9. Thần Tính của Chúa Kitô

Chúa chúng ta đã tự gọi mình là Con Thiên Chúa và Con Người. Người vừa là Thiên Chúa, vừa là con người. Đây thật sự là một mầu nhiệm vĩ đại và được gọi là mầu nhiệm Nhập Thể. Nhập thể nghĩa là mặc lấy thân xác phàm nhân. Thiên Chúa đã đảm nhận một bản tính nhân loại; Người đã mặc lấy xác phàm. Thánh Gioan đã quảng diễn rất tuyệt như sau: “Ngôi Lời đã làm người” (Ga 1, 14). Ngôi Lời nghĩa là Thiên Chúa, hoặc là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Cực Thánh.

Đây là một mầu nhiệm khó hiểu, và chúng ta sẽ giải thích mầu nhiệm ấy qua một số ví dụ. Khi chúng ta nói rằng Thiên Chúa làm người, chúng ta không có ý nói thiên đàng là một nơi trống rỗng như một căn phòng rộng khoảng 56 mét vuông. Khi Thiên Chúa đến trong trần gian này, Người không khiến cho thiên đàng nên trống rỗng, cũng như Người không hề bị thu nhỏ lại cho vừa với tầm vóc của con người. Chúa Kitô chính là sự sống của Thiên Chúa cư ngụ trong thân xác phàm nhân. Thánh Tôma Aquinô đã quảng diễn điều ấy rất hay trong một bài thánh ca của ngài. Ngài viết: “Ngôi Lời ngự xuống trần gian, nhưng không rời bỏ cung lòng Cha Người”.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc trả lời câu hỏi sau: “Tại sao Thiên Chúa làm người?” Chúng ta sẽ giới hạn vào trật tự lịch sử nhân loại. Câu trả lời là: Thiên Chúa làm người để cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi; vì thế, chúng ta phải diễn tả lý do vì sao Thiên Chúa làm người để chuộc tội cho chúng ta một cách trọn vẹn là điều cần thiết. Bất cứ khi nào chúng ta phạm tội, ấy là chúng ta đã mắc một món nợ vô hạn, thế nhưng chúng ta không thể trả nổi món nợ vô hạn ấy, bởi vì con người chúng ta thật quá hữu hạn. Chúng ta sẽ trình bày lý do theo dạng thức nguyên lý và rồi sẽ đưa ra ví dụ cụ thể. Danh dự thuộc về người tôn vinh. Giả sử như có một công dân Hoa Kỳ, một vị thị trưởng của một thành phố, một thống đốc tiểu bang, và vị Tổng thống Hoa Kỳ, đến viếng thăm Đức Thánh Cha. Vậy giữa người dân thường và vị Tổng thống, ai sẽ bày tỏ cho Đức Thánh Cha sự tôn kính lớn lao hơn? Chẳng phải là ngài Tổng thống ư? Thật vậy, danh dự thuộc về người tôn vinh.

Mặt khác của vấn đề là như sau: tội lỗi luôn được đo lường bởi người mà chúng ta đã lỗi phạm. Nếu một công dân và một thị trưởng cùng phạm một tội, vậy tội của ai sẽ lớn hơn? Hãy nhớ, tội lỗi luôn được đo lường bởi người mà chúng ta đã lỗi phạm. Nếu phạm tội chống lại Tổng thống Hoa Kỳ, hiển nhiên, vị thị trưởng sẽ mắc tội nặng hơn, đúng không? Vậy chúng ta hãy áp dụng điều này cho nhân loại.

Chúng ta đã phạm tội.

Và chúng ta đã phạm tội chống lại ai?

Thưa, chống lại Thiên Chúa.

Tội được đo lường bởi Đấng mà chúng ta đã lỗi phạm.

Chúng ta đã lỗi phạm đến Chúa,

Người là Đấng vô biên; bởi thế, tội của chúng ta cũng là vô tận.

Hãy xem xét một khía cạnh khác: Danh dự thuộc về người tôn vinh. Chúng ta sẽ phải cố trả nợ. Nhưng con người lại là loài hữu hạn; do đó, nó không thể trả một món nợ vô hạn theo đòi hỏi nghiêm khắc của đức công bình. Và chúng ta không nên ngạc nhiên vì điều đó. Tất cả chúng ta rất dễ mắc một món nợ lớn hơn sức mình có thể chi trả.

