Chúng ta đã nói rằng có ba động cơ tạo nên sự đáng tin cậy, ba lý do giải thích tại sao người ta có thể tin vào bất kỳ ai, hoặc là tin vào bản thân con người Chúa Kitô. Thứ nhất, đó là bởi Người đã được loan báo từ trước, như chúng ta đã thảo luận; thứ hai, nếu Người quả thật đến từ Thiên Chúa, hẳn là phải có những dấu lạ hoặc phép lạ minh chứng cho sự chân thật của Người. Giờ đây, chúng ta sẽ bàn về phép lạ.
Chúng ta hãy nhớ rằng phép lạ không hề phá vỡ luật tự nhiên. Thiên Chúa và vũ trụ không hề là hai thế lực đối nghịch nhau. Hãy xem ví dụ này. Hầu hết mọi ga xe lửa lớn, nơi có các đường ray chạy song song, gặp nhau và giao nhau, đều có một tòa tháp điều khiển. Chính từ nơi đó mà người ta điều hướng đường ray và gửi đi tín hiệu bằng nhiều cách thế đa dạng. Chỉ cần kéo cái cần gạt và thế là đoàn tàu hùng dũng lăn bánh tiến bước đi đến điểm dừng chân đã được định sẵn. Cũng chỉ cần kéo một cái cần gạt khác là đoàn tàu chở hàng sẽ đi vào đường ray phụ để nhường đường cho tàu chở khách đi qua. Mọi tuyến giao thông đường sắt sẽ ra rối loạn nếu như những công tác tối thiết như thế không được thực hiện nơi tòa tháp điều khiển kia; thật thế, nếu không có tòa tháp ấy, thảm họa sẽ xảy ra.
Đây chỉ là một minh họa mờ nhạt cho luật tự nhiên, vì toàn thể vũ trụ này vận hành theo những định luật bất biến. Chúng ta không thể nhìn thấy tín hiệu do Thiên Chúa phát ra, hoặc cũng không thể hiểu được cách Người chuyển trao quyền năng của Người cho các lực lượng thiên nhiên như thế nào. Chúng ta không nhìn thấy Người đứng đó gạt cái cần gạt để mọi thứ được hoạt động. Nhưng chúng ta chỉ biết rằng luật Người đặt ra thì tuân phục Người với một độ chính xác và sự nhanh chóng đến độ toàn bộ hệ thống đường sắt trên thế giới này cũng không thể tưởng nổi. Khi một phép lạ xảy ra mà dường như nó đối nghịch với định luật vạn vật hấp dẫn, thì thật ra đó chỉ là sự xuất hiện của một sức mạnh lớn lao hơn mà thôi. Thật vậy, cánh tay phải của một đứa bé cũng có thể thắng được luật hấp dẫn. Theo luật tự nhiên, một trái banh ném lên cao thì phải rơi xuống đất. Khi nó nảy, thì nó nảy lên trên nhà. Và một đứa trẻ có thể ngăn chặn sự vận hành của luật hấp dẫn bằng cách đưa tay bắt lấy trái banh đó.Vậy nên, khi Thiên Chúa giơ cánh tay dũng lực của Người, Người có thể đình chỉ một số luật tự nhiên nào đó nhằm biểu lộ sự tốt lành và công lý của Người. Chính Người, Chủ Nhân của vạn vật muôn loài, là minh chứng cho sự chân thật nơi sứ giả và sứ điệp.
Chúa chúng ta đã làm nhiều phép lạ, và đây là một số đặc tính của chúng. Người thực hiện những phép lạ hầu thuyết phục con người tin rằng Đấng thực hiện những phép lạ đó chính là Đấng đã được hứa ban từ ngàn xưa. Người không bao giờ làm phép lạ để gây kinh ngạc cho đám đông. Người không bao giờ làm phép lạ để thỏa mãn cơn đói khát của mình. Người không bao giờ làm phép lạ để kiếm sống. Người không bao giờ nhận tiền như phần thù lao vì những gì bản thân Người đã thực hiện. Người từ chối biến sỏi đá nơi hoang địa thành bánh để thỏa mãn cơn đói, cũng không khiến cho nước tuôn trào từ một tảng đá để làm dịu đi cơn khát của mình; nhưng thay vào đó, Người lại xin một người phụ nữ múc nước cho mình uống.
