Bí tích Thánh Tẩy

Bí tích Thánh Tẩy hay Rửa Tội là bí tích đưa chúng ta vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, là Giáo Hội, bí tích này, vì thế, được gọi là cửa của Giáo Hội. Giữa Giáo Hội và một quốc gia là một sự tương đồng rất mờ nhạt. Hầu hết chúng ta không chờ đến khi đủ hai mươi mốt tuổi, rồi mới học Hiến pháp, lịch sử Hoa Kỳ, và quyết định trở thành công dân Mỹ. Chúng ta được sinh ra từ cung lòng của nước Mỹ. Theo nghĩa nghiêm ngặt, Giáo Hội là Nhiệm Thể của Chúa Kitô trước hết. bí tích Thánh Tẩy đưa chúng ta vào trong đó; chúng ta được sinh ra từ cung lòng của Giáo Hội.

Như đã giải thích, chúng ta không trở thành thành viên của Giáo Hội như một viên gạch được thêm vào một bức tường. Chúng ta được hòa nhập vào Giáo Hội như các tế bào sinh sôi từ tế bào trung tâm. Nhưng bạn có thể hỏi: “Việc đổ một chút nước đem khác biệt lớn lao nào đâu?” Bản thân nước có lẽ chẳng tạo nên điều gì. Hãy lấy ví dụ nước trong một đầu máy hơi nước: khi được kết hợp với trí tuệ và tinh thần của người kỹ sư, nó có thể vận hành một đầu máy đi khắp nơi. Khi nước được kết hợp với Thần Khí của Thiên Chúa, nó có khả năng biến chúng ta thành thực tại mà chúng ta chưa từng là: được thông phần bản tính thần linh của Thiên Chúa.

Hãy nhớ đến lời mô tả tuyệt đẹp về bí tích Thánh Tẩy trong Tin Mừng Thánh Gioan:

Có một người thuộc nhóm Pharisêu tên là Nicôđêmô, một thủ lãnh của người Do Thái. Ông đến gặp Đức Giêsu ban đêm và nói: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là một vị Thầy từ Thiên Chúa đến; vì chẳng ai có thể làm những dấu lạ Thầy làm nếu Thiên Chúa không ở cùng.” Đức Giêsu trả lời: “Thật, thật, Ta nói với ngươi: nếu ai không được sinh lại, thì không thể thấy Nước Thiên Chúa.” Nicôđêmô nói: “Làm sao một người đã già có thể sinh ra được? Chẳng lẽ có thể vào bụng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao?” Đức Giêsu đáp: “Thật, thật, Ta nói với ngươi: nếu ai không được sinh ra bởi nước và Thánh Thần, thì không thể vào Nước Thiên Chúa. Cái gì sinh bởi xác thịt là xác thịt, và cái gì sinh bởi Thần Khí là Thần Khí. Đừng ngạc nhiên vì Ta đã nói với ngươi: các ngươi phải được sinh lại. Gió muốn thổi đâu thì thổi; ngươi nghe tiếng gió, nhưng không biết từ đâu đến và đi đâu; ai sinh bởi Thần Khí thì cũng vậy.” (Ga 3:1–8)

Chúa chúng ta đang nói về một việc sinh ra lần thứ hai, được thực hiện bởi hai yếu tố: nước và Chúa Thánh Thần. Nước tự nó không thể có tác động thiêng liêng, nhưng là dấu chỉ vật chất của điều được ban cách vô hình và thiêng liêng vào linh hồn, nhờ lời của bí tích: Ta rửa con nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.”

Nước là dấu chỉ phù hợp cho bí tích Rửa Tội. Nó biểu thị sự tẩy rửa và bí tích Thanh Tẩy rửa sạch tội lỗi chúng ta; hơn nữa, nước trong suốt trước ánh sáng, biểu thị việc ánh sáng đức tin có thể đi vào linh hồn. Người Hy Lạp xưa từng nói rằng mọi sự sống đều bắt nguồn từ nước. Về sinh học, họ có thể sai, nhưng về thần học thì họ đúng, vì mọi sự sống thần linh thực sự bắt đầu với nước.

Chúa Giêsu đã nói với Nicôđêmô rằng nếu không được sinh lại bởi phép Rửa trong Thánh Thần, con người không thể vào Nước Trời. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên: cũng như chúng ta không thể sống đời sống con người nếu không được sinh ra bởi xác thịt, chúng ta cũng không thể sống đời sống thần linh nếu không được sinh ra bởi Thiên Chúa.

