8. Mặc khải Giao Ước Mới

Chúng ta đã học hỏi về các lời tiên tri trong Cựu Ước trình bày cho thấy chỉ mình Chúa Giêsu Kitô là Đấng được loan báo. Giờ đây chúng ta phải nghiên cứu về các văn thư Tân Ước liên quan tới cuộc đời của Người theo quan điểm lịch sử.

Chúng ta vẫn không biết chắc chắn rằng Kinh Thánh đã được linh hứng. Người ta có thể hỏi rằng: “Nếu như đã có quá nhiều lời tiên tri trong Cựu Ước, vậy tại sao người Do Thái không đón nhận chúng? Tại sao họ lại không thừa nhận Chúa Kitô là Con Thiên Chúa và là Đấng Mêssiah?” Một lý do đó là họ không phản đối sự ứng nghiệm của các lời tiên tri riêng lẻ nơi Chúa chúng ta. Khái niệm chung mà các Rabbi Do Thái đã định hình về Đấng Mêssiah thì khác biệt hoàn toàn với điều mà Chúa Giêsu đã mặc khải về bản thân Người. Hãy nhớ rằng các dân Babylon, Canđê, Hy Lạp và Rôma, qua nhiều thế kỷ, đã đặt dân Do Thái dưới ách nô lệ chính trị. Đó chẳng phải là lẽ tự nhiên hay sao, khi dân Do Thái bắt đầu đánh mất khía cạnh thiêng liêng của lời hứa và bắt đầu mong chờ một Đấng Cứu Tinh sẽ đến cứu họ khỏi xiềng xích nô lệ chính trị, hơn là khỏi xiềng xích của tội lỗi? Điều này đã nhiều lần xảy ra. Người Rôma đi lại trên đường phố của dân Do Thái. Bên trong tòa án thì cũng là người Rôma làm thẩm phán. Do đó, dân Do Thái nghĩ rằng “Đấng Cứu Tinh” phải là một nhà giải phóng chính trị. Vậy tại sao chúng ta lại trách cứ họ cho được? Hãy nhớ rằng chúng ta có những lời tiên tri giống hệt như vậy trong Cựu Ước ngày nay, và những lời ấy vẫn có giá trị đối với chúng ta như đối với dân Do Thái. Vậy tại sao ngày nay số người tin vào những lời tiên tri ấy lại không được nhiều như mong đợi?

Cũng như vũ trụ vật chất này có sự tiến hóa, thì trong vũ trụ thiêng liêng cũng sẽ có sự hé mở dần dần về mặc khải thần linh. Trong vũ trụ, con người có một vị trí độc đáo. Mọi sự tiến hóa đều có xu hướng hướng về con người! Mọi loài thấp kém hơn đều phục vụ cho mục đích của con người. Hóa chất, thực vật, động vật sẽ chẳng bao giờ tồn tại nếu như chúng không có một sinh vật cao cấp hơn để mà phụng sự, và sinh vật đó chính là con người. Sự tiến hóa có Thiên Chúa là căn nguyên, và có con người làm cùng đích. Như thế giới vật chất này là tiền sảnh cho con người, thì cũng vậy, toàn bộ lịch sử nhân loại, dân Do Thái và dân ngoại, cũng là một loại tiền sảnh dành cho Chúa Kitô. Như vũ trụ sẽ ra hỗn loạn nếu như không có trật tự lớp lang, thì lịch sử sẽ là vô nghĩa nếu như không có một cao tốc dẫn đường để con người hiện thực hóa khả năng yêu thương và đón nhận chân lý nơi Chúa Kitô. Trung tâm tính của Chúa Kitô trong lịch sử được mặc khải nơi Tân Ước. Nhưng ở đây chúng ta cần phải làm thật rõ một vài ý tưởng nhất định.

Mặc dù nói về Giáo Hội thì quá dễ, chúng ta cần phải thực hiện một chút dự đoán và nói cho bạn biết rằng Giáo Hội không bắt nguồn từ Kinh Thánh. Giáo Hội không khởi đầu như một tôn giáo nói về một quyển sách. Giáo Hội trước tiên được rao giảng như một thanh âm sống động, không bởi ngòi bút nhưng bởi môi miệng của Vị Thầy chí thánh. Giáo lý của Giáo Hội từ thuở đầu không phải là một tập hợp các bài viết. Nhưng nó được gọi là Lời Thiên Chúa, lời ban sự cứu độ, và các Tông đồ cũng như các thừa tác viên đầu tiên của Giáo Hội được gọi là Thừa tác viên Lời Chúa.