Chúa Giêsu đã lý giải vì sao Người làm phép lạ. Người bảo: “Còn nếu tôi làm các việc đó, thì dù các ông không tin tôi, ít ra cũng hãy tin các việc đó. Như vậy, các ông sẽ biết và ngày càng biết thêm rằng: Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha” (Ga 10, 38). Vào một dịp khác Người lại nói: “Nhưng phần tôi, tôi có một lời chứng lớn hơn lời chứng của ông Gio-an: đó là những việc Chúa Cha đã giao cho tôi để tôi hoàn thành; chính những việc tôi làm đó làm chứng cho tôi rằng Chúa Cha đã sai tôi.” (Ga 5, 36). Nếu như Thiên Chúa muốn mặc khải một điều gì đó, vậy thì một phép lạ sẽ là rất thích hợp để chứng thực và đảm bảo rằng sứ điệp được truyền ban là chân thật. Nếu một phép lạ xảy ra có liên kết với lời nói hay việc làm của một người tự xưng mình là người truyền tải mặc khải của Thiên Chúa, vậy thì sự trùng hợp đó chứng thực rằng Thiên Chúa chấp thuận cả sứ giả lẫn sứ điệp. Phép lạ chính là dấu niêm phong mà Thiên Chúa ghi ấn nơi việc mặc khải Chúa Kitô, Người Con chí ái của Người. Nếu Chúa Giêsu biểu lộ điều đó bằng quyền năng thực hiện phép lạ của Người, vậy là Người đã chứng minh rằng chính Người là Đức Chúa và Thiên Chúa của toàn thể vũ trụ này.
Một đặc tính khác của những phép lạ được Chúa chúng ta thực hiện đó là: không có gì là bất hợp lý nơi chúng cả. Ai ai cũng có thể kiểm chứng các phép lạ ấy. Thật thế, phần lớn các phép lạ không hề diễn ra ở những nơi kín ẩn trong đời sống thường nhật của con người, nhưng chúng diễn ra ngay trong chính cái có thể được gọi là thế giới vật lý của chúng ta đây, nơi các nhà khoa học có thể kiểm chứng các phép lạ ấy. Chúa Giêsu chưa bao giờ thực hiện một phép lạ nếu như không có nhân chứng kề bên. Khi Người chữa lành người bị phong cùi, có một đoàn người đông đảo đi theo sau Người (Mt 8, 1-4). Khi Người chữa lành cho người đầy tớ của viên đại đội trưởng Rôma, Người thậm chí chẳng đi đến chỗ kẻ đầy tớ ấy đang liệt giường (Mt 8, 8). Khi Người chữa cho bà nhạc gia của Phêrô hết sốt, các Tông đồ và những người khác đều có mặt ở đó (Mt 8, 14-15). Chúa chúng ta đã chẳng bao giờ lên núi một mình, nơi không có ai chứng kiến, để làm phép lạ và rồi xuống núi tuyên bố là Người đã thực hiện xong một phép lạ. Công việc của Người được hoàn tất trước đôi mắt của biết bao con người, và đó là lý do vì sao không ai có thể chối bỏ dù chỉ là một phép lạ do Chúa chúng ta thực hiện, thậm chí là cả Sự Phục Sinh của Người. Các Tông đồ đã bị cấm rao giảng điều đó, nhưng các phép lạ thì không hề bị phủ nhận.
