Tội Lỗi và Bí Tích Tha Tội

Chúng ta đã nói rằng xét theo trật tự tự nhiên, tội là sự vi phạm luật Thiên Chúa. Mỗi tội có ba hậu quả: Làm con người xa cách với chính mình, với tha nhân, và Thiên Chúa.

Xa cách chính mình, vì linh hồn trở thành một bãi chiến trường. Sau khi phạm tội, người ta luôn cảm thấy như có cả một bầy thú dữ trong lòng. Tội cũng khiến con người xa cách người bên cạnh. Ai không sống được với chính mình thì cũng không sống được với người khác. Ca-in sau khi phạm tội đã hỏi: “Tôi là người giữ em tôi hay sao?” (St 4,9). Sau cùng, tội khiến ta xa cách Thiên Chúa và đem lại cảm giác cô đơn. Ở một mức độ nào đó, ta đắp lên một con đập trong tâm trí đáng lẽ nên có sự hiệp thông với Thiên Chúa.

Có tội trọng và có tội nhẹ. Ở đây ta đang nói về tội riêng, hay tội do chính ta phạm phải. Sự khác biệt giữa hai loại rất dễ hiểu. Trong đời sống thể lý, người ta nói một người bị thương “chí tử” khi vết thương giết chết người ấy. Nếu vết thương không nghiêm trọng, nó tương đương với tội nhẹ.

Trong tội trọng—xét theo bình diện siêu nhiên—ân sủng bị tiêu diệt và đời sống thần linh bị dập tắt. Trong trật tự siêu nhiên, tội trọng không chỉ là vi phạm luật Thiên Chúa mà còn là một cuộc đóng đinh. Thư Do Thái nêu câu hỏi: “Há họ lại đóng đinh Con Thiên Chúa một lần nữa sao?” (Hr 9,25-28). Tội là cái chết thứ hai vì nó giết chết sự sống thần linh. Khi phạm tội trọng, ta mất hết mọi công nghiệp đã tích lũy trước đó. Tuy nhiên, ta có thể lấy lại các công nghiệp ấy sau khi xưng tội—như cây cối hồi sinh vào mùa xuân sau một mùa đông khắc nghiệt.

Tội nhẹ không giết chết sự sống thần linh nhưng làm tổn thương nó—như những căng thẳng giữa bạn bè có thể đe dọa tình bạn nhưng không đoạn tuyệt hoàn toàn. Khi yêu ai, người ta không phân biệt: “Tội này nhẹ hay nặng?” Thật sai lầm khi nói: “Ồ, nếu là tội trọng thì tôi không làm; nhưng nếu là tội nhẹ thì được.”

Để tội là tội trọng, phải có đủ ba điều kiện: phạm một lỗi nặng, đầy đủ ý thức và cố tình.

Nếu bạn hái một trái táo từ vườn người hàng xóm có cả hàng chục cây, đó không phải là lỗi nghiêm trọng. Tội trọng cũng có thể là tội thiếu sót—như bỏ lễ Chúa Nhật. Tội trọng luôn cần có đầy đủ ý thức: trong Mùa Chay, nếu bạn ăn thịt ngày thứ Sáu vì tưởng là thứ Năm, thì không có tội trọng. Tội trọng đòi hỏi có sự cố ý, sự ưng thuận trọn vẹn của ý chí; sợ hãi, đam mê hay cưỡng bức có thể làm giảm mức độ ưng thuận nhưng không hủy bỏ hoàn toàn. Không phải lúc nào cũng dễ xác định ba điều kiện này, và cách tốt nhất là xưng tội như những trường hợp nghi nan, rồi xin linh mục phân định.

Trong tội trọng, có hai chiều kích: quay về với thụ tạo và quay lưng lại Thiên Chúa.

Để chữa lành mọi tội lỗi và đền bù cho những tội đã phạm sau bí tích Rửa Tội, Chúa đã thiết lập bí tích Tha Tội. Chất liệu mà ta dâng trong bí tích này chính là những tội của ta, được trình bày cho Giáo Hội xét xử. Mô thức của bí tích là lời xá giải của linh mục: Deinde, ego te absolvo a peccatis tuis in nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti. Amen. “Vậy, Ta tha tội cho con nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.”

