Một lần nọ, tôi ghé thăm một người đang ở trong bệnh viện, một con người có cuộc đời đầy tội lỗi: nghiện rượu bia, bất trung tín và nhiều tội ghê gớm khác. Ông đã khiến vợ ông phải đau khổ nhiều, con cái thì xấu hổ vì những việc làm của cha, và cả gia đình sống trong cảnh nghèo đói. Trên giường bệnh, ông được ơn giao hòa cùng Chúa.
Ông nói với tôi rằng: “Con chẳng còn ở đây lâu nữa đâu. Con tin chắc rằng Chúa đã tha thứ tội con, nhưng con cũng đã sẵn lòng gánh chịu mọi hình phạt mà con biết mình phải chịu và đáng phải chịu”.
Các bạn hãy lưu ý rằng người đàn ông này đã phân biệt rõ ràng giữa bình an và đau khổ. Ông bình an vì tội ông đã được tha; nhưng ông biết mình chưa hoàn toàn đền bồi cho mọi tội lỗi của mình. Ông đã phân biệt rõ giữa ơn tha thứ và đền bù tội lỗi, cũng giống như người trộm lành bị đóng đinh bên tay hữu Chúa Giêsu. Chúa chúng ta đảm bảo với người trộm lành rằng ông sẽ được hưởng phúc thiên đàng; tuy nhiên, ông vẫn phải tiếp tục chịu đau khổ. Trong lúc bị treo trên thập giá, người trộm lành bảo rằng: “chúng ta chịu như thế này là đích đáng” (Lc 23, 41). Được tha thứ là một chuyện, và phải đền bù tội lỗi là chuyện khác. Nếu bạn đã có dịp đi thăm quan một khu mỏ kim cương, chẳng hạn như mỏ Kimberly, và thấy rằng những viên kim cương ấy đang ở trong tình trạng thô, hẳn là bạn sẽ phải thất vọng, bởi chúng chẳng hề sáng loáng và còn nhiều khiếm khuyết. Mỗi viên kim cương cần phải được mài dũa và đánh bóng.
Luyện ngục là một phương thế đạt tới sự hoàn thiện bằng một sự thanh luyện mà nhân loại không thể tưởng tượng nổi. Nó giống như phòng tối rửa ảnh của các nhiếp ảnh gia vậy, trong đó phim được rửa bằng axít nóng cháy để nhờ đó những sắc màu và vẻ đẹp tiềm ẩn được lộ ra. Luyện ngục giống như thế đó. Cuộc phán xét của Chúa đã mamg tính chất quyết định, nhưng vẫn còn đó một cơ hội của lòng thương xót hầu những ai được ở trong tình trạng ân sủng, mà vẫn còn dính bén tội lỗi, thì có được khả năng đền bù cho những hình phạt do tội gây ra. Ví dụ, chúng ta đã được tha tội ăn cắp, nhưng chúng ta vẫn chưa hoàn trả đồ vật ăn cắp cho cố chủ.
Đại đa số chúng ta vẫn chưa sẵn sàng ra trước tòa Chúa phán xét. Bạn hãy nhìn xem những phận vụ mình vẫn chưa chu toàn trong đời, những công việc còn dở dang và những trách nhiệm chỉ qua loa thực hiện. Có những lần chúng ta đã đi sai hướng, đã biết quay đầu nhưng vẫn còn hời hợt; có những cơ hội chúng ta đã bỏ lỡ; có những lúc chúng ta có ý hướng ngay lành nhưng không toàn tâm thực hiện. Hầu hết những ý hướng ngay lành của chúng ta chỉ nằm trên lớp bề nổi mỏng manh của linh hồn. Chúng đã không hoàn toàn chìm vào sâu trong hữu thể con người chúng ta. Vì thế, Thiên Chúa sẽ không tuyên phán những linh hồn ấy bị hư mất đời đời. Người ban cho chúng ta một phương thức để bù đắp cho những lầm lỗi của mình, nếu chúng ta chết trong tình trạng ân sủng. Chúng ta đọc thấy trong sách Macabê rằng cầu nguyện cho kẻ chết hầu để họ được giải thoát khỏi tội lỗi mình là một việc làm đạo đức và thánh thiện (2 Mcb 12, 45). Chúa chúng ta đã có lần nói về ơn tha thứ ở đời sau. Bạn có nhớ dụ ngôn về kẻ mắc nợ không có lòng thương xót, hắn bị phạt tù cho tới khi trả hết đồng xu cuối cùng (Mt 18, 23-25) hay không? Câu chuyện ấy hàm ý rằng con người ta vẫn có thể được cứu thoát ở đời sau. Thánh Phaolô có nói rằng con người đã sử dụng những vật liệu kém chất lượng trên nền móng do Chúa Kitô đặt ra, và những vật liệu ấy phải được thử qua lửa (1Cr 3, 13).
