Có một bối cảnh về tội tổ tông, và chúng ta quan tâm đến việc nó ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào. Ai cũng quan tâm đến tâm lý học.
Chúng ta cố gắng hiểu chính mình. Chúng ta dò xét và phân tích những lo âu và xung đột của mình. Một số người trong chúng ta tự hỏi tại sao mình kiệt sức, còn những người khác thì tại sao mình luôn căng thẳng.
Có nhiều lời giải thích cho những xung đột bên trong chúng ta, nhưng chỉ có tội tổ tông mới cho ta sự hiểu biết căn bản về bản tính con người.
Không ai có thể hiểu tâm lý học nếu không hiểu bản tính con người và tội tổ tông. Bằng cách nào đó, sự tổn thương trong tâm trí chúng ta bắt nguồn từ tự do của con người. Chúng ta cảm thấy như một chiếc radio được điều chỉnh cùng lúc vào hai đài. Chúng ta chỉ nghe thấy tiếng nhiễu. Ta vừa hướng về thiên đàng, vừa hướng về địa ngục. Ovid, nhà thơ La Mã, đã mô tả điều này rất hay; ông nói: “Tôi nhìn thấy và tán thành những điều tốt đẹp trong đời; nhưng lại theo đuổi những điều tệ hại.” (METAMORPHOSES 7.20). Thánh Phaolô cũng mô tả tâm lý nội tâm của chúng ta khi ông viết: Điều lành tôi muốn làm thì tôi không làm; còn điều dữ tôi không muốn thì tôi lại làm (Rom 7,19).
Chúng ta dường như bị chia đôi, bị kéo về hai hướng khác nhau như thể chúng ta là một cặp ngựa và mỗi con kéo về một phía. Linh hồn chúng ta giống như một chiến trường nơi một cuộc nội chiến đang diễn ra. Chúng ta cảm thấy bị tách làm nhiều mảnh, sống trong nhiều thế giới.
Một số người trong chúng ta thậm chí cảm thấy giống như chàng thanh niên mà Chúa đã trừ quỷ ra khỏi. Chúa hỏi quỷ: Tên ngươi là gì?³
Quỷ trả lời: “Tên tôi là binh đoàn, vì chúng tôi là nhiều” (Mc 5,9). Hãy chú ý đến sự xung đột giữa “tôi” và “chúng tôi.” Hắn là một, nhưng cũng là nhiều.
Ngay cả những người tốt nhất trong chúng ta cũng cảm thấy như những người leo núi; ta có thể nhìn thấy đỉnh cao, mục tiêu mà ta đang phấn đấu ở trên kia, rồi nhìn lại phía sau thấy vực sâu mà ta có thể rơi xuống. Trên cao là điều ta nên trở thành, còn bên dưới là điều ta có thể sa vào.
Có nhiều lời giải thích cho xung đột này trong chúng ta. Chúng đúng ở một mức độ nào đó nhưng chỉ là một phần. Một là tâm lý học; một là sinh học; và một là kinh tế học.
Lời giải thích từng phần là tâm lý học, cố gắng tìm hiểu điều gì đã xảy ra với cá nhân chúng ta trong quá khứ. Có người nói rằng lý do ta có chứng rối loạn tâm thần này là vì ta từng bị nhốt trong tủ vì hành vi xấu, hay cha mẹ đã mắng ta khi ta bộc lộ sự tò mò về khoái cảm tình dục. Vì thế, bất cứ điều gì sai trái trong ta đều có nguồn gốc cá nhân; do đó, để chữa lành, phải phân tích tiềm thức. Nếu ta có thể đưa ra ánh sáng nguyên nhân của xung đột trong tiềm thức, ta sẽ được chữa lành.
Cách giải thích này có phần đúng, nhưng chỉ là sự lý giải một phần về bản chất của chúng ta. Thật sai lầm khi cho rằng để tìm nguồn gốc của khó khăn trong một người, ta cần đi sâu vào quá khứ của họ. Không! Ai cũng có xung đột! Không chỉ do tính cách hay nền tảng tâm lý của ta; có điều gì đó đã xảy ra với bản tính của chúng ta. Đừng nghĩ rằng bạn có cám dỗ vì bạn có điều gì đó sai trái. Không ai độc quyền bị cám dỗ cả! Ai cũng bị cám dỗ. Nếu muốn tìm ra lời giải thích tối hậu, ta phải đi xa hơn khỏi cá nhân; ta phải trở về với bản tính con người. Đã có điều gì đó xảy ra với chúng ta và ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại trên thế giới.