Chúa chúng ta không hề viết lách, và các Sách Tin Mừng cũng không được viết ra ngay sau khi Chúa về trời. Chỉ khi Giáo Hội ra khỏi chiếc nôi của mình là vùng đất Palestine và mang theo lòng nhiệt huyết đi đến Tiểu Á, Hy Lạp và cả những vùng đất xa xôi như La Mã của Hoàng đế Ceasar, thì bấy giờ sách Tân Ước mới được viết xuống. Chỉ có một lần duy nhất Chúa chúng ta đặt tay viết lách là khi Người viết trên cát trước mặt người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình (Ga 8, 6). Người cũng chẳng hề bảo các Tông đồ viết gì cả. Chúa Giêsu không cầm bút viết bởi Người không phải là một tác giả, nhưng là một Đấng có thẩm quyền. Khi một văn sĩ để lại tác phẩm của mình, xu hướng là người ta sẽ quên đi tác giả mà chỉ tập trung vào tác phẩm của ông ấy. Socrates không bao giờ viết lách. Ông được biết đến thông qua các môn sinh của ông; vì vậy, nhân cách của ông mãi luôn là một điều sống động. Mặt khác, Platô có viết lách và ông được biết đến chủ yếu là nhờ vào tác phẩm của mình, còn bản thân ông chỉ là thứ yếu mà thôi. Không phải là chúng ta muốn có sự so sánh giữa Socrates và Chúa Kitô, nhưng thực tế là Chúa Kitô đã không muốn gây cớ cám dỗ cho nhân loại chỉ tập trung vào những gì viết về Người. Người muốn chúng ta phải đi vào trong mối tương quan với chính Bản thân Người. Người sẽ thiết lập giáo lý của Người nơi các chi thể của Giao ước mới, hay còn gọi là Tân Ước. Và sứ vụ đầu tiên của các Tông đồ sau khi Thầy chí thánh đã thăng thiên là vâng theo lệnh truyền của Người mà ra đi rao giảng.

Chúa chúng ta đã có nhiều nhân chứng tận mắt chứng kiến sự Phục Sinh của Người. Các Tông đồ bắt đầu rao giảng Tin Mừng bằng lời truyền khẩu. Những người tân tòng đầu tiên được tề tựu xung quanh các Tông đồ để lãnh nhận mặc khải từ chính môi miệng các ngài, là những người đã nhìn thấy, đã nghe và đã chạm vào Chúa Kitô. Các tân tòng học hỏi về Chúa Kitô và Tin Mừng của Người từ những chứng nhân đã sống mật thiết với Người trong suốt ba năm, như sách Công vụ có ghi chép, “là những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người” (Cv 10, 41).

Khoảng ba mươi năm sau khi Chúa lên trời, các sách Tin Mừng thuộc Quy điển đầu tiên mới được viết ra, và thay vì thế chỗ hình thức rao giảng truyền khẩu, các bản văn ấy lại là một nguồn trợ lực, chứ không phải rào cản, hỗ trợ các vị lãnh đạo trong Giáo Hội. Chính Giáo Hội đã biên soạn các sách Tin Mừng. Chính trong Giáo Hội mà sách Tân Ước được viết ra. Trong suốt ba mươi năm đầu, Giáo Hội học biết về sứ điệp của Chúa Kitô chủ yếu là qua lời rao giảng của các Tông đồ cũng như các vị khác. Đây chính là ý nghĩa của từ “Phúc Âm”. Nó có nghĩa là “tin tốt lành”, chứ không phải là “một cuốn sách hay”, và đó là tin tốt về ơn cứu độ được mang đến bởi các sứ giả của Lời.