Luyện ngục là nơi tình yêu Thiên Chúa làm dịu bớt phép công thẳng của Người, và cũng là nơi tình yêu nhân loại làm dịu đi sự bất chính của họ. Sự cần thiết của luyện ngục hoàn toàn dựa trên sự thuần khiết tuyệt đối của Thiên Chúa. Trong sách Khải Huyền, chúng ta đọc thấy một thành đô bằng vàng vô cùng đẹp đẽ, có tường làm bằng đá thạch anh và chiếu tỏa sáng ngời, ánh sáng của thành không phải nhờ mặt trăng hay mặt trời chiếu sáng, nhưng là nhờ ánh sáng của Con Chiên bị giết ngay từ thuở khai thiên lập địa. Chúng ta cũng được biết đâu là điều kiện để có thể tiến vào thành Giêrusalem trên trời. Kinh Thánh chép rằng: “Tất cả những gì ô uế cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và ăn gian nói dối, đều không được vào thành, mà chỉ có những người có tên ghi trong Sổ Trường Sinh của Con Chiên mới được vào.” (Kh 21, 27). Phép công bình không chấp chứa những gì là ô uế, nhưng những ai có tâm hồn trong sạch mới có thể đứng trước nhan Thiên Chúa là Đấng vô cùng thanh khiết.
Cứ cho là luyện ngục không hề tồn tại. Vậy thì phép công bình của Thiên Chúa sẽ trở nên vô cùng đáng sợ đến nỗi không thể tả thành lời! Ai trong chúng ta, trong giờ chết, lại dám khẳng định rằng chúng ta đủ trong sạch để ra trình diện trước Con Chiên tinh tuyền của Thiên Chúa? Bạn có nghĩ mình đủ trong sạch hay không? Riêng tôi, tôi biết mình không trong sạch. Có một số người, như các vị tử đạo, đã dùng chính máu mình để làm chứng cho đức tin; có các nhà truyền giáo, như thánh Phaolô, đã trao hiến cuộc đời mình để loan báo Tin Mừng; và có các tu sĩ sống đời chiêm niệm, những vị đã bình an và vui lòng hiện thực hóa hy tế trên đồi Canvê mà sẵn sàng tử đạo không cần ai biết đến. Đấy là những linh hồn ngoại lệ đầy vinh quang. Thế nhưng, có biết bao triệu người đã chết đi với linh hồn vẫn còn mang dấu tội nhẹ, những người dù đã phạm tội và quyết tâm hoán cải, nhưng vẫn mang lấy sự yếu đuối của phận người như một quả cân nặng trĩu? Vào ngày chúng ta được rửa tội, Giáo Hội khoác lên mình chúng ta một tấm áo trắng mà rằng: “Con hãy nhận lấy tấm áo trắng này mà giữ gìn nó tinh tuyền không vương lấm tội lỗi cho tới ngày con ra trước tòa Chúa, hầu được lãnh nhận sự sống muôn đời.”
