Tội Lỗi

Ba bí tích đã được bàn đến là Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. Tất cả các bí tích ấy đều liên quan đến một đời sống vượt trên đời sống thể lý: đó là tham dự vào đời sống thần linh. Nhờ Rửa Tội, chúng ta được sinh vào đời sống của Thiên Chúa; trong bí tích Thêm Sức, chúng ta lớn lên và chấp nhận trọn vẹn trách nhiệm gắn bó với Chúa; và trong Thánh Thể, chúng ta đạt đến tột đỉnh và ngây ngất của sự hiệp nhất với Chúa.

Bí tích Hòa Giải, hay xưng tội, liên quan đến những tội đã phạm sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Đây là bí tích lớn lao của lòng thương xót Chúa. Nếu được phép dùng từ này để diễn tả tính thực tế của Thiên Chúa, thì khi đã được sinh ra trong sự sống thần linh, chúng ta phải sống trong sự sống ấy. Tuy nhiên, chúng ta đã sa ngã, nhẹ hoặc nặng. Vì lòng thương xót của Người, Thiên Chúa đã thiết lập bí tích này, nhờ đó những tội phạm sau bí tích Rửa tội được tha thứ.

Con người không thể nghĩ ra được bí tích này, vì nó giống như một sự Phục Sinh: chúng ta sống lại sau khi đã chết. Đây là cuộc hành trình quay trở về với Thiên Chúa. Bí tích này giúp chúng ta loại trừ những “nhiễm trùng” trước khi chúng trở thành những căn bệnh trầm trọng hay dịch bệnh lan rộng.

Đây không phải là một bí tích khó chịu buộc ta phải đón nhận trong sự nhục nhã. Giải Tội là sự tuôn đổ của lòng thương xót Thiên Chúa vào tâm hôn; là cơ hội để gia tăng ân sủng phát xuất từ đồi Canvê; là liều thuốc chữa lành linh hồn; là việc băng bó các vết thương; là cuộc trở về nhà; là sự tháo gỡ quá khứ; là cơ hội để bắt đầu lại cuộc đời; là một dạng “Rửa Tội thứ hai.” Đôi khi sự hòa giải lại ngọt ngào hơn cả một tình bạn chưa từng sứt mẻ. Nếu chúng ta chưa bao giờ phạm tội, chúng ta không bao giờ có thể gọi Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ. Bí tích Tha Tội là bí tích đưa chúng ta trở lại sự hiệp thông với Giáo Hội, với cộng đoàn của Thiên Chúa, với qahal của Người, với Nhiệm Thể của Người. Trước khi giải thích về Tha Tội, ta phải giới thiệu từ “tội.”

George Bernard Shaw từng nói con người thời nay quá bận nên không có thời giờ nghĩ về tội của mình. Có lẽ Shaw nên nói rằng con người hiện đại cố tình bận rộn để khỏi phải nghĩ về tội của mình. Mọi kẻ phạm tội đều là những kẻ trốn tránh, giống như Adam đã tìm cách trốn Thiên Chúa.

Những tội chúng ta bàn đến đây không phải là tội tổ tông, mà là tội riêng. Chúng ta đã nói về tội tổ tông và giải thích rằng đó không phải là tội cá nhân; đó là tội của bản tính nhân loại vì chúng ta là hậu duệ của Adam. Chúng ta bị vướng vào đó như công dân một đất nước bị lôi vào chiến tranh khi người lãnh đạo tuyên chiến. Tội nguyên tổ đem lại cho chúng ta khuynh hướng phạm tội, nhưng khuynh hướng không phải là tội. Nó chỉ khiến chúng ta có khả năng biến giới tính thành dâm dục, cơn khát thành nghiện ngập, cơn đói thành tham ăn, và sự thận trong thành tham lam. Vì tội, chúng ta giống như những người thừa kế một gia sản lớn nhưng cũng thừa kế luôn cả khoản nợ thế chấp. Bản tính chúng ta đã bị tổn thương trước khi ta kịp lãnh nhận nó.

Giờ đây chúng ta đến với những tội mà chúng ta chịu trách nhiệm cá nhân—gọi là tội riêng hay tội hiện hành. Tại sao tội lại có thể xảy ra? Vì chúng ta tự do. Bạn có thể bảo một người rằng họ phải làm điều gì đó, nhưng ý chí họ có thể chống lại. Tội nằm trong sự lạm dụng tự do—tức một chọn lựa sai lầm hay xấu xa. Tội không xảy ra nếu không có sự ưng thuận của ước muốn / ý chí. Ta có thể có hai thái độ sai lầm về tự do: cường điệu hóa tự do hoặc giảm thiểu tự do.

Khi chúng ta chối bỏ thân phận thụ tạo của mình và phủ nhận việc sống dưới lề luật của Thiên Chúa, chúng ta đã cường điệu hóa tự do. Đây là cốt lõi của cám dỗ mà ma quỷ đưa ra cho tổ tiên loài người. Hắn nói: “Các ngươi sẽ nên như thần minh” (St 3,5). Nói cách khác: “Các ngươi sẽ không còn là thụ tạo; các ngươi sẽ là đấng sáng tạo.” Chúng ta cường điệu tự do khi nói: “Tôi yêu chính mình, ý riêng của tôi. Tôi là luật cho chính tôi. Tôi tự quyết định điều gì là đúng, điều gì là sai. Tôi sẽ đối xử với người thân cận như kẻ thấp kém, như đồ chơi cho khoái lạc của tôi, như phương tiện cho lợi ích của tôi. Tôi là cứu cánh của chính sự hiện hữu của mình.” Đó chính là sự lạm dụng tự do nơi những người sống không có Thiên Chúa.

