6. Chân lý được mặc khải


Vũ trụ mà chúng ta đang cư ngụ là một vũ trụ tự do cho sự hình thành nhân cách và tâm hồn. Thiên Chúa toàn năng đã ban cho chúng ta quyền được trở nên thánh nhân hoặc ác quỷ. Chuyện đó hoàn toàn tùy thuộc vào sự định đoạt của chúng ta. Vũ trụ có một số định luật mà chúng ta không thể không tuân theo, chẳng hạn như luật hấp dẫn và một số luật sinh học khác như quy luật tuần hoàn máu. Thế nhưng, trong một vũ trụ luân lý, chúng ta hoàn toàn được tự do để vâng nghe luật Chúa hay chống đối Người, cũng như chúng ta được tự do cách tuyệt hảo để tuân theo hoặc bất tuân những quy luật về sức khỏe vậy.

Điều gì khiến cho một vật nên tốt lành? Một vật được nên tốt lành khi nó đạt tới được mục đích mà vì đó nó được tạo ra. Tôi có một cái đồng hồ bấm giờ. Làm thế nào để tôi biết là chiếc đồng hồ ấy tốt hay là không? Nhờ vào việc tự hỏi rằng; “Mục đích của chiếc đồng hồ đó là để làm gì?”

 “Mục đích của chiếc đồng hồ là để coi giờ”.

 “Nó chạy có chính xác không?”

 “Có chứ”.

 “Vậy chiếc đồng hồ đó là một vật tốt”.

Chúng ta cũng hãy áp dụng điều này cho cùng đích tối hậu của mình.

 “Tại sao chúng ta được dựng nên? Mục đích sống là gì?”

Mục đích sống là để được hạnh phúc viên mãn”

 “Làm thế nào để chúng ta được hạnh phúc viên mãn?”

 “Nhờ vào việc đạt được tới sự sống, chân lý và tình yêu, chính là Thiên Chúa. Bất cứ điều gì giúp tôi đạt được cùng đích ấy thì đều tốt đẹp”

Giả sử như tôi đang nhìn vào các nốt nhạc trên cây đàn organ. Người ta không thể cứ thế mà phân biệt được nốt nào là đúng và nốt nào là trật cả. Chính sự tương thích với một tiêu chuẩn mới là điều làm cho nốt nhạc đúng hay trật. Vậy khi tôi có một bản nhạc trước mặt mình, tôi biết mình nên làm gì, nốt nào nên hoặc không nên đánh.

Chúng ta có một tiêu chuẩn luân lý nơi lương tâm mình. Điều gì là đúng hay sai đều tùy thuộc vào mối quan hệ với một tiêu chuẩn không do chúng ta làm ra. Chúng ta không tự mình vẽ nên tấm bản đồ và quyết định khoảng cách đi từ Chicago tới New York. Chúng ta cũng không tự ý chỉnh đồng hồ của mình; nhưng là nhờ vào một hệ tiêu chuẩn nằm ngoài chúng ta. Chúng ta không tự mình quyết định rằng một yard sẽ bằng hai mươi bốn inch chứ không phải là ba mươi sáu inch. Sự thiện giúp chúng ta đạt được mục tiêu, cùng đích, định mệnh phù hợp với lý trí đúng đắn.

Điều gì khiến một vật trở nên tồi tệ? Tôi có một cây bút chì.

“Cây bút chì đó có viết được không?”

“Được chứ, đó là lý do nó được làm nên mà.”

“Nó có thể được dùng để mở hộp không?”

 “Chắc chắn là không rồi”

Giả sử như tôi sử dụng cây bút chì ấy để làm đồ mở hộp. Chuyện gì sẽ xảy ra? Trước tiên, tôi sẽ không thể mở chiếc hộp được. Tôi đã không sử dụng chiếc bút chì đó đúng với mục đích của nó, và thứ hai, tôi sẽ làm hư cây bút chì. Vậy nếu tôi quyết định làm một vài điều mà bản thân không nên làm, tôi sẽ không đạt được mục đích mà bản thân mình hy vọng đạt tới. Trở thành một kẻ nghiện rượu sẽ không làm bản thân tôi được hạnh phúc, và hơn nữa, tôi sẽ hủy hoại chính mình giống như cái cách tôi làm hư cây bút chì khi dùng nó để mở hộp.

