Hôn nhân là một bí tích và là gắn kết bất khả phân ly cho đến chết. Những người Pharisêu đã hỏi Chúa Giêsu: có được phép cho người đàn ông nào đó rẫy vợ mình vì bất cứ lý do gì hay không. Người đáp: “Các ông không đọc sao: Đấng Tạo Hóa ngay từ khởi đầu đã dựng nên con người có nam có nữ, và đã phán: Vì lý do đó, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ nên một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai nữa, mà là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,4–6)
Chúa Giêsu đang nói về hôn nhân ngay từ thuở ban đầu. Và khi vấn đề ly dị được nêu lên, Người nói: “Ai rẫy vợ mình mà cưới người khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình” (Mt 5,32).
Những lời này nghe như một bản án nặng nề đối với nền văn minh ngày nay—nơi mà tại Hoa Kỳ, khoảng 2.3 cuộc hôn nhân thì có một cuộc ly dị, rồi lại thêm những cuộc tái hôn sau ly dị. Đừng nghĩ rằng ly dị và tái hôn chỉ sai trái đối với người Công giáo. Chúng đặc biệt sai trái đối với người Công giáo, nhưng thực ra đó là sự vi phạm luật tự nhiên của Thiên Chúa đối với mọi người, dù là người Tây Tạng, Hồi giáo hay Kitô hữu. Tội nguyên tổ và hồng thủy không hủy bỏ trật tự Thiên Chúa đã thiết lập cho người nam và người nữ.
Ở đây, chúng ta đang xét đến trật tự tự nhiên của con người. Hôn nhân không do con người thiết lập, mà do chính Thiên Chúa. Người làm cho hôn nhân trở thành một sự hiệp nhất, chứ không chỉ là một giao kèo. Trong hôn nhân, hai người trở nên một: hiệp nhất về tinh thần, trí tuệ và thân xác. Có những thẩm phán ban giấy ly dị, nhưng Thiên Chúa nhìn những cuộc ly dị ấy như thế nào? Sau ly dị, họ không còn là hai cá nhân tách biệt như trước khi kết hôn; họ trở thành những mảnh vỡ của một nhân vị chung, giống như một đứa trẻ bị chẻ làm đôi.
Hôn nhân giữa người nam và người nữ, tự bản chất của tình yêu, được định hướng để bền vững. Trong từ vựng của tình yêu chỉ có hai chữ: “anh, em” và “mãi mãi”. “Anh / Em”, vì tình yêu là độc nhất; “mãi mãi”, vì tình yêu thì bền lâu. Chưa có ai nói: “Anh sẽ yêu em trong hai năm sáu tháng.” Mọi bài ca tình yêu đều mang âm hưởng của vĩnh cửu. Tại sao trong trái tim con người lại có ghen tuông? Để bảo vệ tính một vợ một chồng và sự bền vững của hôn nhân!
Hãy xét bản chất của tình yêu trong trật tự nhân loại. Có ba yếu tố: người yêu, người được yêu, và chính tình yêu. Giả sử tình yêu chỉ có hai yếu tố: tình yêu của tôi và tình yêu của bạn. Khi đó sẽ chỉ có sự tách biệt và không thể thâm nhập. Cần phải có yếu tố thứ ba, giống như hai dây nho muốn nên một thì phải được kết hợp trong cùng một mảnh đất. Hai trái tim được hiệp nhất vì có một tình yêu vượt ra ngoài chính họ. Nhờ đó, sự bất lực của cái “tôi” trong việc hoàn toàn chiếm hữu cái “anh/em” được vượt qua khi người ta nhận ra rằng có một điều gì đó vượt lên trên, biến cái “tôi” và cái “anh/em” thành “tình yêu của chúng ta”. Những người đang yêu luôn nói về “tình yêu của chúng ta”. Họ nói với nhau: “Em không chỉ là chính em, và tình yêu của anh không còn vấp phải giới hạn nơi em, vì nó vươn xa vượt khỏi em để hướng đến mọi điều đáng yêu. Khi chúng ta ôm lấy nhau, chúng ta ôm lấy nhiều hơn là chính nhau. Trong việc ôm lấy nhau, chúng ta làm chứng cho Đấng đang ôm lấy chúng ta—đó là tình yêu của Thiên Chúa.”
Như sách Sáng Thế đã nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Hãy lưu ý rằng họ bổ túc cho nhau, chứ không bao giờ hàm ý tách biệt. Thiên Chúa dựng nên người nam; Thiên Chúa dựng nên người nữ từ người nam. Thiên Chúa hiện diện trong việc tạo dựng vũ trụ, và người nam cũng hiện diện—dù trong cơn xuất thần—khi người nữ được tạo thành. Bởi vì người nam đến trực tiếp từ Thiên Chúa, nên người nam có nhiều sáng kiến, sức mạnh và khả năng sáng tạo hơn. Người nữ đến từ Thiên Chúa qua sự xuất thần của người nam nên có trực giác, khả năng đáp ứng, đón nhận, vâng phục và cộng tác.