Hãy thử nghĩ xem, chúng ta mắc một món nợ vô tận đối với Thiên Chúa, nhưng lại không thể trả nổi. Thiên Chúa có thể tha thứ cho chúng ta không? Liệu Người có thể nói: “Thôi cứ quên đi, chẳng có gì đâu” hay chăng? Đúng, Người có thể nói “Thôi cứ quên đi”, nhưng Người không thể nói “chẳng có gì đâu”. Cứ cho là Người thật sự tha thứ cho chúng ta đi. Bấy giờ Người sẽ biểu lộ lòng thương xót, nhưng Người đã chẳng thỏa mãn đòi hỏi của đức công bình. Nếu chúng ta nợ ai đó 20 đôla, món nợ ấy có thể được tha, nhưng phép công bình sẽ không được thỏa mãn cho tới khi nào chúng ta trả dứt món nợ đó. Tôi nhớ, lúc tôi còn là đứa bé, tôi thường làm vỡ cửa kính nhà hàng xóm. Bác hàng xóm đôi khi sẽ bảo: “Thôi không sao đâu”, nhưng cách nào đó tôi chưa bao giờ muốn được tha không như vậy. Tôi sẽ rút tiền tiết kiệm từ con heo đất của tôi để đền cho cửa kính bị vỡ. Con người không muốn được Thiên Chúa tha bổng mà không cần phải đền bồi; bởi chúng ta có khả năng ý thức về phẩm giá của bản thân. Một cách nào đó, chúng ta muốn trả cho Thiên Chúa những gì chúng ta mắc nợ Người.

Thế nhưng chúng ta vẫn chưa bàn tới phương thức trả nợ. Thiên Chúa phải làm người nếu như Người muốn thỏa mãn cả đức công bình lẫn lòng thương xót. Nếu Thiên Chúa không làm người, Người sẽ chẳng thể trở nên Đấng đại diện cho chúng ta, và chúng ta sẽ chẳng thể trả được món nợ. Giả sử tôi bị bắt vì tội phóng xe vượt quá tốc độ. Liệu rằng, lúc tôi đang bị xét xử, bạn có thể đi tới tòa án và nói rằng: “Thưa Tòa, xin hãy tha cho ông ấy. Tôi sẽ nhận mọi trách nhiệm” hay không? Vị Thẩm phán sẽ nói rằng: “Anh đừng can dự vào việc này! Chính ông ta mới có dính líu, chứ không phải anh”. Xét vì chúng ta có liên đới trong món nợ ấy, nên bằng cách nào đó, Thiên Chúa phải thông phần bản tính loài người chúng ta. Hơn nữa, tội đòi hỏi một hình thức đau khổ và đền bồi nào đó. Vậy nếu Thiên Chúa đã làm người, hẳn là Người có thể chịu đau khổ như một phàm nhân và gánh lấy đau khổ thay cho chúng ta.

Thế nhưng, không chỉ mang lấy kiếp phàm nhân, Thiên Chúa vẫn phải đồng thời là Thiên Chúa. Người mặc lấy thân tro bụi để hành động thay cho chúng ta; nhưng đồng thời Người vẫn phải là Thiên Chúa, hầu món nợ vô tận kia có thể được đền trả bởi một Đấng tự thân là vô hạn. Mọi hành động Thiên Chúa thực hiện đều mang giá trị vô hạn. Sự xúc phạm đến Chúa có thể được đền bồi, và Người phải mãi là Thiên Chúa để có thể luôn vô tội. Nếu Người cũng mắc tội, vậy thì Người cũng phải cần được cứu chuộc. Nhưng không ai có thể tự chuộc lấy tội mình. Nếu cần phải thỏa mãn cả đức công bình lẫn lòng thương xót, vậy thì Thiên Chúa phải làm người để trả lấy món nợ vô tận kia. Chúng ta có thể giải thích điều này bằng một bài đồng dao quen thuộc sau đây.