Khi tôi không vâng nghe lời Chúa, tôi đã không có được hạnh phúc cho tâm hồn và chắc chắc đã phá vỡ bình an mà tôi đáng ra nên có. Bạn thấy đấy, sự dữ có nghĩa là tiêu cực. Sự dữ là một sự thái quá, hoặc là một khiếm khuyết của sự thiện. Đồ ăn thức uống tự thân là tốt. Nhưng ăn ít quá hay uống nhiều quá là xấu. Ngủ nghỉ là chuyện tốt. Nhưng nếu ngủ mê đến độ làm lỡ bổn phận thì là không tốt chút nào. Sự dữ giống như bóng tối; nó là sự vắng bóng của ánh sáng, tự thân sự dữ không có bản thể của riêng mình. Mọi sự xấu xa đều là sự thiện bị tha hóa. Một trái táo dở là một trái táo ngon đã bị thối. Sự dữ là thứ ký sinh trên sự thiện bởi tự thân nó không có chút vốn liếng riêng nào.

Vũ trụ này là một tấm màn rèn giũa linh hồn dựa vào việc tận dụng lý trí và ý chí của chúng ta. CHúng ta được dựng nên cách tốt đẹp, và được thiết định để đạt tới chân lý, nhưng chúng ta thật yếu đuối biết bao! Hãy nhìn vào những giới hạn nơi lý trí và ý chí của chúng ta. Ngay cả những người có lý trí vô cùng sắc bén cũng thừa nhận rằng rốt cuộc họ cũng chỉ nắm bắt được một chút chân lý mà thôi. Nhà khoa học vĩ đại là Isaac Newton nói rằng ông cảm thấy cứ như thể ông đang đứng trên bờ biển của chân lý vô tận và trước mặt ông là bãi nước mênh mông của tri thức không biết đâu là bến bờ. Một trong những bậc thông thái của Hy Lạp là Socrates cũng nói: “Tôi chỉ biết có một điều là tôi chẳng biết gì cả”. Thánh Tôma Aquinô, người có bộ óc siêu phàm nhất từng sống trên trần gian, vào lúc cuối đời đã nói rằng tất cả những gì ngài viết chỉ là rơm rác nếu so với thị kiến mờ nhạt mà ngài từng được thấy về thiên đàng.

Hoàn toàn khác biệt với những bậc trí giả này, hãy nhìn xem thế hệ con người hôm nay, lý trí họ đớn hèn ra sao, hỗn độn tới chừng nào, bởi họ không thể nhận ra đâu là chân lý hay sự thiện. Vào một ngày thứ Hai trong tuần họ đọc một cuốn sách nọ và phán rằng: “Tôi là người theo chủ nghĩa duy vật”. Rồi sau đó họ tìm đọc cuốn sách khác vào thứ Ba và té ra họ lại là một người cộng sản. Một lúc sau họ đọc thêm một cuốn khác nữa và rốt cuộc họ dẹp luôn hai thứ chủ nghĩa kia. Hôm trước họ đặt đường ray, hôm sau họ lại dỡ bỏ. Họ không bao giờ có sự kiên định hướng về một mục tiêu cụ thể. Chẳng lạ gì khi ngày nay có nhiều người bị mắc chứng loạn thần và loạn thần kinh; họ chỉ là đang xào nấu lại những điều sai lạc cũ kỹ và dán cho chúng những nhãn hiệu mới mà thôi.

Lý trí và ý chí chúng ta thật yếu ớt. Ngay cả khi chúng ta biết điều gì là đúng, chúng ta đôi khi cũng cảm thấy thật khó để làm theo điều đúng đó. Chúng ta bị vây hãm bởi những cơn cám dỗ. Nhiều khi chúng ta thấy mình giống như nhân vật Goethe, một người từng nói rằng dù chỉ là một cá nhân, trong người ông có đủ cả sự dữ lẫn sự thiện, đến nỗi ông vừa có thể là một kẻ vô lại, vừa là một quý ông lịch lãm. Thánh Augustinô có nói: “Dù con có là gi đi nữa, con vẫn chưa đạt tới con người mà con nên trở thành”.