Chính Chúa chúng ta, chứ không phải Giáo Hội, đã thiết lập bí tích này. Bí tích ấy không hề tồn tại trong Cựu Ước, dù trong Cựu Ước đã có việc thú nhận tội lỗi trước mặt Thiên Chúa. Khi Adam ăn trái cấm, Thiên Chúa hỏi: “Ngươi đã ăn trái cây mà Ta cấm ngươi ăn đó chăng?” (St 3,11). Thiên Chúa biết rõ ông đã ăn. Tại sao Người hỏi? Để giúp ông thú nhận tội mình. Thiên Chúa hỏi Ca-in: “Em ngươi đâu rồi?” Thiên Chúa cũng muốn khiến Ca-in xưng thú, nhưng Ca-in từ chối việc thú tội và đáp lại: “Tôi là người giữ em tôi hay sao?” (St 4,9)

Trong suốt Cựu Ước, mọi người tội lỗi đều phải dâng của lễ đền tội, được thiêu đi trước công chúng như một hình thức thừa nhận công khai tội lỗi. Gioan Tẩy Giả nghe dân chúng xưng thú tội lỗi. Tất cả những điều ấy chỉ là hình bóng của bí tích sẽ đến, vì ơn tha thứ chỉ có thể đến qua Cuộc Khổ Nạn, công nghiệp và cái chết của Chúa Kitô.

Chúa Giêsu chắc chắn có quyền tha tội—và Người đã thực sự làm như vậy. Nhớ người bại liệt được thả xuống từ mái nhà: Chúa nói với anh ta: “Tội con đã được tha” (Mc 2,5). Những người Pharisêu đứng đó liền nói: “Ai mà có thể tha tội? Chỉ có một mình Thiên Chúa!” (2,7) Họ nói đúng: chỉ một mình Thiên Chúa có thể tha tội. Nhưng Chúa đã tha tội cách nào? Người đã làm việc ấy qua nhân tính của Người.

Thiên Chúa có thể thông ban quyền năng cho những bản tính nhân loại khác nếu Người thông ban quyền tha tội cho Giáo Hội. Người đã trao quyền ấy cho Phêrô khi trao chìa khóa Nước Trời, và nói: “Điều gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; điều gì con tháo cởi dưới đất, trên trời cũng tháo cởi.” Quyền này được trao cho Phêrô một cách riêng biệt, và được xác nhận bởi chính Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng mở rộng quyền ấy cho các Tông Đồ. Người thổi hơi trên họ—dấu chỉ của Chúa Thánh Thần—và nói: “Hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc.”

Chúa đang nói rằng mọi quyền năng Người có, Người truyền lại cho các Tông Đồ. Chính những lời Người nói với các ông ngụ ý việc nghe xưng tội; nếu không nghe, làm sao họ biết tội nào để tha, tội nào để giữ lại? Họ phải có chất liệu cụ thể để phân định.

Tại sao Chúa lại thiết lập việc xưng tội và nói ra tội lỗi? Tại sao ta không chỉ úp mặt vào khăn tay mà nói thầm với Chúa? Vì không có bằng chứng nào của lòng sám hối nếu chính ta là thẩm phán của mình.

Nếu trong xã hội, trước các tội giết người hay trộm cắp mà thẩm phán chỉ phát khăn giấy cho bị cáo tự lau nước mắt và ra về, thì còn gì gọi là công lý? Tội là kiêu ngạo; việc nói ra tội là sự khiêm nhường và việc đền bù.

Trong đời sống tự nhiên, những điều gây đau đớn sẽ đau hơn nếu ta giấu kín—như mụt nhọt hay răng sâu. Ta phải rạch nhọt để mủ thoát ra. Cũng vậy, Chúa muốn “rạch mở” linh hồn để giải thoát điều xấu bên trong. Linh hồn muốn tống khứ những gì gây hại. Tội được thú nhận thì mất sức mạnh, để lộ sự ghê tởm của nó. Còn tội lỗi bị đè nén thì sẽ bộc phát thành những phức hợp tâm lý. Khi chúng ta đậy nắp linh hồn mình lại, không cho phép những gì ở trong ta được thoát ra một cách lành mạnh, khi chúng ta kìm nén cảm thức tội lỗi, thì nó sẽ bắt đầu tuôn trào ra bằng hàng ngàn cách lệch lạc và bất thường.