Phải nhớ rằng giáo huấn của Chúa Kitô đã không được viết thành sách mãi cho tới khi các chứng nhân thuộc thế hệ đầu tiên dần qua đời. Thực ra, chính bởi sự kiện bất ngờ và không lường trước được là dân ngoại đón nhận đức tin đã thúc đẩy sự ra đời của các bản văn Kitô giáo. Rất nhiều tác phẩm được viết ra để trả lời cho các nhu cầu rất cụ thể trong thời điểm ấy. Chẳng hạn, thánh Phaolô đã phải duy trì một lượng khổng lồ thư từ qua lại với các giáo đoàn mà ngài đã thành lập. Ngài không hề có ý định sáng tác văn chương theo nghĩa của người Hy Lạp. Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng của Giáo Hội cũng kéo theo những vấn đề mới. Vào năm 50, việc chuyển đổi phương pháp giảng dạy truyền khẩu của các Tông đồ sang dạng văn viết đã trở thành một vấn đề cấp thiết, nhằm mục đích giữ cho nội dung giáo huấn truyền khẩu được bảo tồn. Ngay từ những trang đầu của sách Tin Mừng theo thánh Luca, thánh sử đã cho chúng ta biết về những nỗ lực thực hiện theo chiều hướng này (Lc 1, 1-4), và lời khẳng định của ngài đã được minh chứng từ những thủ bản mới được khám phá gần đây của các sách Tin Mừng không được xếp vào Quy Điển, mà cho tới nay vẫn chưa được biết đến.

Các bản văn Tân Ước cho thấy Kinh Thánh có hai phần, giống như các vở kịch sân khấu. Các phần ấy có liên hệ mật thiết với nhau. Phần thứ hai là một sự hoàn thiện so với phần thứ nhất, và dẫn dắt cốt truyện cho tới chỗ hoàn tất. Cả hai phần đều là giao ước. Hai giao ước này được ban trong thời Cựu Ước và thời Tân Ước. Một trong những giao ước chủ chốt trong Cựu Ước đã được thiết lập trên núi Sinai, còn Tân Ước thì tại đồi Canvê. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa thiết lập tương quan trực tiếp với một dân tộc, và gián tiếp với các dân tộc khác. Còn trong Tân Ước, Thiên Chúa thiết lập tương quan với toàn thể nhân loại. Trong Cựu Ước, người ta được nên công chính nhờ thi hành luật. Còn trong Tân Ước, người ta được nên công chính nhờ ân sủng. Nét nhấn mạnh trong Cựu Ước là ở chỗ thực thi những mệnh lệnh Chúa truyền; còn nét nhấn mạnh trong Tân Ước là ở chỗ trở nên thụ tạo mới. Cựu Ước thắp lên niềm hy vọng, còn Tân Ước chính là sự thành toàn của lời hứa. Cựu Ước khơi dậy nỗi nhớ mong trong tâm hồn, còn Tân Ước đem lại sự viên mãn. Trong Cựu Ước, con người phải đi tìm Thiên Chúa; nhưng trong Tân Ước, chính Thiên Chúa đã đi tìm con người. Trong Cựu Ước, con người bị kết án là tội nhân; trong Tân Ước, con người được giải thoát khỏi ngục tù tội lỗi. Nếu chúng ta chỉ có mỗi Cựu Ước, chúng ta sẽ như là ổ khóa không có chìa, là câu truyện không có cốt truyện, là lời hứa thiếu đi sự ứng nghiệm, là hạt giống mãi không trổ sinh bông hạt. Còn nếu chúng ta chỉ có Tân Ước mà không có Cựu Ước, nó sẽ giống như một cái kết thiếu vắng mở đầu, một sự thành toàn vắng bóng lời hứa, một tòa nhà thiếu đi nền móng vậy. Như có người từ lâu đã nói rằng:

“Tân Ước được ẩn tàng trong Cựu Ước. Cựu Ước được hiển lộ nơi Tân Ước; Tân Ước được gói trọn trong Cựu Ước, Cựu Ước được tỏ tường trong Tân Ước”. Chúng tôi đã nói với bạn rằng Cựu Ước là một tập hợp nhiều cuốn sách. Tổng số là bốn mươi sáu cuốn. Các giáo hội Tin Lành chỉ công nhận ba mươi chín cuốn. Do đó, có bảy cuốn sách Cựu Ước trong Kinh Thánh Công giáo sẽ không được tìm thấy trong Kinh Thánh của các nhánh Tin Lành. Bạn có thể khám phá về các sách ấy bằng cách đọc thêm về chủ đề này. Tân Ước thì bao gồm hai mươi bảy cuốn, trong đó có bốn cuốn được gọi là Tin Mừng, tường thuật về cuộc đời của Chúa chúng ta. Ngoài ra còn có một trình thuật về những năm đầu của Giáo Hội thời sơ khải, được biết đến với cái tên sách “Công đồ Tông vụ”. Có mười bốn thư của thánh Phaolô. Thêm vào đó là bảy thư khác: hai thư của thánh Phêrô, một thư của thánh Giacôbê, một thư của thánh Giuđa và ba thư của thánh Gioan. Cuối Tân Ước có một cuốn sách được gọi là Khải Huyền, cũng được viết bởi tác giả Tin Mừng thứ tư là thánh Gioan.