Như một số triết gia đã nói, chúng ta capax Dei — có khả năng đón nhận Thiên Chúa. Thế giới tự nhiên đầy những ví dụ về khả năng tiềm tàng này; mọi hạt giống đều như thế. Chúng chết cho đến khi được hoàn cảnh thuận lợi của đất làm cho sống lại. Trứng của loài chim có khả năng trở thành chim giống như chim mẹ, nhưng sẽ mãi là vật chết nếu bị bỏ rơi. Nhiều loài côn trùng mùa hè được sinh ra hai lần: lần đầu từ cha mẹ côn trùng, lần thứ hai nhờ ánh nắng. Nếu sương giá đến thay vì nắng, chúng chết. Sâu bướm đã có sự sống riêng, nhưng ẩn trong bản tính nó là khả năng trở thành một sinh vật cao hơn và khác biệt — một con bướm hay một con ngài. Nhưng ở hầu hết chúng, khả năng ấy không bao giờ phát triển; chúng chết trước khi trưởng thành, vì hoàn cảnh không thuận lợi.

Những ví dụ này cho thấy năng lực sống tiềm tàng thường nằm yên bất động như thế nào, và một sinh vật ở một giai đoạn tồn tại có thể có khả năng tiến sang một giai đoạn cao hơn ra sao. Khả năng đó chỉ có thể được phát triển nhờ một tác nhân bên ngoài, phù hợp với nó. Trong tình trạng này, con người được sinh ra từ cha mẹ trần gian, với khả năng sống cao hơn. Trong con người có một khả năng trở thành điều gì đó khác và cao hơn. Khả năng đó nằm yên, chết, cho đến khi Chúa Thánh Thần đến và làm cho nó sống động.

Ảnh hưởng này phải đến từ bên ngoài; cần có tác động hữu hiệu của Chúa Thánh Thần, ban sự sống của Ngài. Khả năng trở thành con Thiên Chúa là điều con người vốn có, nhưng việc phát triển khả năng ấy nằm trong tay Thiên Chúa. Chúng ta phải được ban sinh khí từ bên ngoài. Chúng ta không thể tự mình sinh ra về mặt thể xác, và cũng không thể tự mình sinh ra về mặt thần linh.

Khi lãnh nhận bí tích này, một số hiệu quả là gì? Một trong những hiệu quả chính là nó xóa bỏ tội nguyên tổ, tức là tội của bản tính mà chúng ta thừa hưởng từ Ađam. Nếu chúng ta là người trưởng thành chưa từng được rửa tội trước đó, bí tích Thánh Tẩy không chỉ xóa tội nguyên tổ mà còn xóa mọi tội riêng của chúng ta.

Hãy tưởng tượng một người phạm tội nặng nề được rửa tội trên giường hấp hối. Giả sử ông ta qua đời ngay sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, ông không còn tội lỗi nào phải mang đến trước tòa phán xét của Thiên Chúa, và lý do là vì ông ta vừa mới được sinh ra. Tuy nhiên, chúng ta không nên cho rằng Thiên Chúa sẽ ban cho ta ân sủng này trên giường chết. Bí tích Thánh Tẩy là điều đưa chúng ta đi từ miền đất này sang miền đất khác.

Nó giống như việc dân Do Thái vượt qua Biển Đỏ, từ ách nô lệ của Ai Cập đến miền đất tự do (Xh 14:5–31). Bí tích Thánh Tẩy là một cuộc vượt qua, vì chúng ta được chuyển đổi từ vương quốc trần gian sang Vương quốc Thiên Đàng. Chúng ta không còn thuộc về giống nòi của Ađam; chúng ta thuộc về dòng dõi của Ađam Mới. Chúng ta bỏ chủ này để thuộc về một chủ khác.

Trong nghi thức rửa tội, người lãnh nhận được hỏi: “Con có từ bỏ Satan không?” Nghĩa là: con có sẵn sàng rời khỏi quyền lực của Satan để bước vào quyền lãnh đạo của Đức Kitô không? Chúng ta chết trong phép rửa đối với bản tính cũ của mình.

Trong Giáo hội sơ khai, bí tích Thánh Tẩy thường được thực hiện bằng cách dìm xuống nước. Thánh Phaolô nói rằng khi chúng ta được rửa tội, chúng ta được mai táng cùng với Đức Kitô (Rm 6:4); điều đó giống như việc Ađam cũ của chúng ta bị đóng đinh. Khi chúng ta được rửa tội, điều này tương ứng với sự Phục Sinh, chúng ta nhận được sự sống mới trong Đức Kitô.

Trên thế giới thực ra không có nhiều chủng tộc và quốc gia. Chỉ có hai loại nhân loại: một là nhân loại của Ađam, và một là nhân loại của Đức Kitô. Một là nhân loại chưa được tái sinh, và một là nhân loại đã được tái sinh, được thần hóa – những người được tháp nhập vào Nhiệm Thể của Đức Kitô.

