Trong suốt dòng lịch sử đã có rất nhiều người xuất hiện và tự xưng là sứ giả của Chúa. Từng người trong số họ đều có quyền để được lắng nghe. Không có lý do nào cho thấy chúng ta nên chọn Chúa Kitô hơn là những người khác, nhưng chúng ta thật sự có quyền đề xuất một số thử nghiệm hoặc tiêu chuẩn qua đó từng người trong số những vị tự xưng kia có thể được thẩm định. Đơn giản là chúng ta không thể cho phép bất kỳ ai bước lên vũ đài lịch sử và nói: “Chính ta đây. Hãy tin vào ta”, hoặc “Đây là cuốn sách của Chúa mà một vị thiên sứ đã trao cho ta. Ta muốn mọi người hãy đọc cuốn sách này”.
Khi chúng ta bắt đầu bàn luận về tôn giáo mặc khải, chúng ta không được bãi bỏ lí trí con người hoặc quên đi thực tế rằng chúng ta đang ở trong dòng lịch sử. Vì thế, một trong những luận điểm mà chúng ta sẽ dùng là điều vốn có thể được gọi là luận điểm tiên tri hoặc tiên đoán: Liệu những người tự xưng kia đã từng được tiên báo hay chưa? Chắc hẳn rằng, khi Chúa muốn sai sứ giả Người đến trái đất thì ít ra Người đã phán rằng: “Này Ta loan báo người ấy. Ta sắp sửa cho các ngươi biết là người ấy sắp đến”. Khi bạn bè tới thăm chúng ta thì họ sẽ cho chúng ta biết trước; để gặp gỡ đối tác kinh doanh thì cần phải đặt hẹn; hẳn là Thiên Chúa phải cho chúng ta biết khi Người Con thần linh của Người đến trong trần gian.
Người ta có thể lập luận rằng có nhiều tôn giáo lớn khác trên thế giới, chẳng hạn như Phật giáo hay Khổng giáo, và chúng ta cũng nên thử truy xét các tôn giáo ấy. Có nhiều câu chuyện thần thoại trong lịch sử, và nhiều con người vĩ đại, như Đức Phật, Khổng Tử và Socrates. Mỗi vị ấy đều giống như một chú chim đang chuẩn bị tổ để đẻ trứng. Vì loài chim chỉ sống theo bản năng, cho nên Chúa Quan Phòng đã chuẩn bị để mặc khải một điều tuyệt hảo. Chân lý thần linh có thể được xem giống như là một vòng tròn. Và chẳng có một tôn giáo nào trên thế giới này mà không chưa đựng một phần trong cái vòng tròn chân lý ấy.
Ngay cả khi tôn giáo ấy chỉ có hai phần trăm chân lý, thì nó vẫn là một phần của vòng tròn chân lý. Một số tôn giáo sở hữu phần trăm chân lý nhiều hơn các tôn giáo khác. Chúng ta chân nhận những gì là tốt đẹp nơi mỗi tôn giáo. Một số tôn giáo cũng khát khao mong chờ một đấng cứu tinh. Người ta có thể tranh luận về những sự tương đồng nơi mọi tôn giáo; vì thế, chúng rất giống nhau. Đúng là chân lý tự nhiên thì giống nhau cả. Đó là bởi vì mọi con người trên trái đất này đều có lý trí; do đó, chắc chắn họ sẽ đi đến một số kết luận cụ thể về mặt đạo đức, vốn là điều sẽ dẫn dắt họ và toàn thể xã hội loài người. Chúng ta không lấy gì ngạc nhiên khi có nhiều nguyên tắc đạo đức giống nhau. Nhưng lập luận rằng mọi tôn giáo đều có điểm tương đồng, và vì thế có cùng nguồn cội, cụ thể đó là giấc mơ của nhân loại, thì lại rất không đúng. Khi bạn ghé vào một viện bảo tàng tranh ảnh, bạn sẽ phát hiện rằng mọi bức họa đều sử dụng một số màu sắc cơ bản. Thế nhưng, chỉ vì chúng có cùng màu sắc thì không có nghĩa là bạn có thể kết luận rằng chúng được tô vẽ bởi cùng một nghệ sĩ. Cho nên, mặc dù các tôn giáo có những nét tương đồng với nhau, chúng ta không được kết luận rằng Thiên Chúa tạo nên tất cả mọi tôn giáo.