Thiên Chúa đã tỏ ra đầy lòng thương xót khi thiết lập bí tích này. Nhưng có người sẽ hỏi: “Tại sao tôi phải xưng tội với một linh mục? Biết đâu ông ấy còn không thánh thiện bằng tôi.” Điều đó có thể đúng, vì các linh mục cũng nghe xưng tội của nhiều vị thánh. Nhưng dù bạn có thánh thiện hơn linh mục, bạn vẫn không có những quyền năng mà linh mục có. Bạn có thể là một công dân tốt hơn thị trưởng, nhưng ông ta vẫn có những thẩm quyền mà bạn không có.

Chính Chúa Giêsu Kitô đã trao quyền ấy cho Hội Thánh của Người, chứ không trao cho cá nhân. Vì thế, linh mục là thừa tác viên được ủy quyền của bí tích. Hơn nữa, không phải linh mục tha tội cho bạn. Con người không có quyền tha tội. Trong bí tích này, linh mục chỉ là dụng cụ của Đức Kitô; linh mục cho Đức Kitô mượn tiếng nói của mình. Chính Đức Kitô tha thứ, và những lời xá giải có nghĩa là: “Ta, Đức Kitô, tha tội cho con.”

Vậy tại sao lại phải xấu hổ khi xưng tội với linh mục? Linh mục bị ràng buộc bởi điều gọi là sigillum, ấn tín tòa giải tội. Ngài chỉ là dụng cụ của Chúa; những tội lỗi ngài nghe không phải là của ngài, cũng không thuộc về tri thức riêng của ngài. Trong trường hợp này, ngài chính là “tai của Đức Kitô”. Ngài không được phép tiết lộ bất cứ tội nào bạn xưng, dù phải chịu cái chết.

Giả sử tôi để tiền trong một ngăn kéo bàn làm việc, và mỗi ngày có ai đó vào lấy trộm một ít tiền. Rồi chính người ấy đến xưng tội với tôi. Tôi có thể bảo người ấy phải trả lại tiền, vì điều sai trái luôn cần được sửa chữa; nhưng vì tôi biết điều đó qua tòa giải tội, tôi sẽ không bao giờ được phép khóa ngăn kéo bàn làm việc của mình nữa. Không một tội nào của bạn từng được tiết lộ, và chúng tôi cũng không được phép nói với bạn về những tội ấy ngoài tòa giải tội. Nếu bạn đến xưng rằng mình đã ăn cắp tiền, tôi không thể gặp bạn sau đó và nói: “Anh còn nhớ anh đã nói với tôi về số tiền anh lấy ở xưởng dưa chua không? Anh đã trả lại chưa?” Thông tin ấy không thuộc về tôi; nó thuộc về Thiên Chúa.

Một lý do khác để xưng tội với linh mục là thế này: không có tội nào chỉ mang tính cá nhân. Mỗi tội lỗi đều làm suy yếu Nhiệm thể Chúa Kitô và làm tổn thương Hội Thánh. Vì thế, thật thích hợp khi một đại diện của Nhiệm thể Chúa Kitô đưa bạn trở lại sự hiệp nhất và hiệp thông của Thân Thể ấy. Trong Hội Thánh sơ khai, ngay cả các việc đền tội cũng mang tính công khai, để cho thấy một cách rất nghiêm trọng sự tổn hại đã gây ra cho qahal, tức Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô, cho chính Hội Thánh.

Một lý do khác khiến chúng ta cần xưng tội với linh mục là: Không có tội nào chỉ mang tính cá nhân. Mỗi tội đều làm tổn thương Nhiệm Thể Chúa Kitô, làm suy giảm sự sống của Hội Thánh. Vì thế, thật phù hợp khi một đại diện của Nhiệm Thể Chúa Kitô đón nhận bạn trở lại trong sự hiệp nhất và hiệp thông. Trong Giáo Hội thời sơ khai, ngay cả việc đền tội cũng công khai, để diễn tả một cách nghiêm trọng sự xúc phạm đã gây ra cho cqahal, cho Nhiệm Thể Chúa Kitô, cho Hội Thánh.

Bây giờ, chúng ta đi vào việc xưng tội. Trước khi vào tòa giải tội, bạn xét mình. Bạn bắt đầu bằng việc cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng. Hãy nhớ rằng chỉ trước mặt Thiên Chúa, đặc biệt trước Thánh Giá, chúng ta mới thấy được tình trạng thật của mình. Ta không xét mình theo tiêu chuẩn riêng hay theo dư luận, nhưng theo tiêu chuẩn của chính Thiên Chúa.