Những phép lạ Người làm thì không tách rời khỏi bản thân Người. Các phép lạ ấy khác với những phép lạ do tay các ngôn sứ thực hiện, bởi họ được ơn trên nhậm lời. Còn phép lạ do tay Chúa Giêsu thực hiện thì được tuôn đổ từ sức sống uy dũng của Người. Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, thánh Tông đồ gọi các phép lạ bằng cụm từ “dấu lạ”, nghĩa là chúng là những điều hiển nhiên nơi Chúa Giêsu, xuất phát từ chính bản tính thần linh của Người. Chúng là bằng chứng cho mặc khải thần linh của Chúa; thậm chí còn hơn thế nữa, chúng làm chứng cho công trình cứu chuộc của Người với tư cách là Đấng cứu thế. Qua việc chữa lành kẻ liệt, đui mù, què quặt, Chúa Kitô đã mặc cho quyền năng của Ngài một “tấm áo” hữu hình để chữa lành các bệnh tật thiêng liêng, được biểu trưng nơi các chứng bệnh thể lý. Người thường chuyển hướng từ những phép lạ nơi thân xác sang ý nghĩa biểu tượng và thiêng liêng của chúng; chẳng hạn, bị mù là dấu chỉ cho sự mù lòa trước ánh sáng đức tin. Bằng việc xua đuổi ma quỷ ra khỏi những người bị quỷ ám, Người chỉ cho thấy chiến thắng của Người trên quyền lực sự dữ, nơi đó con người được giải phóng khỏi ách nô lệ ma quỷ và được phục hồi lại tự do về mặt luân lý.
Nếu bạn tách biệt các phép lạ ra khỏi cuộc đời Chúa Kitô, ấy là bạn đã hủy diệt căn tính của cả Người lẫn các Sách Phúc Âm. Thậm chí, chúng ta cũng không thể giữ một thái độ trung lập trước các phép lạ nơi các Sách Tin Mừng. Lời tuyên bố thực hiện phép lạ không phải là thứ kém quan trọng nhất trong giáo huấn của Chúa chúng ta, cũng như những phép lạ do tay Người thực hiện cũng chẳng phải chỉ là yếu tố tùy phụ nơi sứ mệnh của Người. Thật thế, phép lạ được đan xen với toàn thể cuộc đời của Chúa Giêsu. Nếu các phép lạ của Chúa không có thật thì toàn thể những nét chính trực về mặt luân lý nơi nhân cách của Người cũng hoàn toàn bị sụp đổ. Nếu Người là một kẻ dối trá, hẳn là Người không phải là Đấng mà Người tự xưng. Chúng ta không thể tách rời hai điều mà Thiên Chúa đã liên kết; cụ thể là, vẻ đẹp nơi nhân cách của Chúa Kitô và tính chân thật nơi các phép lạ do Người thực hiện.
Người đã làm bao nhiêu phép lạ vậy? Con số cụ thể được các Sách Tin Mừng đề cập là ba mươi lăm. Trong số đó, có ba phép lạ liên quan tới việc phục sinh kẻ chết: một đứa bé, một thanh niên và một người trưởng thành; có chín phép lạ liên quan tới thiên nhiên; và hai mươi ba phép lạ liên quan tới việc chữa lành. Thêm vào đó, còn có những phép lạ liên hệ trực tiếp đến cuộc đời Chúa Kitô, chẳng hạn như sự sinh hạ đồng trinh, Phục Sinh từ cõi chết và Thăng Thiên. Mặc dù chỉ có ba mươi lăm phép lạ cụ thể được nhắc đến, chúng ta không được phép cho rằng Chúa Giêsu chỉ làm có bấy nhiêu phép lạ mà thôi. Hãy đọc những lời thánh Gioan đã đúc kết nơi cuối Sách Tin Mừng của ngài: “Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra.” (Ga 21, 25). Chắc hẳn con số các phép lạ là nhiều vô số kể. Khi đám đông dân chúng chứng kiến một phép lạ Người làm, họ đã hỏi nhau: “Khi Đấng Ki-tô đến, liệu Người có làm nhiều dấu lạ hơn ông này chăng?” (Ga 7, 31). Các ngôn sứ đã loan báo rằng Đấng Mêssiah sẽ làm nhiều phép lạ. Và chính bởi vì Người đã thực hiện rất nhiều phép lạ, hiển nhiên Người phải là Đấng Kitô.
