một số người nghĩ rằng cái chết thuộc về trật tự sinh học và rằng cái chết của con người thì cũng giống như con heo con gà chết mà thôi. Nhưng không phải thế. Mỗi người đều có một linh hồn thiêng liêng và bất tử. Cái chết của con người không hề giống cái chết của một con ong. Sự sống của các loài động vật thì như một vòng tròn, mở ra từ bên trong và rồi trở về lại với chính nó. Nhưng sự sống con người thì như một quỹ đạo, vượt lên trên cả thời gian để hướng về một ai đó. Lý do đích thực về sự hiện hữu của cái chết không thuộc về trật tự tự nhiên, nhưng là trật tự lịch sử. Ngay từ  khởi đầu lịch sử nhân loại, con người đã phạm tội, và hình phạt dành cho tội là cái chết. Kinh Thánh chép rằng: “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội.” (Rm 5, 12). Vì vậy, bởi tội nguyên tổ mà chúng ta phải chết. Nếu không có tội, sẽ chẳng có sự chết. Mầu nhiệm Đức Mẹ hồn xác về trời được tiếp theo sau Mầu nhiệm Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội. Thân xác của Mẹ Rất Thánh chúng ta đã không phải chịu sự hư nát, bởi Mẹ đã được gìn giữ nguyên tuyền khỏi tội lỗi. Việc ban bí tích Thánh Thể hàm ý sự phục sinh thân xác, bởi chúng ta được hiệp nhất với Mình và Máu Chúa Giêsu. Chúa phán: “Ai ăn thịt và uống máu Ta sẽ có sự sống đời đời, và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6, 54). Biến cố phục sinh của Chúa chúng ta chính là lời cam kết rằng chúng ta rồi cũng sẽ được phục sinh.

Thánh Phaolô nói rằng chúng ta phải chết mỗi ngày. Được chết lành là một tuyệt tác, và không tuyệt tác nào lại được nên hoàn thiện chỉ trong một ngày. Phải mất tới bảy năm để hoàn thành mô hình bằng sáp cho tượng thánh nữ Joan of Arc. Một ngày nọ, mô hình cuối cùng cũng được hoàn tất và người ta bắt đầu chế đồng vào. Và ngày nay, chúng ta có bức tượng như một tác phẩm điêu khắc đẹp mê hồn. Cũng thế, cái chết của chúng ta ở cuối chặng đường hiện hữu tự nhiên cũng được xem như thành quả mỹ mãn sau nhiều năm gắng sức lao nhọc trong khuôn khổ và ép xác hãm mình hằng ngày. Lý do chủ yếu khiến chúng ta sợ chết là vì chúng ta chưa sẵn sàng đón nhận nó. Cái chết trở nên một điều đẹp đẽ dành cho những ai đã chết cho chính mình trước khi chết cái chết tự nhiên, đó là công cuộc mỗi ngày chết đi cho những cám dỗ của thế gian, xác thịt và ma quỷ. Trên mộ bia của thần học gia John Dun Scotus vùng Cologne có khắc một dòng chữ rất thú vị: “ANTE SEPULTURAM BIS MORIMUS, trước khi được chôn táng, kẻ này đã chết hai lần. Trong cả trăm khách lữ hành thì chẳng có lấy nổi một người hiểu được mầu nhiệm tình yêu ẩn phía sau câu trích dẫn này.

Một khi cái chết vụt đến, thì chẳng còn phương thuốc nào chạy chữa nổi một cuộc đời sống toàn trong sự dữ; chúng ta chỉ có thể sửa chữa trước khi sự chết ập đến, bằng cách chết đi cho chính mình mà thôi. Chúng ta tuân theo luật mô phỏng, cũng chính là quy luật của vũ trụ. Người ta không có cách nào tiến lên một bậc sống cao hơn ngoại trừ chết đi cho cái thấp kém hơn. Con người không thể nào sống được sự sống hiển vinh trong Chúa Kitô nếu như họ không chết đi cho con người cũ của mình. Khi một người sống một đời hy sinh hãm mình trong Chúa Kitô, thì cái chết sẽ không đến với người ấy giống như tên trộm rình mò trong bóng đêm, bất thình lình ập tới. Chúng ta chết hằng ngày; do đó chúng ta phải tập dượt mà rằng: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9, 26). Đây chính là lời trong Thánh Kinh. Như khi thân bằng quyến thuộc quy tụ xung quanh người chết, họ thường hỏi rằng: “Ông ta để lại bao nhiêu tiền?” Nhưng các thiên thần sẽ hỏi: “Ông ấy mang theo mình bao nhiêu công lao và nhân đức?” Đúng thế, điều duy nhất chúng ta có thể mang theo khi chết cũng chính là cái chúng ta có thể mang theo khi bị đắm tàu, chính là công nghiệp của bản thân ta.