Vậy bạn đã gìn giữ tấm áo của mình không bị vương nhơ tội lỗi hay chưa? Bạn đã giữ tấm áo ấy được tinh tuyền hầu có thể nói rằng mình xứng đáng tham dự vào đoàn người mặc áo trắng của Vua các vua hay chưa? Có biết bao nhiêu linh hồn lìa bỏ đời này mà lại có can đảm xác quyết rằng họ đã ra đi mà không còn quyến luyến gì với thụ tạo, hoặc chưa hề mắc lỗi lãng phí tài năng, hay nhiều khi có một chút ngu dại nhất thời, thiếu một hành vi bác ái, phớt lờ trước tiếng gọi thần linh, hoặc đã thốt ra một lời vô ích, vốn là những thiếu sót tất cả chúng ta đều phải trả lẽ? Có bao nhiêu người khi lâm tử giống như hoa nở cuối mùa, tức là đã được tha tội nhưng vạ vẫn còn? Hãy nhìn xem những vị anh hùng dân tộc mà chúng ta vẫn noi gương bắt chước. Liệu có người Anh hay người Mỹ nào, dù được biết chút đỉnh về sự tinh tuyền của Thiên Chúa, và dù rất yêu mến đô đốc Nelson hay tổng thống Washington, lại dám tin rằng họ đã không còn vương nhơ tội tình nào trong giờ phút lâm chung, và được xứng đáng hưởng nhan Thiên Chúa ngay sau khi lìa trần hay không? Chủ nghĩa dân tộc của Nelson và Washington, điều vốn biến họ trở nên anh hùng thời loạn, lại có thể là nguyên cớ khiến cho họ chưa được sẵn sàng để trở thành công dân Nước Trời, nơi không còn người Anh hay Mỹ, Do Thái hay Hy Lạp, man di hay tự do, nhưng tất cả là một trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Tất cả những linh hồn nào khi chết mà vẫn có chút gì đó tình yêu Thiên Chúa nơi mình thì đều là những linh hồn đẹp đẽ. Nhưng nếu như họ vẫn còn một chút bất toàn mà lại không có luyện ngục để thanh luyện, hẳn là họ phải bị công lý Chúa khước từ mà chẳng hề thương tiếc. Vất bỏ đi luyện ngục và thế là Thiên Chúa không thể dễ dàng tha thứ được, bởi lẽ nào một hành vi thống hối lại có thể bù đắp cho ba mươi năm sống trong tội lỗi được hay sao? Phép công bình vô biên của Thiên Chúa chắc chắn sẽ loại trừ khỏi thiên đàng những ai có ý định trả nợ nhưng lại chưa trả xong. Tôi nhấn mạnh rằng luyện ngục là nơi tình yêu Thiên Chúa xoa dịu phép công thẳng của Người. Thiên Chúa tha thứ bởi vì Người ban thời gian để chỉnh sửa các linh hồn này bằng Thập giá của Người, và khắc tạc lại họ bằng thứ dụng cụ là sự thanh luyện; nhờ đó, họ có thể nên xứng đáng để bước vào thành đô Giêrusalem vĩ đại trên trời, nơi Thiên Chúa nhấn chìm họ vào chốn thanh tẩy, hầu họ có thể xóa sạch mọi vết nhơ trên chiếc áo trắng nhận lãnh vào ngày được rửa tội bằng chính những đau khổ của mình, giống như con đại bàng bị thương được chữa lành nhờ ngọn lửa thanh tẩy diệu kỳ của Chúa. Nhờ thế, họ có thể tiến vào nơi chốn của sự tinh tuyền, nơi có Chúa Kitô là Vua và Đức Maria là Nữ vương thiên đàng. Dù những lỗi phạm có nhỏ mọn tới đâu đi nữa, Thiên Chúa vẫn sẽ không thể tha thứ nếu như nước mắt không chảy ra, và trên thiên quốc thì lại chẳng có nước mắt bao giờ. Luyện ngục là nơi tình yêu Thiên Chúa xoa dịu công lý của Người, và tình yêu con người xoa dịu cái bất công của con người. Tôi tin chắc rằng đại đa số chúng ta không nhận thức được về những sự bất chính, vô ơn, bạc nghĩa nơi cuộc đời mình, mãi cho tới khi chúng ta nhìn thấy đôi tay giá băng cứng ngắt của những thân nhân đã ra khỏi cõi đời này. Khi đó, và chỉ khi đó, chúng ta mới đầy tiếc nuối mà nhận ra được cái nghèo đói tình yêu đầy ám ảnh của mình. Trong số muôn vàn lý do để con người chúng ta tuôn rơi những giọt nước mắt cay đắng nhất trên phần mộ của tha nhân là những lời cần nói mà chưa được nói, và những việc đáng làm nhưng vẫn chưa làm.