Giờ đây chúng ta sẽ xem xét bốn tác phẩm Tin Mừng. Có thể người ta sẽ tự hỏi tại sao lại có bốn quyển. Tại sao lại có nhiều trình thuật khác nhau về Chúa Giêsu? Câu trả lời là bởi vì chúng được viết cho các thể loại độc giả khác nhau, và đây là điều bạn cần ghi nhớ khi đọc bốn sách Tin Mừng này.

Sách Công vụ Tông đồ ba lần kể lại ơn hoán cải của thánh Phaolô. Và mỗi lần kể như thế đều có ý tứ riêng của nó. Lần thứ nhất giải thích về việc ngài đã trở thành Tông đồ như thế nào; lần thứ hai liên quan tới việc thánh Phaolô biện hộ trước dân Do Thái trong Đền Thờ; và lần thứ ba là về việc ngài biện hộ trước người Rôma, cụ thể là trước vua Agrippa và Tổng trấn Festus. Cuộc đời Chúa chúng ta cũng như thế. Mỗi vị thánh sử - Matthêu, Máccô, Luca và Gioan – viết cho những độc giả khác nhau. Mỗi vị muốn trình bày một khía cạnh cuộc đời khác nhau của Chúa Kitô. Về bản chất, ánh sáng ở đâu cũng giống nhau và chúng bị chi phối bởi những quy luật cố định. Bạn hãy lưu ý rằng sự phản xạ là muôn hình muôn vẻ, chuyển thành sắc tím, xanh lam, vàng, tùy theo bản chất của vật được ánh sáng chiếu rọi. Ánh sáng biến chuyển theo những sắc điệu khác nhau, cũng giống như mỗi cuốn Sách Tin Mừng hướng về mỗi nhóm độc giả riêng biệt để trưng dẫn một trong nhiều khía cạnh nơi con người Chúa Kitô. Thánh Matthêu viết chủ yếu cho dân Do Thái; thánh Máccô viết cho người Rôma, thánh Luca viết cho dân Hy Lạp và thánh Gioan viết cho toàn thể thế giới Kitô giáo.

Chúng ta hãy khởi đầu với thánh Matthêu, người đã viết cuốn Tin Mừng cho dân Do Thái để chứng tỏ cho họ thấy Chúa Giêsu thành Nazareth là Đấng Mêssiah được hứa ban. Độc giả của thánh sử là một cộng đồng khép kín, không phóng nổi tầm mắt ra khỏi đường chân trời của vùng đất Giuđêa. Nó hoàn toàn mang bản sắc xứ Palestine. Trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, đâu đâu cũng thấy đậm đà bầu không khí Cựu Ước. Rõ ràng cách tốt nhất để thuyết phục dân Do Thái tin rằng Chúa Giêsu chính là Đấng Mêssiah được hứa ban trong Cựu Ước chính là trích dẫn Cựu Ước, và chỉ cho thấy Người là Đấng được loan báo. Vì thế, thánh Matthêu hướng sách Tin Mừng của ngài đến dân Do Thái và ngài rất cẩn trọng hợp nhất Cựu Ước với Tân Ước, qua việc dẫn lời Chúa Kitô nói rằng: “Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn Lề Luật” (Mt 5, 17).