Chúng ta giờ đây sẽ xem xét phép lạ quan trọng nhất, chính là sự Phục Sinh. Trong Tân Ước, có năm trình thuật khác nhau kể về sự Phục Sinh, và tất cả các trình thuật ấy đều độc lập: bốn trình thuật trong các Sách Tin Mừng, và một trình thuật của riêng thánh Phaolô. Khoảng ba năm sau khi được ơn hoán cải, thánh nhân đã đến đàm đạo với hai thánh Phêrô và Giacôbê, đồng thời cũng bước vào mối quan hệ thân thiết với các vị Tông đồ. Năm bản ghi chép biệt lập này cung cấp ít nhất mười một trình thuật về sự Phục Sinh của Chúa Giêsu cũng như những lần hiện ra của Người, một trong số đó là hiện ra với cùng lúc 500 môn đệ. Sự thật là Chúa chúng ta đã chết trên Thập giá, đã được mai táng cùng với một trăm cân thuốc thơm theo như phong tục thời ấy, cũng như đã có lính canh gác mồ của Người. Trong toàn bộ lịch sử nhân loại, chỉ có một trường hợp duy nhất kể về một ngôi mộ có phiến đá che trước cửa mồ và có lính canh chừng để ngăn không cho kẻ chết được phục sinh; và đó chính là ngôi mộ của Chúa Kitô vào tối ngày Thứ Sáu Tuần Thánh (Good Friday).
Còn cảnh tượng nào lố bịch hơn cảnh những tên lính canh có vũ trang đứng canh gác một cái xác chết? Thế nhưng, người ta vẫn bố trí lính canh để đề phòng người chết sống lại, kẻ nằm trong nấm mồ im lìm chợt cất tiếng nói, và trái tim bị đâm thâu bỗng nhiên đập trở lại. Họ biết Người đã chết. Họ nói rằng Người sẽ chẳng bao giờ trỗi dậy nữa, vậy mà họ lại canh chừng. Họ nhớ lại lời Người phán rằng Đền Thờ chính là Thân Thể Người và Người sẽ xây nó lại sau ba ngày bị phá hủy (Ga 2, 19). Họ nhớ rằng Người đã so sánh chính mình với ngôn sứ Giôna, và tuyên bố rằng như Giôna đã ở trong bụng kình ngư ba ngày như thế nào (Gn 1, 17) thì Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày và sẽ phục sinh như vậy (Mt 12, 40). Cũng sau ba ngày, Abraham nhận lại được người con mình là Isaac, người bị hiến tế toàn lễ toàn thiêu (St 22, 4-19). Dân Do Thái rất quen thuộc với những ý niệm này. Bởi chính đất Ai Cập cũng đã từng trải qua ba ngày sống trong bóng tối, một sự tối tăm hoàn toàn không hợp quy luật tự nhiên (Xh 10, 22). Cũng vào ngày thứ ba, Thiên Chúa tỏ mình trên núi Sinai (Xh 19, 11) và, lại một lần nữa, người ta lo ngại về ngày thứ ba mà Chúa Giêsu đã ám chỉ tới. Cho nên, sáng ngày thứ Bảy, vị Thượng Tế và các người Pharisêu đã vi phạm luật ngày Sabát, đã đến gặp quan Philatô mà nói rằng:
“Hôm sau, tức là khi ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pha-ri-sêu kéo nhau đến ông Phi-la-tô, và nói: ‘Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: ‘Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy.’64 Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước.’” (Mt 27, 62-64). Việc họ yêu cầu cho lính canh gác thực ra là nhằm hướng đến những lời Chúa giêsu tuyên bố về sự Phục Sinh của Người, hơn là vì sợ các Tông đồ đến lấy trộm xác và chống chế là Người đã phục sinh. Philatô chẳng hề có hứng gặp nhóm người này; bởi họ chính là duyên cớ khiến ông phải kết án người vô tội. Ông đã tự mình thực hiện cuộc điều tra, và chứng thực rằng Chúa Kitô đã chết. Ông sẽ không chấp nhận chuyện phi lý khi phải điều động quân đội của Hoàng đế Xêda để canh gác một tên Do Thái đã chết. Do đó Philatô nói với bọn họ rằng: “Thì có sẵn lính đó, các người hãy đi mà canh giữ theo cách các người biết!” (Mt 27, 65).