Một lời giải thích từng phần khác là sinh học. Có một sự sa ngã nào đó trong quá trình tiến hóa, và chúng ta đều mang trong mình dấu vết nguồn gốc động vật. Nhưng đây khó có thể là lời giải thích, bởi vì động vật, khi sống tự nhiên, không có lo âu. Chúng có thể có những nỗi sợ bản năng, nhưng không có lo âu chủ quan theo nghĩa nghiêm ngặt. Chim chóc không phát điên vì không biết nên bay đến California hay Florida vào mùa đông. Động vật không bao giờ trở nên tệ hơn chính nó, nhưng con người thì có thể, bởi vì con người là sự kết hợp của cả linh hồn và thể xác. Những gì sai trái nơi con người phải được tìm trong chính con người. Vì con người vừa là tinh thần vừa là vật chất, nên họ có thể sa xuống mức loài thú, dù không bao giờ hoàn toàn đến mức hủy diệt hình ảnh Thiên Chúa trong linh hồn mình. Chính khả năng ấy tạo nên bi kịch đặc biệt của con người. Con người sẽ không bao giờ cảm thấy thất vọng hay bị dằn vặt nếu chỉ là một loài động vật được tạo ra cho thế giới này. Khao khát hạnh phúc hoàn hảo mà họ không đạt được chính là nơi khởi nguồn của những xung đột. Con thú trong ta không phải là nguyên nhân; nguyên nhân là điều sâu xa hơn nhiều.
Lời giải thích sai lầm thứ ba là kinh tế. Ở đây, người ta cho rằng con người có xung đột vì chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản, hay vì nghèo đói. Tuy nhiên, thế giới chưa bao giờ có nhiều của cải đến thế — và cũng chưa bao giờ có nhiều bất hạnh đến vậy. Chưa bao giờ có nhiều tri thức đến thế, mà lại hiểu biết quá ít về chân lý. Chưa bao giờ có nhiều quyền lực đến thế, mà lại khao khát hủy diệt sự sống con người đến vậy. Sự phát triển kinh tế không phải là nguyên nhân toàn diện của sự rối loạn trong con người. Không phải người giàu nào cũng đức hạnh; và không phải người nghèo nào cũng tội lỗi. Nếu nghèo đói là nguyên nhân khiến con người trở nên như vậy, thì người giàu phải là những mẫu mực của đạo đức. Thực tế, những kẻ giàu có và được đặc quyền lại có nhiều xung đột tinh thần hơn người nghèo.
Rất thường khi, người càng tách mình khỏi thế gian này thì nội tâm càng lành mạnh. Thế giới đã lừa gạt kho tàng đạo đức, tạo ra một kiểu nghèo đói tinh thần mà ta đang phải chịu đựng. Bằng cách nào đó, chúng ta đã đánh mất vốn liếng thiêng liêng.
Khi nhìn lại những lời giải thích trên, ta phải kết luận rằng chắc chắn Thiên Chúa không tạo dựng chúng ta trong tình trạng sa ngã. Có một tiếng nói trong lương tâm đạo đức của ta nói rằng những hành động vô luân và phi luân của ta là điều bất thường.
Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta theo một cách, còn chúng ta, vì tự do, đã biến mình theo một cách khác. Ngài viết nên vở kịch, còn ta lại đổi cốt truyện! Chúng ta không phải là những con vật chưa tiến hóa thành người; chúng ta là những con người đã nổi loạn chống lại Đấng Thiêng Liêng. Nếu chính bản thân ta là điều bí ẩn đối với mình, thì đừng đổ lỗi cho Thiên Chúa hay cho tiến hóa. Ta phải tự trách mình. Chúng ta không phải là những kẻ tội lỗi đồi bại, mà chỉ là những con người yếu đuối.
Chúng ta không chỉ là một khối hư hỏng, vì trong ta vẫn mang hình ảnh của Thiên Chúa. Chúng ta rất giống một người rơi xuống giếng; anh ta không đáng ở đó, nhưng lại không thể tự trèo ra. Chúng ta đang bệnh; ta cần được chữa lành; cần được giải thoát; cần được cứu chuộc. Ta biết mình không thể tự cứu lấy mình.
Thiên Chúa đã thiết lập một luật: vũ trụ đạo đức phải là một vũ trụ tự do.