Tin Mừng Matthêu có tổng cộng 1068 câu, và khoảng ba phần năm số đó dẫn lời của Chúa chúng ta. Mục đích mà thánh sử muốn nhấn mạnh chính là nói với dân Do Thái rằng: “Anh em phải tin rằng Chúa Kitô chính là Con Thiên Chúa vì Người đã được tiên trưng trong Sách Thánh của chúng ta” (x. Mt 2, 5-6). Tin Mừng Matthêu có 129 lần trích dẫn Cựu Ước; 53 lần trong số đó là trích dẫn nguyên văn, và 76 lần là ám chỉ. Các trích dẫn này đến từ hai mươi lăm cuốn sách khác nhau trong Cựu Ước, chủ yếu đến từ các Sách Luật, sách các Ngôn sứ và sách Thánh Vịnh.

Chúng ta đã cho thấy Chúa Kitô chính là Đấng Mêssiah được mong đợi và thánh Matthêu đã dùng điều đó làm lập điểm của ngài. Có mười lần thánh nhân sử dụng biểu thức “để được ứng nghiệm” trong Cựu Ước trước hoặc sau một đoạn văn. Chẳng hạn, “Để được ứng nghiệm những lời ngôn sứ Mikha đã nói”, hoặc “Để được ứng nghiệm những lời ngôn sứ Isaiah đã nói”. Thánh sử cũng dùng biểu thức “Đã được nói đến” bởi Giêrêmia, Đavít và vân vân. Ngài dùng biểu thức đó đến mười bốn lần. Lề luật trong Cựu Ước đòi hỏi phải có một vị tư tế, một ngôn sứ và một vị vua; và do đó, ngay trong phần đầu tiên của Tin Mừng Matthêu, chúng ta đã thấy Chúa Kitô được trình bày như một vị Vua, rồi chúng ta cũng thấy Người được trình bày như một Thầy dạy, và sau cùng, như là một Tư tế.

Thánh Matthêu là nhân viên thuế vụ. Ngài đã từng là một người Do Thái thiếu thành thật và bất trung, bởi vì ngài đã bán mình cho ách đô hộ La Mã. Người ta biết ngài là một người thu thuế, là người đã từng thỏa thuận với Rôma, đế quốc đang thống trị đất nước, hầu có được quyền thu thuế. Cứ cho là ngài đã hứa sẽ trả 200,000 đôla, tính theo giá trị tiền tệ của chúng ta, để có được quyền thu thuế tại một khu vực nào đó ở Caphácnaum. Để rồi sau đó ngài sẽ thu tổng cộng tiền thuế là 400,000 đôla, và bỏ túi riêng 200,000 đôla. Vì lý do này mà ngài bị chính đồng bào mình khinh bỉ. Thế nhưng Chúa Giêsu đã đến với ngài và nói: “Hãy theo Ta” (Mt 9, 9). Thánh Matthêu đã bỏ mọi sự, bao gồm cả công việc bàn giấy và tài sản của mình, nhưng ngài mang theo cây bút để viết sách Tin Mừng và trở thành một trong những vị thánh sử có lòng ái quốc nhất.

Thật vậy, không ai yêu Israel cho bằng thánh Matthêu. Ngài yêu mến Cựu Ước đơn giản vì ngài khám phá ra sự thành toàn của nó. Công việc thu thuế của ngài được phản chiếu nơi những gì ngài đã viết ra. Thánh nhân sử dụng ba từ cho “tiền của”, vốn không hề thấy ở đâu khác: “thuế” (tribute) (Mt 17, 24), “phần thuế” (piece of money) (Mt 17, 27) và “yến bạc” (talent) (Mt 25, 15). Sau đó ngài còn dùng những từ như “vàng” (gold) (Mt 23, 16) và “đồng bạc” (silver) (Mt 26, 15), là những từ cũng không hề có trong các sách Tin Mừng khác. Chỉ trong Tin Mừng Matthêu ta mới thấy có hai dụ ngôn về yến bạc. Ngài chính là vị thánh sử duy nhất từng quản lý số tiền lớn đến vậy. Một yến bạc có giá trị lớn hơn gấp ba trăm lần một đồng đôla và khoảng tám ngàn lần một đồng penny, như thánh Máccô có đề cập tới. Thánh Matthêu cũng sử dụng cụm từ “những người đổi bạc” (moneychangers) (Mt 21, 12), và từ này cũng không thấy có ở nơi nào khác, ngoại trừ như một món nợ mà một người thu thuế như thánh nhân đương nhiên sẽ phải đề cập tới. Nói tóm lại, đó chính là Tin Mừng theo thánh Matthêu.