Sau chết sẽ là phán xét, và có hai cuộc phán xét. Chúng ta sẽ chịu phán xét ngay vào thời khắc lìa bỏ cõi đời, tức là phán xét riêng, và chúng ta còn chịu phán xét một lần nữa vào ngày tận thế, tức phán xét chung. Bạn là một ngôi vị và chính bạn phải chịu trách nhiệm cho mọi hành vi của mình. Công việc của bạn sẽ đi theo bạn. Sở dĩ có cuộc phán xét thứ hai là vì bạn ra sức lo cho ơn cứu độ của mình trong mối tương quan với xã hội và Nhiệm Thể Chúa Kitô; do đó, bạn sẽ phải chịu phán xét với hết thảy mọi người.

Trong cuộc phán xét chung, chúng ta sẽ nhận lại thân xác của chính mình nhờ vào biến cố phục sinh thân xác. Vào giờ chết, khi linh hồn tách lìa khỏi cơ thể, nó vẫn duy trì được khuynh hướng tự nhiên hướng về thân xác ấy. Linh hồn đã làm nên một dấu ấn, cũng giống như việc bạn ấn ngón tay mình vào sáp nóng vậy. Người ta gần như có thể nói rằng khi chết, linh hồn mong muốn thân xác ở lại với nó. Khi linh hồn lìa bỏ thân xác vào giờ chết, linh hồn không lìa xa thân xác mình mãi mãi. Linh hồn không trở thành thiên thần; nó vẫn mãi là một linh hồn nhân loại. Linh hồn vẫn ghi nhớ mọi trải nghiệm, biến cố, tư tưởng và việc làm. Vào thời điểm kẻ chết được phục sinh, linh hồn sẽ có lại một thân xác tương ứng với tình trạng linh thiêng của linh hồn. Thân xác ấy sẽ chói ngời vinh hiển nếu linh hồn đã được hưởng ơn cứu rỗi; hoặc thân xác ấy sẽ rơi vào tình trạng khốn nạn nếu linh hồn đã bị hư mất. Ơn cứu độ của chúng ta là dành cho toàn thể con người gồm xác và hồn, chứ không riêng gì linh hồn mà thôi. Thân xác chúng ta vốn thông chia tình trạng của linh hồn mình, và sẽ tiếp tục được thông phần trong vinh quang hay nhục nhã. Nếu bạn rót nước vào một chiếc ly màu xanh, nước sẽ trông có màu xanh. Tương tự như thế, vào ngày kẻ chết trỗi dậy, thân xác chúng ta sẽ sáng ngời nhờ những nhân đức, hoặc sẽ ra đen đúa vì những vết nhơ tội lỗi trong linh hồn.