Thiên Chúa đã thực hiện một cuộc mặc khải trong lịch sử. Có những chân lý vượt lên trên lý trí con người, chúng được gọi là chân lý mặc khải. Chúa Kitô đã được tiên báo là sẽ đến như Đấng sáng lập Kitô giáo. Trong mọi tôn giáo khác, không một vị sáng lập nào lại có tầm quan trọng tuyệt đối cho tôn giáo ấy giống như tầm quan trọng của Chúa Kitô đối với Kitô giáo. Đúng, vị sáng lập có vai trò thiết yếu đối việc sáng lập tôn giáo, nhưng không một tín hữu của bất kỳ tôn giáo khác nào lại có thể đi vào trong mối tương quan gặp gỡ như Kitô hữu gặp gỡ Chúa Kitô. Mối tương quan cá vị với Người mang tính quyết định.
Chúa Kitô chiếm một vị trí khác hẳn vị trí mà Đức Phật có trong Phật giáo, cũng khác hẳn vị trí của Khổng Tử trong Khổng giáo, hay tiên tri Mohammed trong Hồi giáo và thậm chí cả Môsê trong Do Thái giáo. Phật giáo không đòi hỏi bạn phải tin vào Đức Phật, nhưng đòi hỏi bạn được giác ngộ và đi theo giáo huấn của Đức Phật trong công cuộc diệt dục. Khổng giáo không đòi hỏi nơi tín đồ một mối tương quan thân mật với Khổng Tử. Điều quan trọng là các giáo huấn liên quan đến đạo đức, và bất cứ ai tuân theo các giáo huấn ấy thì được cho là sẽ được đi vào cõi yên hàn với các bậc tổ tiên. Môsê cũng không lệnh cho dân chúng phải tin vào ông, nhưng là tin vào Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. Môsê không hướng dân về mình. Đạo Hồi cũng đòi hỏi tín hữu tin vào Thiên Chúa và bốn nguyên tắc cốt lõi còn lại, nhưng không nhất thiết phải tin vào tiên tri Mohammed. Nhưng khi nói tới Chúa Kitô, ở đây Kitô giáo đòi hỏi một mối tương quan thân mật và cá vị. Chúng ta phải nên một với Người. Chúng ta không thể nào tự nhận mình là Kitô hữu trong bất kỳ tình huống nào nếu như chúng ta không suy niệm về con người, tư tưởng, ý muốn, tâm hồn và nhân tính của Chúa Kitô.
Luận điểm từ lời tiên tri thật sự rất đơn giản. Bạn cứ tự hỏi mình xem: có vị sáng lập tôn giáo nào, hay một nhà cải tổ tôn giáo hiện đại, đã từng được tiên báo hay chưa. Ngay cả mẹ đẻ của vị đó cũng chẳng thể tiên báo chính xác ngày sinh của vị ấy từ năm năm trước. Không một ai đã từng dự báo rằng Đức Phật, Khổng Tử hay Mohammed sẽ được sinh ra trong thế gian. Thế nhưng, xuyên suốt qua bao nhiêu thế kỷ, người ta đã luôn âm thầm mong đợi ngày giáng sinh của Chúa Kitô.
Luận điểm về lời tiên tri có liên quan đến lịch sử và một con người. Kitô giáo là một tôn giáo lịch sử. Bạn hãy nhớ lại kinh Tin Kính, bất cứ khi nào chúng ta dâng lời tuyên xưng Chúa chúng ta, chúng ta luôn nói rằng: “Người chịu khổ nạn đời quan Phongxiô Philatô”. Người có một điểm cố định trong dòng lịch sử nhân loại. Không một đấng sáng lập tôn giáo nào trên thế giới lại có liên kết chặt chẽ với lịch sử như vậy. Chúng ta không chỉ quan tâm tới sự thật là Người đã được sinh ra và chịu khổ hình dưới thời quan tổng trấn Philatô, nhưng đúng hơn là với toàn bộ bối cảnh lịch sử nữa.