Thánh Máccô viết cho độc giả dân ngoại và người Rôma. Đích nhắm hướng về dân ngoại trong Tin Mừng Máccô là điều khá hiển nhiên vì thực tế cho thấy sách Tin Mừng của ngài có rất ít trích dẫn từ Cựu Ước. Hơn nữa, có một lượng từ ngữ Latinh được tìm thấy trong Tin Mừng Máccô, là điều không có trong các sách Tin Mừng khác, bởi vì thánh sử hướng về tư duy của người Rôma. Ngài bỏ qua một số dụ ngôn vốn chỉ có nghĩa đối với người Do Thái: chẳng hạn như dụ ngôn thợ làm vườn nho (Mt 20, 1-16), dụ ngôn hai người con (Mt 21, 28-32), tiệc cưới con vua (Mt 22, 1-14). Kinh Thánh Cựu Ước và các lời tiên tri, vốn rất có ý nghĩa đối với dân Do Thái, thì lại không có ý nghĩa mấy đối với dân Rôma.

Một thực tế khác nơi Tin Mừng Máccô đó là ngài là một môn đệ của thánh Phêrô. Trong Kinh Thánh, hai ngài thường được đề cập là hay đi cùng nhau. Theo truyền thống, thánh Phêrô gọi thánh Máccô là đứa con thiêng liêng và hàm ý rằng Máccô có một lần cùng ở Rôma với thánh tông đồ. Tin Mừng Máccô cho thấy thánh sử rất thân với thánh Phêrô. Có rất nhiều điều được thánh sử viết về Galilê, cụ thể là Caphácnaum, là quê nhà thánh Phêrô. Tin Mừng Máccô chỉ ra rằng tác giả của nó là một nhân chứng, và rõ ràng đó chính là Phêrô. Chúng ta được biết về câu chuyện nhà của Phêrô cũng như bà nhạc mẫu của ngài (Mt 8, 14). Thánh Máccô kể rằng chính thánh Phêrô đã hướng sự chú ý của Chúa Giêsu về cái cây bị chết khô (Mc 11, 21). Cũng đáng chú ý rằng những chi tiết có lợi cho thánh Phêrô đã bị lược bỏ trong Tin Mừng này, trong khi các chi tiết hoàn toàn không có lợi khác thì lại được ghi chép. Chính thánh Máccô đã tự tay ghi chép lại câu chuyện, nhưng giọng nói vang lên xuyên suốt câu chuyện đó, hoàn toàn không nghi ngờ gì, chính là của Phêrô, người đã có mặt trong từng thời điểm.

Những gì thánh Máccô phác họa bằng nét vẽ nhanh chóng và sống động chính là hành vi cá vị và công trình của Con Thiên Chúa trong tư cách là Chủ Tể đất trời và Đấng chinh phục tâm hồn con người. Đây là điều mà tâm tri người Rôma có thể hiểu được, và do vậy thánh sử đã mô tả Chúa Kitô như Đấng thiết lập quyền thống trị ngày càng lớn mạnh trên thế lực sự dữ bằng cách vượt thắng quyền lực đã chống đối Người cho tới ngày Người sống lại từ trong cõi chết.

Thánh Luca viết sách Tin Mừng của ngài đâu đó trước năm 67, và dĩ nhiên là sách Tin Mừng của thánh Máccô còn được viết trước đó nữa. Thánh Luca được sinh ra ở Antiôkia, nhờ bẩm sinh và giáo dục mà ngài thuộc về thế giới Hy Lạp. Sách Tin Mừng của ngài hướng chủ yếu về người Hy Lạp và được viết ra trong bối cảnh Hy Lạp, nhưng cũng không loại trừ giả thuyết là nó được hoàn thành tại Rôma. Có lẽ, khi viết sách Tin Mừng, thánh Luca hẳn là đã có thánh Máccô ở kề bên hỗ trợ, hoặc chí ít là được tham khảo từ sách Tin Mừng của vị này.