Chúng ta có thể lạm dụng tự do, nhưng không được đổ lỗi cho Thiên Chúa. Khi bạn mua một chiếc ô tô, bạn luôn nhận được một tập hướng dẫn. Nhà sản xuất chỉ cho bạn mức áp suất lốp, loại dầu cần đổ vào máy, và loại xăng phải dùng. Ông ta không hề có ác ý khi đưa ra các hướng dẫn đó. Tương tự, Thiên Chúa không có gì chống lại ta khi Ngài ban cho ta các Điều Răn. Nhà sản xuất thật sự muốn giúp bạn tận dụng tối đa chiếc xe của mình, và Thiên Chúa cũng mong muốn chúng ta có được hạnh phúc trọn vẹn nhất trong đời. Vì thế Ngài nói: “Ta sẽ chỉ cho con biết con nên làm gì.” Chúng ta có tự do; ta có thể làm điều mình muốn.
Ta nên đổ xăng vào bình xe, nhưng ta cũng có thể đổ nước hoa. Ta có thể dùng hương số năm, và không nghi ngờ gì, mùi đó sẽ dễ chịu hơn cho khứu giác, nhưng chiếc xe sẽ không thể chạy bằng nước hoa. Tương tự, chúng ta được tạo ra để vận hành bằng “nhiên liệu” là tình yêu và giới răn của Thiên Chúa, và ta sẽ không thể vận hành bằng thứ gì khác. Chúng ta chỉ tắt nghẽn mà thôi.
Đây là một ví dụ khác để giải thích tội tổ tông và những xung đột trong ta. Giả sử trước mặt ta có một dàn nhạc với một nhạc trưởng tài ba. Một bản giao hưởng được sáng tác. Tất cả những gì các nhạc công phải làm là làm theo ký hiệu. Mỗi thành viên của dàn nhạc đều tự do làm theo nhạc trưởng để tạo ra sự hòa âm. Giả sử một người trong số họ cố tình chơi sai một nốt, rồi thúc người chơi violin bên cạnh và bảo anh ta chơi sai theo.
Có sự bất hòa. Khi nghe thấy sự bất hòa ấy, người chỉ huy có thể làm một trong hai điều. Ông ta có thể gõ baton và nói: “Hãy chơi lại,” hoặc có thể phớt lờ nó. Dù ông ta chọn cách nào đi nữa thì cũng không thay đổi được gì, bởi vì nốt nhạc đó đã vang ra không trung, di chuyển với tốc độ khoảng 1.100 feet mỗi giây, và cứ thế lan đi, ảnh hưởng đến cả những bức xạ nhỏ bé nhất trong vũ trụ. Giống như hòn đá rơi xuống ao tạo nên gợn sóng, sự bất hòa này cũng tác động đến cả ngôi sao xa xôi nhất.
Chừng nào thời gian còn tồn tại, thì đâu đó trong vũ trụ của Thiên Chúa vẫn có một sự bất hòa được tạo nên bởi ý chí tự do của con người.
Liệu sự bất hòa đó có thể bị chấm dứt không? Không thể — con người không thể làm được, vì con người không thể chạm tới nó. Thời gian không thể đảo ngược, và con người bị giới hạn trong không gian. Có cách nào để dừng sự bất hòa ấy không? Nếu Đấng Vĩnh Hằng từ cõi vĩnh cửu bước vào thời gian, Ngài có thể nắm bắt nốt sai đó. Nhưng liệu vẫn còn sự bất hòa trong vũ trụ chăng? Sẽ có thể có hòa âm nếu Thiên Chúa viết nên một bản giao hưởng mới, và biến nốt sai kia thành nốt đầu tiên trong bản hòa âm mới ấy. Khi đó, hòa điệu sẽ lại được thiết lập.
Từ thuở xa xưa, Thiên Chúa đã viết một bản giao hưởng và mời gọi con người nam và nữ cùng chơi. Ngài ban một bộ hướng dẫn hoàn chỉnh, chỉ rõ điều gì nên tránh. Họ có thể tuân theo Vị Nhạc Trưởng Thần Linh để tạo ra sự hòa hợp, hoặc họ có thể bất tuân. Ma quỷ đã xúi giục họ rằng, bởi vì Nhạc Trưởng Thần Linh đã ghi chú trong bản nhạc, chỉ cho họ biết phải chơi gì và không được chơi gì, nên Ngài đang hủy hoại tự do của họ. Họ tin vào hắn và đã tạo nên một nốt sai trong vũ trụ. Qua dòng giống loài người, sự bất hòa này đã lan truyền đến mọi con người trên thế giới, gieo rắc sự lệch lạc đó vào toàn thể nhân loại.