Vậy cuộc phán xét riêng trông sẽ như thế nào? Đó là chúng ta được nâng lên cao như chính mình là. Khi còn sống, trong mỗi người chúng ta có những “con người” khác nhau. Người ta nghĩ chúng ta là thế này, rồi chính bản thân chúng ta nghĩ về chúng ta thế khác, nhưng thật sự có một con người thật của chúng ta. Trong cuộc đời này, chúng ta thật dễ tin theo những gì thiên hạ ca tụng hay gán ghép về bản thân mình, cũng thật dễ phán xét bản thân theo dư luận hơn là theo chân lý vĩnh cửu. Chúng ta có thể và thật sự là đã nghĩ mình là người tốt, bởi vì chúng ta nhận thấy tha nhân thật xấu xa. Đôi khi chúng ta đo lường nhân đức của bản thân dựa trên những thói xấu mà chúng ta đã né tránh. Nếu chúng ta kiếm tiền dưới một hệ thống tư bản chủ nghĩa, chúng ta nghĩ rằng các tổ chức lao động đúng là những đồ xấu xa; nếu chúng ta kiếm tiền từ việc tổ chức các công đoàn, chúng ta lại cho rằng chủ nghĩa tư bản là xấu. Nếu chúng ta xuất thân từ thành thị, chúng ta sẽ coi thường những ai đến từ nông thôn. Chúng ta cho rằng một cá nhân nào đó là không mấy quan trọng bởi vì anh ta nói giọng địa phương; rằng nếu anh ta thuộc về một sắc tộc khác, hẳn là anh ta sẽ kém cỏi hơn mình. Lòng nhiệt tình của chúng ta dành cho một người xuất thân từ giai cấp bình dân có thể là vì chúng ta ghét người giàu, chứ không hẳn là bởi chúng ta yêu mến những con người bình dân ấy. Chúng ta không bao giờ xem xét sự việc một cách khách quan; nhưng chúng ta đeo lên mình cặp kính đầy định kiến. Thánh Phaolô có ý ám chỉ thói định kiến đó khi ngài nói rằng “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết” (1Cr 13, 12). Không phải bởi những cảm xúc, cảm giác, yêu hay ghét, nhưng chính bởi sự lựa chọn và quyết định của bản thân mà chúng ta mới là chính mình.

Tất cả chúng ta đang trên cao tốc cuộc đời trong thế giới này, nhưng chúng ta lại di chuyển bằng những phương tiện khác nhau. Một số người đi xe tải, xe jeep hay thậm chí là cả xe cứu thương. MỘt số khác lại đi bằng xe có động cơ mười hai xilanh, và một số khác nữa lại đi bằng những chiếc xe cà tàng phế thải, nhưng mỗi người trong chúng ta đều thực hiện công việc cầm lái. Cuộc phán xét thì giống như thể chúng ta bị cảnh sát giao thông chặn lại. Khi Thiên Chúa “gõ cửa kính xe” chúng ta, thì cũng giống như viên cảnh sát, Người sẽ không hỏi: “Anh đang lái loại xe gì đấy?” Thiên Chúa chẳng thiên vị ai đâu. Người sẽ hỏi rằng: “anh đã lái xe như thế nào? Anh có tuân thủ luật pháp không?”

Vào giờ chết, chúng ta sẽ từ bỏ phương tiện giao thông của mình, cả những cảm xúc, thiên kiến, cảm giác, vị thế trong đời, cơ hội, sự ngẫu nhiên của tài năng thiên bẩm, trách vụ, trí thông minh và địa vị. Đối với Thiên Chúa, dù chúng ta có què quặt, dốt nát, hay bị thế gian ghét bỏ cũng chẳng khác biệt gì; Người không phán xét chúng ta dựa trên địa vị trong xã hội, nhưng là cách chúng ta đối nhân xử thế, những điều chúng ta đã thực hiện, những gì chúng ta đã yêu thương. Đừng cho rằng khi bạn ra trước tòa phán xét của Chúa thì bạn có thể tranh luận như ở tòa đời. Bạn sẽ chẳng thể viện dẫn những tình tiết giảm nhẹ, cũng không thể xin dời ngày xét xử hay đề nghị một bồi thẩm đoàn mới; bạn sẽ tự xét xử chính mình! Bạn sẽ là bồi thẩm đoàn của bản thân. Như Kinh Thánh có chép: “Tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12, 37). Việc Chúa làm chỉ là ấn định phán quyết dành cho chúng ta mà thôi.