Thánh Luca là một thầy thuốc, và điều này được thấy rõ ràng nơi những từ ngữ y khoa mà ngài sử dụng. Thánh Phaolô nói về thánh Luca như “vị thầy thuốc yêu quý”. Trình thuật của thánh Luca cho thấy ngài yêu thích những câu chuyện chữa lành. Ngôn ngữ ngài sử dụng được bao bọc bởi các thuật ngữ chuyên môn, có dấu vết chuẩn đoán và cả thuật ngữ y học chuyên khoa. Bạn có thể chứng minh thánh nhân là một thầy thuốc bằng cách khảo nghiệm những từ ngài đã dùng. Hai thánh Máccô và Matthêu đôi khi có sử dụng từ Hy Lạp cho “cây kim” như trong “kim khâu”. Còn khi thánh Luca sử dụng từ “cây kim”, ngài không dùng từ Hy Lạp cho “kim khâu”, nhưng thay vào đó ngài dùng từ để mô tả kim dùng trong phẫu thuật, và đây là từ được dùng bởi một vị y sĩ Hy Lạp sống sau ngài chỉ khoảng bảy mươi hay tám mươi năm. Thánh Luca ghi chép lại rằng Chúa Giêsu đã sai các sứ giả của Người ra đi rao giảng và chữa lành bệnh tật. Ngài thậm chí còn giữ lại lời nói của Chúa Giêsu: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình” (Lc 4, 23). Nhưng quan trọng hơn cả, thánh Luca có chép về trình thuật cuộc sinh hạ đồng trinh (Lc 2, 1-

Sách Tin Mừng của thánh Gioan được viết vào cuối thế kỷ thứ nhất và được dành cho thế giới Kitô giáo. Vào thời điểm này, thế giới Kitô giáo đã có hẳn một thế hệ từng được nhìn thấy Thiên Chúa trong xác phàm. Những lời rực cháy của Vị Thầy chí thánh đã được lưu truyền từ nhà nọ sang nhà kia, từ thành này sang thành khác. Các tín hữu được ăn Bánh Hằng Sống. Các lá thư của thánh Phaolô cũng được lan truyền trên khắp đế chế La Mã, nhanh như đám lửa cháy trên đồng cỏ khô héo. Thánh Matthêu thì đã viết cho người Do Thái; thánh Máccô dành riêng cho người Rôma; và thánh Luca thì cho dân Hy Lạp. Đây chính là ba dân tộc đại biểu cho khắp thế giới, nhưng thánh Gioan lại muốn đưa vào trong trình thuật của mình những khía cạnh thiêng liêng trong sứ vụ của Chúa Giêsu, vốn chưa được ghi chép trong ba sách Tin Mừng kia, và cũng là điều mà các dân Do Thái, Rôma và Hy Lạp chưa sẵn sàng đón nhận.

Thánh Gioan hướng sách Tin Mừng của mình đến các Kitô hữu. Tin Mừng thứ tư, trước khi được đặt bút viết và xuất bản, đã được chính tác giả rao giảng cho một nhóm môn đệ thân cận. Thánh sử giả định rằng độc giả của ngài đã biết về cuộc đời Chúa Kitô. Ngài nhắm đến mục tiêu hoàn thiện tri thức ấy và khơi lên trong độc giả của ngài nỗi khát mong đi sâu vào mối tương quan thân mật với Vị Thầy chí thánh, đồng thời giúp họ thấu hiểu những tư tưởng thâm sâu nhất của Người. Vào cuối sách Tin Mừng, thánh Gioan còn nói rằng cả thế giới cũng chẳng thể chứa nổi những cuốn sách ghi chép lại tất cả mọi phép lạ mà Chúa chúng ta đã làm (Ga 21, 25).

Giáo Hội cuối cùng cũng đã được thiết lập trên khắp Đế chế Rôma trong thời điểm thánh Gioan viết sách Tin Mừng. Sau khi chứng kiến sự bách hại dưới thời hoàng đế Nêrô, sau khi chính bản thân chịu cảnh lưu đày dưới thời hoàng đế Đômitianô, và sau khi được nghe kể về các phiên tòa xét xử thánh Phaolô, thánh Gioan biết thời điểm viết sách Tin Mừng đã đến. Quả thật, sách Tin Mừng của thánh nhân vang vọng như tiếng đàn hạc, dẫu bị chính những ngón tay nhuốm máu của kẻ bách hại gảy lên, vẫn được âm vang bởi cơn gió thần linh mà trở nên cuốn Tin Mừng vĩ đại nhất mọi thời đại.

0 Nhận xét