Trong Cựu Ước, chúng ta đọc thấy rằng xem ra Thiên Chúa đang thực hiện một giao ước, một giao kèo, với một nhóm người nhỏ bé. Chúng ta đọc thấy rằng ngay từ ban đầu, Thiên Chúa đã kí kết một giao ước với Adam liên quan tới toàn thể nhân loại. Adam là đầu. Tất cả những gì ông đã làm thì chúng ta cũng đều làm. Sau đó, Thiên Chúa kí kết giao ước với Noah, kèm theo lời hứa và thỏa thuận cho cả hai bên. Nếu phía nhân loại duy trì lối sống đạo đức, thì Thiên Chúa sẽ ban phước lành cho họ.
Ngay từ khi giao ước được kí kết cũng như bị phá vỡ, Thiên Chúa phán rằng dòng giống của một người phụ nữ sẽ đến và đập tan công trình của quỷ dữ. Truyền thống này được lưu truyền rộng rãi trong dân Do Thái và đặc biệt là với các vị tiên tri. Sau giao ước với Noah, Thiên Chúa lại kí kết một giao ước mới với Abraham, kẻ đã được Người gọi ra từ đất Ua. Người hứa với Abraham rằng: “ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi;
Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa.Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” (St 12, 1-3).
Thiên Chúa phán với Abraham rằng một dân tộc phát sinh từ ông sẽ trở nên đông đúc như cát biển sao trời. Sau này, dân ấy bị rơi vào ách nô lệ của Ai Cập. Thế là Thiên Chúa thiết lập một giao ước mới với Môsê; nhưng rồi giao ước bị phá vỡ và được tái lập. Các tiên tri loan báo rằng một ngày kia, chính từ trong dân này, một Đấng Cứu Tinh và Chuộc Tội sẽ đến.
Chúng ta không chỉ nói đến một dân tộc duy trì truyền thống và mong chờ Đấng Cứu Thế đến. Chúng ta đang nói về rất nhiều chi tiết liên quan đến một con người cụ thể. Nhiều lời tiên tri đã được công bố liên quan đến Chúa chúng ta; thí dụ, Người sẽ phát xuất từ chi tộc Giuđa và sẽ được sinh ra bởi một trinh nữ. Một trong số những lời tiên tri đáng kinh ngạc của ngôn sứ Mikha đó là Người sẽ được sinh ra trong thành Bêlem. Nếu như bạn tiên báo ngày chào đời một người nào đó mà về sau sẽ là một chính trị gia vĩ đại mang tầm vóc thế giới, hẳn là bạn sẽ chọn một thành phố sầm uất nào đó. Nhưng hãy xem ngôn sứ Mikha, nhờ được thần hứng, ông lại chọn ngôi làng Bêlem bé nhỏ, vốn được gọi là nhỏ nhất trong các thành. Ngôn sứ bảo rằng từ thành ấy một Đấng cai trị Israel sẽ đến (Mk 5, 2).
Nhiều thế kỷ trước Chúa giáng sinh, các ngôn sứ đã loan báo rằng Người sẽ là Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng, là Người Tôi Tớ đau khổ, là Thiên Chúa và cũng là con người. Thi thoảng bạn hãy mở Cựu Ước, lật ra chương 53 trong sách ngôn sứ Isaiah, và bạn sẽ đọc thấy những lời tiên tri liên quan đến những đau khổ và cái chết của Chúa Kitô. Chính bởi cái chết của Người mà Người sẽ bị coi như phường gian ác, bởi vì Người chịu đóng đinh giữa hai tên trộm cướp, và Người sẽ được chôn cất trong hầm mộ của một kẻ xa lạ. Cứ như thể lời tiên tri của Isaiah đã được viết ra dưới chân cây Thập giá vậy.
Nhiều lời tiên tri cũng cho thấy Người xuất thân từ dòng dõi vương đế nhà Đavít. Như vậy, trong suốt khoảng một ngàn năm, mỗi thế hệ phát xuất từ Đavít đều bắt buộc phải có một hậu duệ là nam giới để giữ cho lời tiên tri được ứng nghiệm. Đó là điều rất khó thực hiện. Một nhân vật vĩ đại như Tổng thống Abraham Lincoln mà chỉ có bốn người con. Thậm chí chỉ trong một thời gian ngắn, từ lúc ông ấy chết cho đến nay, không còn một hậu duệ nam giới nào của ông còn sống trên đời. Không một vị sáng lập tôn giáo nào trên thế giới có được lời tiên tri loan báo về bản thân mình, ngoại trừ Chúa Kitô.