Như vậy, thế nào là phán quyết của Thiên Chúa dựa trên quan điểm của Người và của chúng ta? Từ quan điểm của Chúa, phán quyết là sự công nhận. Có hai linh hồn ra trước nhan Chúa ngay sau khi chết; một linh hồn đang ở trong tình trạng ân sủng, linh hồn kia thì không. Hãy nhớ, ân sủng là một sự tham dự vào bản tính thần linh. Cũng như bởi nhân tính mà bạn giống với cha mẹ mình, thì cũng nhờ ân sủng mà chúng ta được dự phần vào bản tính Thiên Chúa. Chúa chúng ta sẽ nhìn vào linh hồn và tình trạng ân sủng. Và Người nhận thấy nét giống với bản tính của Người. Một người mẹ nhận ra con của mình bởi đứa trẻ có những nét giống mẹ nó, vậy thì Thiên Chúa cũng nhận biết con cái Người nhờ vào sự tương đồng nơi bản tính, vì chúng ta được sinh ra bởi Người. Qua việc nhận thấy nét tương đồng mang tính thần linh trong linh hồn chúng ta, Chúa sẽ phán với chúng ta rằng: “Hỡi kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến đây. Ta đã dạy ngươi đọc kinh ‘Lạy Cha’. Ta là Con của Người tự bản tính, còn ngươi là con nhờ được nhận làm nghĩa tử, hãy vào đây, vào Vương quốc mà Ta đã dành sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa” (x. Mt 25, 34).

Chúng ta cũng hãy nhìn coi linh hồn còn lại, vốn không sở hữu những đặc điểm để thuộc về gia đình Chúa Ba Ngôi. Người mẹ luôn biết rằng con bà hàng xóm không phải là con mình, bởi giữa bà và đứa trẻ kia không có nét gì tương đồng với nhau cả. Cũng vậy, khi nhìn vào linh hồn đầy tội lỗi, không một chút gì giống với bản tính thánh thiện của Người, Chúa chúng ta chỉ có thể tuyên phán những lời kinh khiếp, nhằm biểu thị sự không công nhận sau đây: “Ta không biết ngươi!” (Lc 13, 25). Không được Thiên Chúa nhận biết quả là điều kinh sợ hãi hùng.

Từ khía cạnh con người, có một sự tương hợp hay bất tương hợp. Giả sử như người ta báo cho bạn biết rằng có một vị khách rất nổi tiếng đang đứng trước cửa nhà bạn. Bạn đang mặc bộ đồ lao động, tay chân mặt mũi thì lấm lem. Chắc chắn tình trạng hiện giờ của bạn là không thích hợp chút nào để đi ra gặp gỡ vị khách ấy. Bạn sẽ không ra gặp người ấy cho tới khi có thể đảm bảo rằng diện mạo mình sạch sẽ dễ coi.

Một linh hồn lấm lem tội lỗi thì cũng giống như thế khi nó ra trước tòa phán xét. Nó nhìn thấy nét uy nghi lẫm liệt của Chúa, sự thuần khiết và ánh rạng ngời của Người. Nhưng linh hồn biết rõ tình trạng tội lỗi và bất xứng của nó. Nó không kêu xin hay tranh luận. Tự thẳm sâu, nó thấy rõ chính mình và thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con không xứng đáng”. Một linh hồn bị lấm bẩn bởi tội nhẹ thì nói: “Xin cho con thời gian để thanh tẩy”, và nó lao mình vào luyện ngục để mau chóng tẩy rửa tấm áo nó đã lãnh nhận trong ngày rửa tội. Nhưng đối với linh hồn ô uế đến độ vô phương cứu chữa, đã chết đối với sự sống thần linh, thì nó tự quăng mình vào hỏa ngục, cũng giống như viên đá trong lòng bàn tay tôi sẽ tự động rơi xuống đất khi tôi thả tay ra. Linh hồn nào đầy tràn tình yêu Thiên Chúa và không còn phải đền bù cho những hình phạt tạm do tội gây ra nữa, thì nó giống như chú chim xổ lồng mà bay thẳng lên thiên đàng.

Như vậy, có ba đích điểm có thể đang chờ đợi chúng ta sau cái chết và cuộc phán xét: là hỏa ngục – tình trạng đau đớn và vắng bóng tình yêu; là luyện ngục – đớn đau trong tình yêu; và thiên đàng – tình yêu chẳng còn đau đớn.

0 Nhận xét