Nhìn lại, chúng ta phải nhìn nhận rằng lý trí chúng ta thật hèn yếu và mê muội, ý chí thì bạc nhược và đớn hèn. Chúng ta cần được cứu giúp! Chúng ta cần thêm chân lý cho tâm trí; và thêm tình yêu cũng như sự thiện hảo cho ý chí mình. Chúng ta tìm những sự ấy ở nơi đâu? Liệu Thiên Chúa có thể trao ban chúng cho chúng ta hay chăng? Chắc chắn rồi. Người hoàn toàn có thể làm thế, không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng là vì điều đó tương xứng với lòng nhân lành của Người, vốn luôn trao ban và bổ sức cho chúng ta. Con người chúng ta có tinh thần ham học hỏi; chúng ta là loài sở hữu lý trí. Thiên Chúa chắc hẳn có thể cho chúng ta biết thêm chân lý. Bản tính của chúng ta liên tục được nhận lãnh những xung năng vô hình. Thế giới chúng ta sẽ chẳng có cỏ cây nếu như mặt trời không phóng chiếu những tia sáng của nó – thứ chúng ta không nhìn thấy. Thiên Chúa có thể truyền ban một sức mạnh hữu hình hay vô hình để soi sáng chúng ta. Người có thể kiện cường ý chí chúng ta, vốn là điều chúng ta cần đến. Chúng ta không thể tự nhấc mình lên bằng dái tai. Ước vọng của chúng ta thật quá yếu ớt. Hãy nhìn vào những quyết tâm chúng ta đặt ra cho năm mới, thế rồi lại phá vỡ. Chúng ta cần sức mạnh đến từ bên ngoài! Một chiếc bóng đèn cần nguồn năng lượng từ bên ngoài. Chúng ta có một bao tử, nhưng chúng ta lại cần thức ăn đến từ bên ngoài. Chúng ta có lỗ tai, nhưng chúng ta cũng chỉ có thể nghe được âm thanh từ bên ngoài.

Thiên Chúa hoàn toàn có thể soi sáng lý trí chúng ta, nhưng làm thế nào chúng ta biết được điều đó? Chắc chắn có rất nhiều người tự xưng là sứ giả của Thiên Chúa. Lý trí phải thiết lập một số tiêu chuẩn nhất định trước cả khi một mặc khải diễn ra. Chúng ta không thể để cho một gã nào đó bước lên vũ đài lịch sử và tuyên bố: “Tất cả hãy nghe lời ta, vì ta từ Chúa mà đến” hoặc “Ta đã nhận được một mặc khải”.

Có lần tôi nhận được một bức điện tín từ một người nào đó với yêu cầu rằng “Hãy đến Cảng 53, Cảng New York, để đón nhận ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần”. Tôi tin chắc rằng người viết bức điện tín này, dù là ai đi chăng nữa, cho rằng mình đã nhận được một mặc khải. Tuy nhiên, không phải cứ người nào tự xưng mình nhận được mặc khải là chúng ta phải tin vào người đó. Chúng ta không thể nào tin vào một gã dám công bố rằng: “Một thiên thần đã viết quyển sách này và trao nó cho tôi”. Nếu có ai tự xưng mình đến từ Thiên Chúa, mang theo mặc khải để sáng soi tâm trí và sức mạnh để kiện toàn ý chí chúng ta, thì ắt hẳn lý trí sẽ đưa ra một vài phép thử. Những người như thế có thể được chứng thực bởi lý trí và bởi dòng chảy lịch sử. Thứ nhất, bất cứ nhân vật quan trọng nào đến trong trần gian thì đều được báo trước. Thứ hai, người đó cần phải làm phép lạ để chứng minh mình quả thật là một sứ giả. Thứ ba, bất cứ điều gì người đó giảng dạy hay mặc khải thì không được trái ngược với lý trí con người, mặc dù chúng có thể vượt trên lý trí. Những tiêu chuẩn này chính là thước đo.