Một học giả Do Thái, người sau này trở thành một Kitô hữu và biết rất rõ về Cựu Ước cũng như mọi truyền thống Do Thái, nói rằng vào thời Chúa Kitô, các Rabbi Do Thái đã tập hợp được 456 lời tiên tri liên quan tới Đấng Mêsiah, Đấng sẽ được sinh ra từ dòng dõi Israel và thiết lập một giao ước mới với nhân loại. Bốn trăm năm mươi sáu lời tiên tri đấy! Nếu tất cả các lời tiên tri này đều được ứng nghiệm nơi Chúa Kitô, thì cơ hội để tất cả chúng cùng xảy ra vào một thời điểm nhất định, không chỉ trong nơi chốn, nhưng còn trong thời gian, như ngôn sứ Đaniel đã loan báo, là bao nhiêu? Nếu bạn đặt bút viết con số “1” trên giấy và rồi kẻ một hàng dưới chân con số đó, rồi dưới dòng kẻ đó viết con số “84”, và sau số “84”, nếu bạn có thời gian, viết số “0” một trăm hai mươi sáu lần. Đó chính là phần trăm tỷ lệ để cho mọi lời tiên tri về Chúa Kitô được ứng nghiệm. Bạn thấy đó, tỷ lệ lên đến hàng nghìn tỷ.
Nhiều lời tiên tri từ các tôn giáo khác cũng loan báo sự xuất hiện của Chúa Kitô. Khổng Tử nói rằng ông đang trông chờ một vị hiền triết vĩ đại đến từ phương Đông. Đức Phật nói rằng ngài không phải là nhà hiền triết, nhưng có một vị khác sẽ tới. Triết gia Platô vĩ đại nói một người công chính sẽ đến để dạy chúng ta cách đối nhân xử thế trước nhan Thiên Chúa và người đời. Các nhà soạn kịch Hy Lạp luôn cảm thấy rằng một Đấng Thần Linh nào đó sẽ đến. Aeschylus viết trong tác phẩm “Prometheus” của ông rằng: “Đừng có chờ đợi sự chấm dứt lời nguyền rủa này cho tới khi Đấng Thần Linh xuất hiện và gánh lấy trên mình Ngài những nỗi đau khổ do tội lỗi của chúng ta gây ra”. Nói cách khác, Người sẽ mang lấy tội lỗi chúng ta. Socrates đã mong đợi một người nào đó mà ông gọi là đấng công chính. Bạn nhớ Khúc Mục Hành số 4 của Virgil chứ? Đôi khi tác phẩm ấy còn được gọi là bài đồng dao mang tính chất mêsia, vì ông đã bảo một trinh nữ rằng: “Hãy nở môi tươi cười với người con sơ sinh của bà, vì nhờ cậu, Thời đại Đồ Sắt sẽ khép lại, mở ra trang sử mới của Thời Hoàng Kim trên toàn cõi đất”.
Khi Chúa Kitô đến, Người phán rằng: “Cần phải ứng nghiệm nơi Thầy lời các ngôn sứ đã loan báo” (Lc 22, 37). Đây là một trong những lý do tại sao Hêrôđê không hề ngạc nhiên khi Đấng Mêsiah được sinh ra. Các thầy Rabbi đã nói cho ông ta biết; họ nắm rõ các lời tiên tri. Vua Hêrôđê biết Chúa Kitô sẽ là vua, một vị Vua mới của nhân loạI; vì thế, ông muốn hạ sát Người. Khi Chúa chúng ta được khoảng ba mươi tuổi, Người đã đi vào Hội đường tại làng Nazareth. Thư ký trao cho Người cuộn sách ngôn sứ Isaiah, và Người bắt đầu đọc đoạn chép về Đấng Mêsiah sẽ trông như thế nào: về sự hiền dịu của Người, về cách Người chữa trị các vết thương, về cách Người tha thứ tội lỗi, về cách Người giải phóng kẻ tù đày. Khán giả chăm chú lắng nghe Người. Người bảo: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh tai quý vị vừa nghe” (Lc 4, 21). Không một ai khác có thể tự nhận về xuất thân của mình như thế. Chúng ta học hỏi nơi Đức Kitô chứ không ai khác. Từ nay tâm trí tôi sẽ luôn chìm đắm nơi Đấng đã được loan báo thuở xưa.

0 Nhận xét