Việc cử lính canh gác và làm dấu niêm phong là để ngăn ngừa bạo động và trò gian trá. Nếu cần phải canh gác và đóng dấu niêm phong thì kẻ thù phải là người đứng ra làm việc đó. Để rồi chính quân thù phải đưa tay ký giấy chứng thực sự chết cũng như sự phục sinh. Dân ngoại, xét về khía cạnh tự nhiên, đã hài lòng với việc Chúa Kitô chịu chết, còn dân Do Thái thì hài lòng với điều ấy dựa trên khía cạnh lề luật. Như Tin Mừng theo thánh Matthêu có chép: “Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ” (Mt 27, 66). Một vị Vua đang yên giấc với đoàn lính canh hộ vệ kề bên, và điều đáng ngạc nhiên nhất về cảnh tượng canh xác kẻ chết này là chính vì kẻ thù của Chúa Kitô đã dè chừng Người sống lại nên mới cử lính canh gác, còn các bạn hữu của Người thì lại không nghĩ tới điều đó. Chính những kẻ tin lại có thái độ hoài nghi; còn phường bất tín lại tin tưởng hơn hết. Những môn đệ đi theo Người lại cần và đòi hỏi bằng chứng về sự Phục Sinh để có thể tin. Cứ cho là chúng ta không chấp nhận bằng chứng về sự Phục Sinh cũng như những phép lạ chứng thực cho sự đáng tin cậy của Chúa Kitô. Vậy thì chúng ta phải lý giải về sự kiện ngôi mộ trống cách nào? Chúng ta phải giải thích cho sự kiện là các Tông đồ đã ra đi rao giảng về sự Phục Sinh, vốn không ai phủ nhận, ra làm sao? Những kẻ phủ nhận sự Phục Sinh của Chúa Kitô đưa ra hai lời giải thích phổ biến sau đây. Thứ nhất, đó là giả thuyết về sự lừa dối. Giả thuyết này cho rằng các Tông đồ, cũng như những nhân chứng khác công bố rằng họ đã thấy Chúa Kitô Phục Sinh, đã nói dối về sự kiện Phục Sinh đó. Giả thuyết này rõ ràng là sai lầm. Vì nếu như Chúa Kitô đã không phục sinh từ cõi chết thì làm thế nào Người có thể thuyết phục cả thế giới tin theo được? Thật thế, chỉ có sự xác tín rằng Chúa đã sống lại mới khiến cho người ta có thể liều mạng sống mình như vậy. Hơn nữa, hành vi của các môn đệ minh chứng rằng họ tin tưởng tuyệt đối như thế. Họ đã rao giảng về sự kiện đóng đinh ngay tại chính nơi Chúa chịu khổ hình, cũng như ngay tại chính chỗ họ phải chịu đau khổ vì đã rao giảng như vậy. Thật thế, không một ai sẽ chấp nhận chịu đổ máu vì một lời dối trá. Cho nên, sự Phục Sinh không phải là một sự gian dối.
Nhưng còn có một giả thuyết khác nhằm bác bỏ sự kiện Phục Sinh bằng ngôn ngữ tâm lý học đại chúng. Giả thuyết này cho rằng các Tông đồ rất khát mong được nhìn thấy Đấng cứu thế phục sinh. Họ đã nghe Người nói là Người sẽ trỗi dậy từ cõi chết, và tất cả những lời nói về sự Phục Sinh đó đã đi vào trong tiềm thức của họ. Ý tưởng đó trở nên như một nỗi niềm khát khao. Và rồi sự thất bại và cái chết khủng khiếp đã xảy ra vào ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Họ biết họ đã thua cuộc. Niềm hy vọng về Đấng Mêssiah đã đổ vỡ khi họ trông thấy Đấng cứu thế của mình bị đóng đinh và chịu chết, nên giờ đây họ bắt đầu tưởng tượng về sự Phục Sinh của Người. Họ tin là họ đã nhìn thấy Người. Họ tin chắc rằng Người đã nói là Người sẽ sống lại.
Giả thuyết cũng sai lầm vì nhiều lý do khác nhau. Các Tông đồ phân biệt được sự khác biệt giữa thực tại và trạng thái bị thôi miên. Có rất nhiều đoạn trong Kinh Thánh có liên quan tới sự khác biệt này. Chúa Giêsu đã không hiện ra khi các Tông đồ họp nhau cầu nguyện, thờ phượng, hay những lúc họ xem như bị cuốn vào những ảo tưởng tôn giáo. Chúa Kitô Phục Sinh hiện ra tại những nơi chốn rất bình dị, trong những công việc thường nhật, trong những lúc họ đi lại, dùng bữa hoặc đánh cá. Các cuộc hiện ra ấy diễn ra trong những bối cảnh hết sức bình thường, là điều khác biệt hoàn toàn so với những ảo tưởng của các kẻ cuồng tín hoặc trong bối cảnh mà các cuộc thị kiến có thể xảy ra, cụ thể là trong giấc ngủ.