Bất cứ ai quan trọng đến trong trần gian đều phải được loan báo trước. Cô dâu sẽ báo trước ngày cưới của mình và nhà sản xuất ô tô sẽ báo cho chúng ta biết khi nào có mẫu ô tô mới được bày bán. Nếu Thiên Chúa sắp sửa sai một đấng nào đó đến trần gian, chắc hẳn rằng ít nhất Người cũng sẽ báo cho chúng ta biết trước. Điều kiện này sẽ loại bỏ ý tưởng về một nhân vật nào đó đột nhiên xuất hiện trên vũ đài lịch sử và phán: “Ta chính là Thiên Chúa” hoặc “Ta mang theo thông điệp của Thiên Chúa”. Ngoài ra, Đấng phải đến cần phải có khả năng thực hiện những dấu chỉ, phép lạ, nhằm chứng thực cho sứ điệp của mình. Người ấy sẽ không làm những việc nhằm khơi dậy sự kinh ngạc của chúng ta và khiến chúng ta phải thốt lên hai tiếng “ôi trời!” Đúng hơn, phép lạ sẽ chứng thực rằng Thiên Chúa ở với người ấy. Bất cứ đấng nào đến trong thế gian này không bao giờ được phép giảng dạy điều gì mâu thuẫn với lý trí con người. Họ có thể mặc khải cho chúng ta những mầu nhiệm vượt quá lý trí, nhưng tự thân những mầu nhiệm đó không được gây mâu thuẫn. Người nào rao giảng những sự vô luân hay tuyên bố linh hồn không bất tử thì chúng ta biết chắc người ấy không thể nào đến từ Thiên Chúa, bởi những lời lẽ như thế đã hoàn toàn trái ngược với lý trí chúng ta.

Nhờ lý trí, chúng ta có ba thước đo hoặc phép thử, có thể được áp dụng vào trong lịch sử. Chúng ta cứ việc tập họp những người tự xưng là đến từ Thiên Chúa, dựa vào lời của họ. Rồi chúng ta sẽ nói với họ rằng: “Chúng tôi sẽ xét xử quý vị. Đức Phật, Khổng Tử, Lão Tử, Môhamét, Các Mác, Brahmans, thầy phù thủy, triết gia đạo Hinđu, giáo sư đại học, Eddy, Heidegger, người sáng lập giáo phái mới nhất ở New York hay Los Angeles, bất cứ ai quý vị muốn! Tất cả hãy đứng đây, chúng tôi muốn hỏi các quý vị một vài câu.

“Chúng tôi sẽ chỉ dùng một phép thử có trong bài học này: ‘Có ai trong số quý vị đã được loan báo trước hay không?’ Xin hãy trả lời đi!”

 “Thưa Đức Phật, liệu đã từng có ai biết ngài sẽ đến trong thế gian hay chăng?”

 “Thưa Đức Khổng Tử, có ai đã tiên tri về nơi sinh của ngài hay chưa?”

 “Thưa ngài Socrates, liệu đã có ai báo trước ngài sẽ chết vì nước cây độc cần hay chăng?”

 “Thưa tiên tri Môhamét, có truyền thống cổ kính nào cho biết ngài sẽ được sinh ra giữa một dân tộc cụ thể nào đó hay không? Liệu có chăng một bút tích nào đó mô tả cái chết của ngài?”

 “Có người mẹ nào của các ngài biết là các ngài sẽ đến trong thế gian không?”

 “Có ai trong số các ngài có thể chứng minh sử sách đã ghi chép lời tiên báo nơi các ngài được sinh ra, nơi và cách thức các ngài sẽ ra khỏi đời này, nhân cách bản thân, cung cách giảng dạy, kẻ thù mà các ngài sẽ khơi dậy và chuốc lấy từ chính việc giảng dạy của mình hay không?

Bạn thấy đấy, cho tới lúc này, chúng ta vẫn chưa thấy Đấng Kitô có gì khác biệt với bất cứ sứ giả nào khác của Thiên Chúa. Giờ đây, có một vị bước ra khỏi hàng.

 “Ngài tên là gì?”

 “Ta là Giêsu Kitô”.

 “Ngài có được loan báo hay không? Từ thời xa xưa trước khi Ngài đến, có ghi chép lịch sử nào mô tả chi tiết sự hiện hữu của Ngài hay không? Có tài liệu nào chứng thực cho công việc Ngài sẽ làm và mục đích của việc Ngài đến trần gian hay không?”

Người chính là Đấng duy nhất có thể trả lời “Có”. Thế là chúng ta sẽ nói với những người kia: “Các vị hãy lùi lại; các vị có thể là những con người lý thú đấy, nhưng các vị đã không qua được phép thử đầu tiên của tôi. Các vị đã không được loan báo trước, mà đó lại là điều tối thiểu Thiên Chúa có thể làm. Sứ điệp các vị mang theo chỉ là của riêng các vị mà thôi”. Nhưng chúng ta lưu tâm tập chú nơi con người Đức Kitô. Người phán Người đã được loan báo từ trước.

0 Nhận xét