Hậu quả biểu hiện rõ trong thế giới vật chất: gai góc mọc lên; thú vật trở nên hung dữ; con người phải đổ mồ hôi để kiếm miếng ăn; người phụ nữ sinh con trong đau khổ. Dòng suối bị ô nhiễm ở nguồn sẽ truyền ô nhiễm dọc suốt dòng chảy của nó — cũng vậy, ý nghĩ ban đầu đã truyền sang toàn nhân loại. Con người không thể tự mình dừng lại sự bất hòa này, bởi vì họ không thể tự sửa chữa một xúc phạm chống lại Đấng Vô Hạn bằng chính bản thân hữu hạn của mình. Món nợ ấy chỉ có thể được trả bởi Đấng Thầy Thần Linh, người Nhạc Sĩ từ cõi vĩnh hằng bước vào thời gian. Tuy nhiên, có một sự khác biệt rất lớn giữa việc dừng một nốt nhạc sai và việc cứu một con người phản loạn tự do.
Đó là nơi mà phép so sánh này trở nên giới hạn. Thiên Chúa từ chối trở thành một nhà độc tài toàn trị, và Ngài cũng từ chối xóa bỏ sự dữ bằng cách hủy diệt tự do con người. Thiên Chúa có thể nắm bắt nốt nhạc sai, nhưng Ngài sẽ không cưỡng đoạt con người.
Thay vì ép buộc, Thiên Chúa đã chọn hỏi lại nhân loại xem liệu họ có muốn được trở lại làm thành viên trong dàn nhạc thiêng liêng hay không. Và thế là, từ ngai sáng ngời của Sự Sáng, một thiên thần được sai đến với một người phụ nữ tên là Maria. Thiên thần hỏi Maria: “Nhân danh Thiên Chúa, bà có sẵn lòng trao cho Thiên Chúa một con người không — bà có sẵn lòng trao cho Ngài một nốt nhạc mới từ nhân loại, để Ngài có thể viết nên một bản giao hưởng mới?”
Người đàn ông mới này phải là con người, nếu không Thiên Chúa sẽ không hành động nhân danh nhân loại; nhưng Ngài cũng phải ở ngoài dòng lây nhiễm mà tất cả loài người đều mắc phải. Bởi sinh ra từ người phụ nữ, Ngài sẽ là con người; nhưng sinh ra từ trinh nữ, Ngài sẽ là con người không tội lỗi.
Người Trinh Nữ được hỏi liệu có đồng ý làm mẹ không. Bà đáp: “Xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”⁴ Chín tháng sau, Đấng Vĩnh Hằng đã đặt chân lên bờ thời gian tại Bêlem. Đấng Vĩnh Cửu đã xuất hiện trong thời gian, và tên Ngài là Giêsu Kitô, Thiên Chúa và con người. Ngài là Thiên Chúa; vì thế, mọi điều Ngài làm đều có giá trị vô hạn.
Dù mang bản tính nhân loại, nhưng Ngài vô tội. Ngài tự gánh lấy mọi tội lỗi của thế gian. Như người anh giàu có gánh lấy món nợ của người em phá sản, Chúa chúng ta cũng gánh lấy tất cả những nốt lạc điệu — tội lỗi, tội lỗi, và cả sự phạm thượng — như thể chính Ngài là kẻ có tội. Ngài mang lấy bản tính con người, đem nó lên đồi Canvê để thiêu đốt đi tội lỗi của chúng ta. Bởi vì tội ở trong máu, Ngài đổ máu mình ra để chuộc tội, vì “không đổ máu thì không có sự tha thứ tội lỗi.” Sau đó, vào sáng Phục Sinh, Ngài sống lại với bản tính con người vinh hiển và vô tội.
Điều này trở thành nốt nhạc đầu tiên của công trình sáng tạo mới, khởi đầu cho bản giao hưởng mới mà Vị Nhạc Trưởng Thiên Thượng sẽ tiếp tục điều khiển mãi mãi. Làm thế nào để những nốt nhạc khác được thêm vào? Chính chúng ta là những nốt nhạc khác, nếu như — như Đức Maria — ta tự do chấp thuận được hòa vào nốt đầu tiên ấy.
Chúng ta được thêm vào bằng bí tích Rửa tội, qua đó mỗi người chết đi với Ađam cũ và được hòa nhập vào Ađam mới — là Đức Kitô. Những nốt nhạc được thêm vào nốt đầu tiên ấy cấu thành Thân Thể mới của Đức Kitô, hay còn được gọi là Nhiệm Thể của Ngài — tức là Hội Thánh.
Đó chính là ý nghĩa của việc trở thành Kitô hữu.

0 Nhận xét