Không có chuyện được rửa tội vào một giáo phái nào đó. Ví dụ, không ai được rửa tội để trở thành “người cuồng giáo”, hay “Tin Lành Bốn Góc”, hay “Giáo Hội Tam Giác”. Như Thánh Phaolô nói: “Tất cả anh em, những người đã được rửa tội trong Đức Kitô, đã mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3:27). Chúng ta được rửa tội vào Nhiệm Thể của Đức Kitô, tức là Giáo Hội. Chỉ có một Thân Thể duy nhất. Vì vậy, nếu chúng ta hoàn toàn chắc chắn một người ngoài Giáo Hội lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy đúng theo nghi thức, thì không cần rửa tội lại cho người đó. Không quan trọng ai là người cử hành bí tích Thánh Tầy, điều quan trọng là người ấy có ý định làm điều mà Giáo Hội dạy.

Ngày nay, chúng ta không thể chắc chắn rằng có nhiều người tin vào thần tính của Đức Kitô, tin vào tội nguyên tổ, và khi họ lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, họ cần phải có ý định thực hiện điều mà Giáo Hội dạy. Chúng ta đều được rửa tội vào cùng một Giáo Hội, cùng một Nhiệm Thể của Đức Kitô, dù chúng ta có biết hay không.

Có nhiều người không có cơ hội lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Cần lưu ý rằng có ba hình thức rửa tội. Ngoài phép rửa bằng nước, còn có phép rửa bằng ước muốn và phép rửa bằng máu. Phép rửa bằng ước muốn xảy ra khi một người chưa từng được rửa tội, nhưng yêu mến Thiên Chúa và khao khát được kết hiệp với Ngài cách mãnh liệt, có lòng thống hối về tội lỗi và quyết tâm lãnh nhận phép rửa.

Hẳn có nhiều người ngoại giáo, Phật tử, Nho giáo và những người thuộc các dân tộc khác, theo ánh sáng họ nhận được, đã khao khát được kết hiệp với Thiên Chúa và sống theo các giới răn của Ngài, sẵn sàng đón nhận mọi điều Thiên Chúa mạc khải cho họ. Họ có phép rửa bằng ước muốn, và theo một cách nào đó, họ được tháp nhập vào Nhiệm Thể của Đức Kitô.

Ngoài ra, còn có phép rửa bằng máu. Giả sử bạn đang được dạy giáo lý ở một vùng có sự bách hại. Các binh lính của một nhà độc tài đến và hỏi bạn có ý định gia nhập Giáo Hội không. Bạn trả lời là có. Khi đó, họ kết án bạn tử hình. Thay vì chối bỏ đức tin và hy vọng được rửa tội, bạn chấp nhận cái chết. Đây được gọi là phép rửa bằng máu, vì ở đây có chứng tá tột đỉnh cho Đức Kitô bằng máu, xuất phát từ tình yêu cao cả nhất dành cho Ngài.
Tôi đã từng dạy giáo lý cho một người, và khi chúng tôi đến phần nói về bí tích Thánh Tẩy, cô ấy nói: “Con chưa bao giờ được rửa tội. Giả sử con chết tối nay, điều gì sẽ xảy ra với con?”

“Con thật sự ước ao được lãnh nhận phép rửa tội, đúng không?”

Cô ấy đáp lại cách tha thiết: “Con nóng lòng không thể chờ nổi!”

Cô đã qua đời đêm đó. Cô đã nhận phép rửa bằng ước muốn.

Một khó khăn khác được đặt ra: còn những đứa trẻ, không phải lỗi của các em, chết mà chưa được rửa tội thì sao? Các em có bị phạt và sa hỏa ngục không? Không. Trẻ em chưa được rửa tội không bị gửi xuống hỏa ngục, cũng không bị trừng phạt. Khả năng của các em  đối với trật tự siêu nhiên chưa bao giờ được thực hiện, nhưng các em có thể có tất cả hạnh phúc tự nhiên, và trạng thái đó chúng ta gọi là limbo (tiền thiên đàng).

Một hiệu quả khác của bí tích Rửa Tội là việc tháp nhập một số nhân đức nhất định vào linh hồn. Những nhân đức này là bảy: tin, cậy, mến, khôn ngoan, công bằng, tiết độ, và can đảm. Ba nhân đức đầu tiên — tin, cậy, và mến — liên kết chúng ta trực tiếp với Thiên Chúa để chúng ta tin vào Ngài, trông cậy nơi Ngài, và yêu mến Ngài. Các nhân đức còn lại liên quan đến những phương tiện giúp chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Chúng ta khôn ngoan trong việc sử dụng thế giới này để đạt tới Nước Trời, và tương tự như vậy với các nhân đức khác.