Bạn có thể xét mình theo Mười Điều Răn, nhưng đây không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất, vì dễ biến đời sống Kitô hữu thành một chuỗi bổn phận khô khan, dễ rơi vào lối sống duy luật, so đo, tính toán. Ta cũng có thể xét mình theo các nhân đức, hoặc theo bảy mối tội đầu.

Ta phải xét tội của mình theo số lần, loại tội, và hoàn cảnh. Khi xưng tội, bạn không bao giờ được kéo người khác vào. Bạn không thể nói: “Con giận, nhưng Cha phải biết vợ con thế nào mới được!” Kiểu xưng tội đó không chân thành.

Có một câu chuyện và chỉ là một câu chuyện. Một ngày nọ, một nhóm tiều phu từ Canada đến xưng tội. Họ đã không đi xưng tội hơn mười năm. Họ xếp hàng dài trước tòa giải tội. Người đầu tiên bước vào. Vì chưa xét mình, ông nói với linh mục:

“Thưa Cha, con đã phạm hết mọi tội mà đàn ông có thể phạm.”

Linh mục hỏi: “Anh đã bao giờ giết người chưa?”

Ông trả lời: “Chưa. Đó là tội duy nhất con chưa phạm.”

Linh mục bảo: “Vậy anh hãy ra ngoài xét mình lại—phải kể rõ số lần, loại tội và hoàn cảnh.”

Khi ông ra khỏi tòa, nhìn thấy hàng người nối dài, ông nói:

“Vô ích rồi, mấy anh em. Hôm nay Cha chỉ nghe tội giết người thôi!”

Giờ ta vào tòa và bắt đầu xưng tội. Ngay khi quỳ xuống, ta làm dấu Thánh Giá và nói: Thưa cha, con là kẻ có tội, xin cha ban phép lành cho con. Con xưng tội trong . . . (mấy tuần, mấy tháng)

Giả sử có người năm mươi năm không xưng tội. Ông nay tám mươi tuổi. Ông có thể xưng như thế nào? Ông không thể nhớ hết số lần hay chi tiết. Nhưng ông có thể làm một bản tổng hợp như sau:

Thưa Cha, đã năm mươi năm con chưa đi xưng tội. Trong hai mươi năm của đời con, con không bao giờ đi lễ. Con không lãnh nhận bí tích. Con không làm bổn phận Phục Sinh. Con không giữ chay. Nhiều lần trong ngày con đã xúc phạm danh Thiên Chúa; con đã thề gian trong tòa án khoảng năm lần. Con đã bất tuân một cách nghiêm trọng đối với nhà chức trách hai lần. Con đã trợ giúp cho một vụ phá thai hai lần. Con đã giết người một lần. Con đã nghiện rượu mười năm. Con có ý tưởng dâm uế gần như mỗi ngày trong khoảng ba mươi năm, và hành động dâm uế một mình nhiều lần trong khoảng mười năm. Khi sống với người vợ đầu tiên, con đã phạm ngoại tình nhiều lần trong ba năm. Khi bà ấy còn sống, con lại kết hôn lần nữa, nên con đã sống trong ngoại tình năm năm. Bây giờ bà ấy đã qua đời. Trong thời gian ấy trong công việc, con gian lận, trả lương thấp cho nhân viên; con chỉ nghĩ đến làm giàu. Con chưa bao giờ cho từ thiện trừ những lần bị ép vì xấu hổ với thiên hạ. Con đặc biệt hối hận một lần kia khi từ chối gửi một trăm đô-la cho Đức Thánh Cha để giúp truyền giáo dù con có rất nhiều tiền. Con đã sống buông thả theo vui chơi và tiệc tùng. Con không nhớ mình đã bao giờ giúp đỡ ai trong cơn hoạn nạn. Con chưa bao giờ hy sinh một buổi tối để giúp Giáo Hội. Con hoàn toàn bỏ bê vợ con. Con chưa bao giờ cho con cái đi học trường đạo; con để chúng muốn làm gì thì làm, rồi lại nổi giận vì sự vô đạo của chúng; và bây giờ con đang phải gánh chịu.

Vì những tội này và tất cả những tội khác trong đời con—những tội con không nhớ nhưng Thiên Chúa thấy rõ—con xin Thiên Chúa và Cha tha thứ cho con.

Đây là lời xưng tội của một người năm mươi năm xa lìa bí tích.

0 comments:

Post a Comment