Humpty Dumpty sat on a wall,Humpty Dumpty had a great fall,And all the King’s horses and all the King’s men,Could not put Humpty Dumpty together again (Đại ý: Humpty Dumpty ngồi trên tường, Humpty Dumpty ngã thật đau, cả chiến mã và binh lính của Đức Vua,cũng chẳng thể chữa nổi cho Humpty Dumpty)

Bài đồng dao này diễn tả rất tốt tình trạng của con người như là hậu quả của tội lỗi. Từ lúc sa ngã, con người như một quả trứng bị vỡ tan và không thể tự chữa cho lành. Có một sự rối loạn nào đó nơi bản thân con người, và việc sắp đặt của cải trong trật tự xã hội không thể giúp biến đổi họ. Họ cần được chính Thiên Chúa chữa lành cho.

Chúng ta hãy lấy ví dụ về một chiếc đồng hồ bị đứt dây cót. Chúng ta có đầy đủ mọi chi tiết bên trong, nhưng cách nào đó chiếc đồng hồ vẫn không thể chạy. Để máy chạy thì cần phải có hai điều kiện nào? Trước hết, dây cót phải được cung cấp từ bên ngoài. Sau là, dây cót phải được đặt vào bên trong đồng hồ. Cũng thế, như chiếc đồng hồ không thể tự mình sửa chữa, con người chúng ta cũng không thể tự chuộc lấy tội mình. Để chuộc tội cho con người, vậy thì sự chuộc tội phải đến từ bên ngoài và phải được thực hiện từ bên trong. Chúng ta chẳng bao giờ có thể phục hồi thị lực nếu bị mù. Nếu chúng ta đã phá vỡ sự hiệp thông với Thiên Chúa bằng cách phạm tội, hẳn là chúng ta sẽ không thể nào phục hồi lại mối dây ân sủng đó được. Bạn đã bao giờ cầm lấy một cánh hoa hồng trong tay rồi bóp nhẹ nó chưa? Liệu bạn có thể khôi phục lại màu sắc ban đầu của nó hay không? Chắc chắn là không. Dời đi một giọt sương đọng trên lá và bạn sẽ chẳng thể đặt giọt sương ấy vào lại vị trí cũ được nữa. Sự dữ đã bám rễ trong chúng ta chặt đến nỗi nó không thể bị tẩy trừ chỉ bằng một chút lòng tốt, lý trí và sự bao dung. Điều đó chẳng khác nào việc bảo một người mắc bệnh lao là hãy đi chơi sáu trận tennis để được lành bệnh. Chiếc đồng hồ bị đứt dây cót không thể tự mình sửa chữa. Ơn cứu độ phải đến từ bên ngoài. Ý chí nhân loại chúng ta quá yếu đuối đến nỗi không thể chiến thắng sự dữ nơi bản thân. Cũng giống như người bệnh cần thuốc thang từ bên ngoài, chúng ta cũng cần đến một vị thầy để khai mở tâm trí, một vị lương y để chữa trị bệnh tật phần xác, một đấng cứu chuộc để chữa lành bệnh tật tâm hồn, và đấng cứu chuộc đó phải ở bên ngoài nhân loại, siêu vượt mọi yếu đuối, tội lỗi và thói phản nghịch của chúng ta.

Bây giờ chúng ta hãy xét một mặt khác. Chúng ta vừa mới nói rằng nếu dây cót đồng hồ bị hư, vậy cần phải có một dây cót mới từ bên ngoài và lắp vào bên trong chiếc đồng hồ. Ơn cứu độ phải đến từ bên ngoài nhân loại, nhưng ơn ấy phải được thực hiện, cách nào đó, bên trong nhân loại. Thiên Chúa phải làm người để cứu chuộc nhân loại từ bên trong bản tính của họ. Nếu Chúa không làm người, Người sẽ không có bất kỳ mối liên hệ nào với chúng ta. Như đã nói, con người không chỉ muốn được tha bổng không không, họ còn muốn đền bồi cho tội của mình. Vậy nên Thiên Chúa đã làm người. Hãy đặt hai điều kiện này lại với nhau và bạn sẽ thấy được lý do vì sao đấng cứu chuộc phải vừa là Thiên Chúa vừa là phàm nhân: là Thiên Chúa, Người ở bên ngoài con người; là con người, Người ở bên trong chúng ta. Đó chính là mầu nhiệm Nhập Thể, Thiên Chúa làm người nơi con người Chúa Kitô hầu có thể thể cứu chúng ta khỏi tội lỗi.