Điều đáng ngạc nhiên nhất về sự kiện Phục Sinh đó là không một môn đệ nào tin rằng Người sẽ sống lại từ cõi chết. Không một môn đệ nào tin điều đó cả. Đó là lý do vì sao các phụ nữ đã đi ra mồ vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh, mang theo thảo dược để ướp xác, chứ không phải để đi chào đón một Đấng đã trỗi dậy. Hơn nữa, Chúa Kitô đã hiện ra vào những lúc người ta không ngờ tới. Không một ai nghĩ tưởng hay thậm chí hy vọng Người sẽ trỗi dậy. Khi thánh nữ Maria Mađalêna thấy ngôi mộ trống, bà không hề nghĩ rằng Người đã sống lại. Bà nói rằng ai đó đã dời xác Người đi chỗ khác. Khi tin tức về ngôi mộ trống đến tai Phêrô và Gioan, họ đã cho rằng: “Ôi, quả đúng là đồ đàn bà, lúc nào cũng thích tưởng tượng này nọ”. Và còn có một Tông đồ giữ thái độ hoài nghi trong suốt cả một tuần, đó là Tôma.
Một lập luận khác chống lại giả thuyết về tâm lý học đó là hiện tượng ảo giác không thể đồng thời xảy ra cho nhiều người khác nhau. Ảo giác, giống như giấc mơ, là của riêng mỗi người. Chúng ta không mơ thấy cùng một giấc mơ trong cùng một thời điểm. Có bằng chứng nào cho thấy cả năm trăm người cùng nghi ngờ tính hiện thực của sự kiện Chúa Giêsu hiện ra với họ hay chưa? Đối với giả thuyết mang tính chủ quan này, một hiện tượng ảo giác sẽ chẳng bao giờ có thể lăn tảng đá ra khỏi cửa mồ. Vì ở đó có cả lính Rôma lẫn lính gác Đền thờ. Người ta không thể nào đi viếng mộ và rồi thấy nó trống không được. Nếu xác người lúc nào cũng nằm ở đó, thì chắc hẳn họ sẽ không rơi vào ảo giác. Nếu sự Phục Sinh chỉ là một ảo giác, thì những hành vi như chạm vào thân thể Chúa Kitô, đưa ngón tay xỏ vào lỗ đinh, đặt bàn tay vào cạnh sườn, như Tôma đã thực hiện, cũng chắc chắn chỉ là một ảo giác. Khi Chúa Giêsu hiện ra, Người đã ăn uống; các môn đệ thấy thức ăn vơi đi. Người đã cầm lấy tấm bánh, và họ thấy tấm bánh bị bẻ ra. Vào một dịp khác, Người đã trao cho họ bánh và cá, và họ đã được no nê. Chắc chắn điều này sẽ không xảy ra nếu như đó chỉ là một giấc mơ hay một ảo ảnh.
Sự thật là không ai trong số các Tông đồ mong đợi sự Phục Sinh. Các ông chỉ chịu tin sau khi đã được tai nghe mắt thấy, giống như trường hợp của Tôma vậy. Tin tôi đi, thái độ hoài nghi của thế giới hôm nay không thể sánh với ngày trước được; cụ thể chính là thái độ của các Tông đồ. Thật vậy, chính các ông mới là những kẻ bị hoài nghi. Nhưng khi đã tin, các ông đã sẵn sàng minh chứng cho niềm tin của mình bằng cách chấp nhận chịu đổ máu. Chúa chúng ta đã tỏ mình trước thế gian bằng những phép lạ biểu lộ thần tính của Người. Và khi Người đã sống lại từ trong cõi chết, Người cũng đòi hỏi nhân loại sẵn sàng chết đi cho những gì là phàm tục thấp hèn nơi bản thân, hầu có thể được cùng trỗi dậy với Người.


0 Nhận xét