Những nhân đức này được “tháp nhập” vào linh hồn. Cách tốt nhất để hiểu một nhân đức là xem nó như một thói quen. Có hai loại thói quen: thói quen tập luyện và thói quen được ban cho. Một thói quen tập luyện là chơi quần vợt, hay chơi đàn violin. Một thói quen được ban cho giống như khả năng bơi lội của một con vịt. Những nhân đức này được tuôn đổ vào linh hồn như thế. Giống như thể chúng ta tỉnh dậy một buổi sáng và phát hiện mình có thể chơi các nhạc cụ mà trước đây chưa từng chạm đến. Khi đó, chúng ta có một nhân đức được ban trong trật tự tự nhiên, không phải do chúng ta đạt được. Khi chúng ta được rửa tội, nhân đức đối thần -- đức tin -- được đổ vào linh hồn.

Khi trẻ em đến với chúng ta trong các trường giáo xứ, dù còn nhỏ, chúng ngay lập tức có thể đón nhận tất cả các giáo huấn về Thiên Chúa, Chúa Giêsu và Giáo Hội. Chúng đã có đức tin. Chúng ta không cần phải chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa cho chúng. Chúng ta chỉ cần đưa ra lý do, phát triển, và giải thích đức tin vốn đã có sẵn trong chúng.

Một vài lời ngắn gọn về các nhân đức tối thần -- tin, cậy và mến. Đức tin không phải là mong muốn tin hay cố gắng tin điều gì đó trái với lý trí. Đức tin không phải là sống như thể điều gì đó là thật. Đức tin là việc chấp nhận một chân lý dựa trên thẩm quyền của Thiên Chúa, Đấng mạc khải, như được biểu hiện trong Giáo Hội và trong Kinh Thánh. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm cho con người có đức tin. Đức tin không phải là chấp nhận những ý tưởng trừu tượng. Người ta thường nói: “Ồ, đức tin là phải chấp nhận một loạt tín điều.” Không! Đức tin là sự tham dự vào sự sống của Thiên Chúa.

Trong đức tin, hai ngôi vị gặp nhau: Thiên Chúa và chính chúng ta. Sự xác tín đức tin của chúng ta không đến từ việc chúng ta thấy rõ chân lý, mà đến từ việc chúng ta nhận biết Đấng mạc khải chân lý. Chúng ta biết rằng Ngài không thể lừa dối cũng không thể bị lừa dối. Đức tin không trái với lý trí. Đức tin hoàn thiện lý trí. Đức tin đối với lý trí thì giống như kính viễn vọng đối với đôi mắt. Một kính viễn vọng giúp chúng ta nhìn thấy các hành tinh và những vì sao mà mắt trần không thể thấy. Đức tin giúp chúng ta thấy những chân lý mà lý trí con người không thể tự mình nhận ra.

Lý trí con người mạnh mẽ hơn khi có đức tin, cũng như các giác quan của chúng ta mạnh mẽ hơn khi được lý trí hướng dẫn. Lý trí được hoàn thiện nhờ đức tin. Một người mất đức tin sẽ nhận ra rằng lý trí của mình không còn hoạt động tốt như trước. Thật đáng để đọc những trước tác của những người từng có đức tin rồi đánh mất nó: tâm trí họ trở nên lạc lối và hỗn độn. Chúng ta có cùng một đôi mắt vào ban đêm như ban ngày, nhưng ban đêm chúng ta không thể thấy. Lý do là vì chúng ta thiếu ánh sáng của mặt trời.
Hãy để hai người cùng nhìn vào Mình Thánh. Một người thấy bánh, người kia — với đôi mắt của đức tin — thấy Chúa Giêsu Kitô. Một người có ánh sáng mà người kia không có. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta bí tích tuyệt đẹp này — Bí tích Rửa Tội — bí tích mang lại cho chúng ta ánh sáng ấy và làm cho chúng ta trở thành con cái của Ngài.

Nghi thức của bí tích thật tuyệt vời. Hãy đến tham dự một buổi rửa tội, và được giải thích về tất cả các nghi thức của bí tích ấy. Mọi sự  hật đẹp đẽ — như việc mặc lấy chiếc áo trắng. Dante đã nói rằng luyện ngục là nơi chúng ta đến để giặt sạch chiếc áo rửa tội của mình. Ước chi chúng ta luôn có thể giữ cho tấm áo trong trắng ấy tinh tuyền, trước mặt Thiên Chúa và con người.

0 comments:

Post a Comment