Người nam sống nhiều hơn trong thế giới bên ngoài vì được tạo nên từ bụi đất; người nam gần với thiên nhiên, và sứ mạng của người nam là cai quản nó. Người nữ sống nhiều hơn trong trật tự nội tâm, vì được tạo dựng từ sự sống nội tại của con người. Người nam quan tâm nhiều hơn đến thế giới bên ngoài; người nam nói nhiều về công việc làm ăn, còn người nữ nói nhiều hơn về con người. Họ bổ túc cho nhau theo cách thức thần linh.
Sách Sáng Thế nói: “Con người ở một mình thì không tốt; Ta sẽ tạo cho nó một trợ tá tương xứng” (St 2,18). Việc Thiên Chúa tạo dựng hai giới tính được trình bày như điều thiết yếu cho sự hiệp thông. “Trợ tá” không có nghĩa là thấp kém; những khác biệt bổ túc cho nhau, như cây vĩ và cây đàn violon. Hôn nhân không chỉ là một khế ước; đó là một sự hiệp nhất do Thiên Chúa thiết lập, kéo dài cho đến chết.
Có trật tự tự nhiên và trật tự siêu nhiên. Chúng ta sống trong trật tự vừa nhân loại vừa thần linh. Ngoài sự sống thể lý còn có sự sống siêu nhiên, tức là ân sủng. Trí tuệ chúng ta được soi sáng bằng đức tin, và ý chí được tăng cường bằng quyền năng của bản tính thần linh. Chúa Giêsu đã làm cho hôn nhân trở thành một bí tích. Đối với những người kết hợp trong Hội Thánh của Người, Người ban ân sủng, sức mạnh và quyền năng để họ sống đời sống chung của mình. Mỗi bí tích đều có hai yếu tố. Yếu tố hữu hình là việc trao đổi ưng thuận, được biểu lộ qua việc nắm tay và có linh mục chứng nhận. Ân sủng vô hình được thông ban cho bậc sống hôn nhân của họ. Ân sủng này là biểu tượng cho một cuộc hôn nhân khác: hôn nhân giữa Đức Kitô và Hội Thánh, đó chính là ý nghĩa của hôn nhân qua bí tích. Thánh Phaolô đã giải thích điều này rất nhiều trong các thư của ngài. Chẳng hạn: “Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng : Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Êp 5,29–32). Ngài cũng nói: “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh” (Êp 5,25). Ở đây chúng ta chạm đến một lý do sâu đậm. Thánh Phaolô gọi đó là một mầu nhiệm cao cả.
Hôn nhân của những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội trong Hội Thánh biểu trưng cho một cuộc hôn nhân khác. Trong suốt Cựu Ước và Tân Ước, Thiên Chúa đã diễn tả mối tương quan của Ngài với chúng ta bằng ngôn ngữ hôn phối. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa luôn nói về chính mình như Tân Lang, là phu quân của Israel, tức là qahal. Israel, hay dân được tuyển chọn, được Thiên Chúa coi như Hiền Thê của Người. Có rất nhiều đoạn trong Cựu Ước cho thấy Thiên Chúa không tìm được biểu tượng nào khác xứng hợp hơn để diễn tả tình yêu của Người đối với Israel và đối với phương tiện mặc khải của Người, ngoài biểu tượng của tình yêu hôn nhân.
Đến thời điểm viên mãn, Thiên Chúa trở thành con người. Chúa Giêsu có bao giờ tự gọi mình là Tân Lang không? Có, và Người đã làm điều đó một cách rất tự nhiên. Một lần, khi Người bị hỏi tại sao các môn đệ của Người không ăn chay như các môn đệ của Gioan Tẩy Giả, Người trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi Tân Lang còn ở với họ sao?” (Mt 9,15). Tân Lang rồi sẽ bị đem đi. Gioan Tẩy Giả gọi mình là “bạn của Tân Lang” (Ga 3,29), như một người phù rể.
Tôi tin rằng có một mầu nhiệm rất đẹp được ẩn giấu trong tiệc cưới Cana. Chúa Giêsu bắt đầu đời sống công khai bằng việc tham dự một tiệc cưới, cho thấy mối tương quan của Người với Hội Thánh có thể được hiểu hoàn toàn theo khuôn mẫu mối tương quan đã được triển khai trong Cựu Ước. Qahal cũ của Israel trở thành Hội Thánh mới, hay Israel mới. Qua công trình cứu chuộc và lễ Ngũ Tuần, biểu tượng này được tiếp nối. Evà là sự tiếp nối của Ađam, xương bởi xương ông, thịt bởi thịt ông. Sự tiếp nối của Ađam mới chính là Đức Kitô.