“Con bé chẳng bao giờ biết được tôi yêu nó nhiều bao nhiêu”.
“Anh ấy chẳng bao giờ biết anh ấy có ý nghĩa đối với tôi như thế nào”.
“Cho tới khi anh ấy ra đi rồi, tôi mới biết anh ấy đáng mến tới mức nào”.
Những lời đó là những mũi tên được tẩm độc, mà tên tử thần tàn nhẫn đã ngắm bắn vào tim chúng ta từ bên trong những nấm mồ. Chỉ khi đó chúng ta mới nhận ra, mình có thể đối xử khác biết bao nếu như người đã ra đi có thể quay trở lại.
Rơi lệ trước những cặp mắt đã không còn mở là những dòng lệ vô ích. Tương tự như thế, những vòng tay âu yếm thân tình trước xác thân đã không còn cử động, và tiếng thở dài không thể đánh động tâm can của những đôi tai điếc đặc, là chuyện vô ích mà thôi. Thế rồi, nỗi đớn đau dằn vặt khi đã không mang hoa thăm viếng lúc tha nhân còn sống, khi đã không xức dầu thơm cho người mình yêu khi họ vẫn còn ở trên đời, và khi đã không nói ra những lời tử tế, giờ đây nỗi đớn đau đó phải tan đi trong bầu khí lặng thinh mà nó vừa xé toạc. Ôi, thật đau buồn biết bao khi nhận ra rằng chúng ta giờ đây không thể bù đắp cho những cử chỉ lạnh lùng dành cho tha nhân, cho những sự hời hợt trước lời cầu khẩn của họ, và cho sự thiếu tôn kính dành cho những con người mà có lẽ là món quà quý giá nhất Thiên Chúa đã ban tặng cho chúng ta.
Luyện ngục là nơi tình yêu Thiên Chúa xoa dịu công lý của Người, và tình yêu con người xao dịu cái bất chính của họ. Luyện ngục khiến cho những tâm hồn bị bỏ lại phía sau có khả năng phá vỡ rào cản của thời gian và cái chết, hầu biến những lời chưa được thốt ra thành kinh nguyện, những hương trầm chưa đốt thành của lễ dâng, những bông hoa chưa dâng kính trở thành việc bố thí, và những điều tốt lành chưa thực hiện trở nên ơn trợ lực để hưởng sự sống muôn đời. Vậy nên nếu vất đi luyện ngục, nỗi niềm hối tiếc dằn vặt vì sự ích kỷ của bản thân sẽ ra cay đắng, sự đau đớn vì thói chóng quên của chúng ta lại gặm nhấm tâm can. Nếu không có luyện ngục, thì những cử chỉ cúi đầu và trầm tư mặc tưởng của chúng ta chỉ là trống rỗng. Nhưng nếu luyện ngục tồn tại, lúc đó cái cúi đầu của chúng ta mới dẫn đường tới hành vi cúi mình phủ phục, khoảnh khắc thinh lặng mới trở thành phút cầu nguyện, và một vòng hoa héo tàn mới trở nên của lễ muôn đời tồn tại nơi Thánh lễ của vị Anh hùng vĩ đại là Chúa Giêsu Kitô.