Lúc này chúng ta đã đi tới một điểm hơi khó hiểu hơn một chút, vậy nên chúng ta sẽ dùng một từ mà các bạn không mấy khi được nghe. Thời còn học trong chủng viện, chúng tôi phải mất tới khoảng sáu tháng để học về ý nghĩa của những từ này: “hypostatic union” (ngôi hiệp). “Hypostatic union” nghĩa là có hai bản tính và một ngôi vị trong Chúa Kitô. Đó là điều bạn phải luôn ghi nhớ. Hãy khắc sâu nó vào trong tâm trí mình. Chúa Kitô có hai bản tính: nhân tính và thần tính. Cả hai bản tính được hiệp nhất nơi ngôi vị Thiên Chúa. Vậy nên, có phải Thiên Chúa là một ngôi vị nhân loại? Không, Người là một ngôi vị thần linh. Người có một nhân tính phải không? Phải. Người có một thần tính phải không? Chính xác. Hai bản tính được hiệp nhất trong Ngôi vị thần linh của Thiên Chúa. Tôi không hề sử dụng hai từ “bản tính” và “ngôi vị” theo cùng một nghĩa, phải không?

Hãy cầm chiếc bút chì trong tay và có lẽ điều tôi vừa nói sẽ dễ hiểu hơn. Chiếc bút chì có một bản tính. Bản tính là vật, một thứ gì đó hoạt động. Ví dụ, con bò có một bản tính; con heo có một bản tính; chiếc thảm có một bản tính; con bồ câu có một bản tính; ngón tay bạn cũng có một bản tính. Nhưng có phải con bò là một ngôi vị chăng? Nếu con bò của bạn đi vào đồng cỏ nhà tôi và xơi hết cỏ, tôi không thể kiện con bò ấy. Nhưng tôi có thể kiện bạn. Vậy nên hẳn là phải có một sự khác biệt nào đó giữa bản tính và ngôi vị. Ngôi vị là căn nguyên của trách nhiệm. Con chó không thể chịu trách nhiệm về hành vi của nó, nhưng con người thì có thể.

Khi sử dụng cây bút chì trong tay, bạn có nhận thấy trước mặt mình có hai bản tính khác nhau không: một là bản tính của cây bút chì, và hai là bản tính của bàn tay bạn? Tay bạn có phải là một ngôi vị không? Không phải, bởi vì bạn có thể mất đi cánh tay nhưng vẫn sẽ mãi là chính mình. Cùng với chiếc bút chì, chúng ta đang có trong tay mình hai bản tính. Chúng được hiệp nhất với nhau cách nào? Thưa, hiệp nhất trong cùng một ngôi vị. Vì vậy, hai bản tính hiệp nhất trong một ngôi vị là điều hoàn toàn có thể được. Bạn có một thân xác và một linh hồn. Hai thực tại này vốn khác biệt nhau nơi bản tính; bởi thân xác là vật chất, còn linh hồn là thiêng liêng, nhưng bạn lại là một ngôi vị duy nhất. Và đây chỉ là một phép loại suy không trọn vẹn và bất toàn về những gì đã diễn ra nơi Chúa Kitô.

Tự thân cây bút chì không thể viết lách gì được. Đặt nó xuống bàn và nó chẳng thể viết. Nhưng khi bạn cầm cây bút trong tay, bạn có nơi mình một sự kết hợp của hai bản tính trong cùng một ngôi vị. Giờ đây cây bút chì có thể viết. Giờ đây nó có thể làm được điều mà trước đây nó không thể làm. Nhưng khi viết, liệu bạn sẽ nói “Cây bút viết” hay là “tôi viết”?

Bạn không nói “Mắt tôi nhìn thấy bạn”.

Nhưng đúng hơn là  “Tôi thấy bạn”.

Bạn không nói “Tai tôi nghe tiếng bạn”.

Nhưng đúng hơn là  “Tôi nghe được tiếng bạn rồi”.

Bạn không nói “Dạ dày tôi tiêu hóa”.

Nhưng đúng hơn là “Tôi tiêu hóa thức ăn”.

Bạn thấy đó, chúng ta luôn quy gán hành vi của bản tính cho ngôi vị. Nếu bạn ký một tấm séc, việc này có liên can tới một trách nhiệm, và không phải bàn tay hay cây bút là nguồn cội của trách nhiệm đó.