Hôn nhân nhân loại giống như sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Khi chú rể và cô dâu đứng trước bàn thờ, nghi thức hôn phối được đọc lên để cho họ biết rằng: “Con, là chú rể, tượng trưng cho Đức Kitô; và con, là cô dâu, tượng trưng cho Hội Thánh.” Hôn nhân trở nên đẹp đẽ khi ân sủng nhiệm mầu này được ban cho họ.
Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng, cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, thì người chồng là đầu của người vợ: người chồng là đầu của người vợ theo cùng một cách thức mà Đức Kitô là Đầu của Hội Thánh (Êp 5,23). Người chồng phải hy sinh chính mình vì người vợ. Đức Kitô là Đầu bằng cách chết đi, hy sinh chính mình và đổ máu ra. Quyền làm đầu được đặt nền trên sự quên mình vì người mình yêu. Người vợ liên kết với người chồng theo cùng một cách mà Hội Thánh liên kết với Chúa chúng ta: bằng tình yêu, sự phục vụ và lòng tận hiến. Người chồng là đầu của người vợ như Đức Kitô là Đầu của Hội Thánh. Điều này trở thành hy sinh, chứ không phải thượng đẳng.
Còn một lý do thần linh khác khiến hôn nhân của những người đã chịu phép Rửa là bất khả phân ly. Họ tượng trưng cho sự hiệp nhất vĩnh cửu và không thể phá vỡ giữa Chúa chúng ta và Hội Thánh. Khi Con Thiên Chúa đến trần gian và mặc lấy bản tính nhân loại—bản tính ấy nở hoa thành Nhiệm Thể ủa Người là Hội Thánh—Người không mang lấy bản tính ấy chỉ trong ba năm, mà cho đến muôn đời. Người chồng đón nhận người vợ như Đức Kitô đã đón nhận Hội Thánh: cho đến khi cái chết phân ly. Để biểu trưng cho sự hiệp nhất bền vững của cuộc hôn phối giữa Đức Kitô và Hội Thánh, vợ chồng phải yêu thương nhau cho đến khi cái chết chia lìa họ.
Ẩn chứa trong mô tả tuyệt đẹp về biểu tượng hôn nhân này là một sự thật: chỉ có một Hội Thánh. Hãy nhớ rằng trong Thánh Kinh, Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô. Bạn có nghĩ rằng Chúa Kitô có thể có nhiều hiền thê không? Điều đó sẽ là ngoại tình thiêng liêng! Chỉ có một Phu Quân; chỉ có một Hội Thánh; và sự hiệp nhất ấy tồn tại mãi mãi. Vì thế, hôn nhân giữa vợ và chồng là bất khả phân ly trong trật tự bí tích.
Sau đây là một vấn đề mang tính lý thuyết nhỏ giúp làm sáng tỏ chân lý này. Giả sử Gioan và Maria kết hôn trong Thánh lễ Hôn phối, rồi bước ra khỏi cửa nhà thờ và chia tay nhau. Họ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Hôn nhân ấy có thể bị tháo gỡ không? Có, trong một số điều kiện nhất định. Đó được gọi là hôn nhân đã thành sự nhưng chưa hoàn hợp—một hôn nhân được chuẩn nhận trong Hội Thánh nhưng chưa được hoàn tất bằng sự kết hợp nên một xương một thịt. Sự hiệp nhất giữa vợ chồng trong một hôn nhân chỉ được chuẩn nhận mà chưa hoàn hợp giống như sự hiệp nhất giữa linh hồn cá nhân và Đức Kitô nhờ ân sủng. Linh hồn cá nhân thường bị tách khỏi Đức Kitô do tội lỗi. Nhưng một hôn nhân đã được chuẩn nhận và hoàn hợp thì mang biểu tượng của sự hiệp nhất giữa Đức Kitô và Hiền Thê của Người là Hội Thánh—và hai thực tại ấy không bao giờ có thể bị tách rời. Hôn nhân ấy là hoàn toàn bất khả phân ly.
Hôn nhân trong Hội Thánh thật là đẹp biết bao. Trung tín là một cuộc đính hôn vĩnh cửu với tương lai. Linh hồn biết rằng mình không thể được cứu rỗi nếu không trung thành với người phối ngẫu, ngay cả giữa thử thách. Nếu tình yêu của Thiên Chúa không bao giờ rời bỏ khỏi Hội Thánh của Người, thì tình yêu của vợ chồng cũng không bao giờ bị rút lại khỏi nhau. Tình yêu của họ là một lời công bố cho thế gian về một cuộc hôn nhân khác—cuộc hôn nhân đem lại cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc—sự hiệp nhất tuyệt đẹp giữa Đức Kitô và Hiền Thê của Người là Hội Thánh.
0 comments:
Post a Comment