Luyện ngục cho phép chúng ta đền bù cho những sự vô ơn của mình, bởi những lời cầu nguyện, sự hãm mình phạt xác và hy sinh của chúng ta được trở nên có khả năng đem lại niềm vui và an ủi cho những người chúng ta yêu mến. Tình yêu mạnh hơn sự chết; do đó, tình yêu cũng phải được dành cho những người đã ra đi trước chúng ta. Liệu cái chết có thể cắt đứt lòng biết ơn được hay không? Chắc chắn là không! Giáo Hội đảm bảo với chúng ta rằng ngay cả khi không thể tỏ lòng yêu mến người đã khuất trên thế gian này, chúng ta vẫn có thể tìm thấy họ trước tòa phán xét đầy công minh của Chúa, mà trao ban cho họ “lời biện hộ” là tình yêu và giá cứu chuộc chúng ta. Cũng như người chết trong nợ sẽ bị những lời nguyền rủa của chủ nợ đeo đuổi xuống tận nấm mồ, thì người ấy vẫn có thể phục hồi được thanh danh mình nhờ vào những lao nhọc của đứa con khi nó trả nợ thay cho ông ấy tới đồng xu cuối cùng. Một người khi chết mà vẫn còn nợ chưa trả xong, tức là chưa đền hết tội cho Thiên Chúa, thì chúng ta vẫn có thể giúp người đó đền trả thay; bằng cách biến những lao công thường nhật trở nên những đồng tiền thiêng liêng vốn có thể mua lấy ơn cứu chuộc, chúng ta có thể dâng lời cầu nguyện cho những linh hồn đáng thương nơi luyện ngục.
Họ có đang phải chịu đau khổ hay không? Có chứ. Họ không thể lập công được nữa, và trở nên giống như những chiếc ô tô hết xăng, vì vậy họ phải trải qua cuộc thanh luyện một cách thụ động. Nơi luyện ngục, chúng ta biết yêu thương và được hạnh phúc bởi vì những đau khổ nơi đây mang chúng ta đến gần với tình yêu Thiên Chúa hơn. Lửa luyện ngục sẽ thiêu sạch mọi chất cặn bã; vì thế, khi một linh hồn đã hoàn toàn được thanh luyện xong, không còn gì trở ngại nữa, linh hồn ấy sẽ ra trước tòa Chúa để được hưởng niềm vui muôn đời. Sẽ chẳng còn đớn đau khi người ta đã đạt tới tình yêu hoàn thiện.
Thật khó để tưởng tượng nổi những đau khổ của các linh hồn nơi luyện ngục; nó giống như một cuộc đấu tay đôi vậy. Một mặt, họ thật sự đau khổ vì phải chịu xa cách Thiên Chúa; nhưng mặt khác, họ đau khổ vì sợ phải ra trước nhan Người. Có lẽ không một ai diễn tả được điều này hay cho bằng Hồng y John Henry Newman trong tác phẩm “Giấc mơ của Gerotius”. Ngài viết như sau:
“Khi ngươi thấy Vị Thẩm Phán của mình, lòng ngươi sẽ bừng lên mọi nỗi niềm trìu mến, biết ơn, tôn thờ. Ngươi sẽ ốm tương tư và sẽ khát khao Người. Ngươi sẽ cảm thấy như thể là mình thương hại Người, một Đấng dịu hiền đến độ đã để cho bản thân bị người đời khinh chê lợi dụng, bị đối xử tàn tệ bởi một kẻ tệ hại như ngươi. Trong ánh mắt trầm tư của Người ánh lên vẻ cầu khẩn, ánh mắt ấy sẽ xuyên thấu tâm can ngươi. Ngươi sẽ gớm ghét chính mình; vì ngay cả khi lúc này ngươi vô tội, ngươi vẫn sẽ cảm thấy ngươi đã lỗi phạm cùng Người, và sẽ muốn lỉnh đi mà trốn khỏi thánh nhan Người.
Tuy vậy, ngươi vẫn có một nỗi khát khao được ở trước long nhan hiền hậu Người. Và hai nỗi đau ấy, vừa trái ngược mà cũng vừa nhức nhối – ao ước được thấy Người khi không thể thấy; và nỗi xấu hổ vì bản thân khi ra trước nhan Người – chúng sẽ trở nên luyện ngục khắc nghiệt nhất, đau đớn nhất dành cho ngươi.” (Vv. 728-47)
0 Nhận xét