Chúng ta hãy áp dụng phép loại suy. Hãy đặt chiếc bút chì lên trên bàn. Chiếc bút chì giống như một con người; anh ta không thể trả món nợ mình mắc với Thiên Chúa. Hãy nhấc cây bút chì lên. Giờ đây bạn có được sự kết hợp hai bản tính, của bàn tay và cây bút chì, và hai bản tính đó hiệp nhất trong ngôi vị bạn. Bàn tay, cùng với ý lực sống (personality) của bạn được truyền vào cây bút chì, dại diện cho Ngôi Vị Thiên Chúa và bản tính thần linh hạ mình đi vào trong nhân tính. Khi Thiên Chúa xuống thế và đảm nhận lấy nơi mình một bản tính nhân loại, rồi kết hiệp nó với bản tính và ngôi vị thần linh của Người, lúc ấy xuất hiện sự kết hợp hai bản tính; cụ thể là bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại được hiệp nhất trong Ngôi Vị Thiên Chúa. Cũng như cây bút chì kia trong tay bạn có thể làm được điều tự thân nó không thể làm được, thì cũng thế, nhân tính, nhờ được kết hiệp với Ngôi Vị Thiên Chúa, có thể làm được điều tự thân nó trước đây không thể làm nổi. Cây bút chì là công cụ cho ý lực sống của tôi. Khi Thiên Chúa, cùng với thần tính của Người, đi vào trần gian và mặc lấy nhân tính từ trong cung lòng Thân Mẫu diễm phúc của Người, đã đảm nhận lấy nhân tính ấy như một khí cụ. Một khi Thiên Chúa mặc lấy nhân tính của chúng ta, Người có thể hành động thay cho chúng ta. Và từ đó mọi hành động của nhân tính được Thiên Chúa đảm nhận ấy luôn có giá trị vô hạn. Không một tiếng thở dài, một lời nói, một giọt lệ, hay một bước chân của nhân tính ấy lại bị tách lìa với Ngôi Vị Thần Linh. Một hơi thở của Thiên Chúa là đã đủ để cứu chuộc thế giới. Tại sao vậy? Vì đó là hơi thở của Thiên Chúa và nó mang giá trị vô cùng.

Tại sao Thiên Chúa phải chịu quá nhiều đau khổ khi Người mặc lấy bản tính nhân loại? Cát ngoài biển khơi luôn nhiều hơn mức cần thiết, cũng thế, tình yêu luôn dư tràn không điểm dừng. Cách duy nhất để chứng tỏ tình yêu hoàn hảo đó là trao ban tất cả mọi sự mình có. Thiên Chúa đã đảm nhận lấy nhân tính, và Người nói Người yêu thương chúng ta cho tới tận cùng, thậm chí cho tới chết. Giờ đây bạn đã được trông thấy sự uy nghi diễm lệ của Chúa Kitô. Người đã trở thành phàm nhân tại Bêlem trong hình hài của một em bé. Người được sinh ra, không có mẹ trên trời, chẳng có cha dưới thế. Đấng tác tạo thế giới lại được sinh ra trong thế giới. Đấng làm nên mặt trời lại được sinh ra dưới ánh mặt trời; Đấng dựng nên trái đất được sinh ra trên mặt đất; Đấng khôn ngoan vô cùng lại mang lấy hình dáng trẻ thơ; Đấng lấp đầy vũ trụ lại được đặt nằm trong máng cỏ; Đấng cai trị các vì sao lại được nuôi dưỡng bởi chính Mẹ Người. Đấng là nguồn vui của cả thiên đàng, nay bật khóc chào đời trong kiếp phàm nhân. Đấng Thần Linh nay đã nhập thể; Đấng Vĩnh Hằng đã đi vào thời gian; Đấng Chúa Tể thân chịu nát đòn; Đấng Hùng Mạnh đưa tay chịu trói; Đấng Đại Vương chịu đội mão gai. Dù cho chỉ có một mình bạn đã từng sống và phạm tội trên mặt đất, Thiên Chúa vẫn sẽ xuống trần, chịu đau khổ và chịu chết cho bạn. Người yêu bạn nhiều đến thế đấy.

0 Nhận xét