Ngược lại, tội cũng xảy ra khi chúng ta giảm thiểu tự do. Điều này xảy ra khi ta phủ nhận tội lỗi hay trách nhiệm. Chúng ta thu hẹp tự do khi nói rằng mọi mặc cảm tội lỗi chỉ là bệnh hoạn, chỉ là một phức cảm tâm lý, hay chỉ là di chứng còn sót lại từ những cấm kỵ tôn giáo, gia đình và luân lý.

Những người thu hẹp tự do thì luôn mong được khen ngợi khi họ làm điều tốt; nhưng khi họ làm điều xấu, họ lại nói: “Ồ, không, thật ra đó không phải lỗi của tôi. Tôi bị thúc ép, bị cưỡng bách,” và như thế họ chối bỏ trách nhiệm. Không ai là xấu; không ai là trẻ vị thành niên hư hỏng; họ chỉ là… bị bệnh mà thôi!

“Bạn mập lên quá à? Bạn đâu có lựa chọn; bạn là người ăn uống mang tính cưỡng bức!”
“Bạn uống quá nhiều à? Bạn đâu tránh được; bạn là người nghiện uống mang tính cưỡng bức!”
“Bạn ăn cắp à? Bạn đâu làm khác; bạn là kẻ trộm mang tính cưỡng bức!”

Bạn thấy đó, đằng sau cách nói ấy và đằng sau mọi lối trốn tránh khác luôn có giả định này: “Tôi bị định đoạt.”
“Tôi bị định đoạt bởi môi trường.”
“Tôi bị định đoạt bởi ông bà tôi.”
“Tôi bị định đoạt bởi một điều gì đó ở bên trong hoặc bên ngoài tôi.”

Việc chối bỏ tội lỗi này là điều nghiêm trọng. Thật vậy, có những biểu hiện của mặc cảm tội lỗi. Khi Lady Macbeth liên tục rửa tay, đó là một biểu hiện bệnh hoạn của mặc cảm tội lỗi; nhưng chính tội lỗi thật đã gây nên sự bệnh hoạn ấy, cụ thể là tội giết vua mà bà đã can dự. Trong quá khứ, người ta thường có thói quen đổ lỗi cho những yếu tố bên ngoài bản thân: kinh tế, chính trị, môi trường xấu, nghèo đói, xã hội, sữa loại B, thiếu sân chơi cho trẻ em. Trong mọi trường hợp, tội lỗi đều bị chuyển từ cá nhân ra bên ngoài chính mình. Một cái cớ phổ biến là nói: “Không, con người hoàn toàn không có tội. Lỗi không nằm ở các vì sao, mà hoàn toàn nằm trong tiềm thức của chúng ta. Chúng ta không thể tránh khỏi việc trở thành như thế.”

Một số hậu quả rất nghiêm trọng phát sinh từ việc phủ nhận tội cá nhân. Mục đích của nó, như bạn thấy, là khiến mọi người đều là ‘người tốt’. Kẻ tội lỗi nhất cũng trở thành người “dễ thương.” Nhưng khi phủ nhận tội, họ làm cho việc chữa tội trở nên bất khả.

Tội rất nghiêm trọng, nhưng phủ nhận tội còn nghiêm trọng hơn. Nếu người mù phủ nhận rằng có thứ gọi là “ánh sáng,” làm sao họ có thể thấy? Nếu người điếc phủ nhận rằng có “âm thanh,” làm sao họ có hy vọng để nghe? Khi chúng ta phủ nhận tội lỗi, chúng ta khiến việc tha thứ tội lỗi trở nên bất khả! Những người thường phủ nhận tội lại trở thành kẻ hay buôn chuyện, nói hành, và cực đoan trong phê phán, bởi họ phải chuyển dự án tội lỗi của mình sang người khác. Điều đó đem lại cho họ ảo giác rằng mình tốt.

Càng phủ nhận tội, họ càng gia tăng xét đoán người khác. Ở một số người, tội hoạt động như ung thư: âm thầm phá hoại và hủy hoại nhân cách trong thời gian dài mà không lộ ra. Khi bệnh biểu lộ, một số linh hồn tuyệt vọng—điều mà họ không nên làm.

Rồi tuyệt vọng xuất hiện; tuyệt vọng  đòi hỏi cái vô hạn. Loài vật không bao giờ tuyệt vọng, đơn giản vì chúng không biết đến cái vô hạn. Con người hiếm khi công khai nổi loạn chống lại cái vô hạn. Nhưng nếu đã nổi loạn, đã phạm tội mà vẫn không chấp nhận sự thật ấy, thì người ta sẽ tìm cách giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của tội lỗi bằng những lời bào chữa, giống như Ca-in đã làm. Con người hiện đại đã đánh mất sự hiểu biết về ý nghĩa của từ tội lỗi. Họ đổ lỗi cho người khác hay cho điều gì đó khác: cho vợ chồng mình, cho công việc, cho bạn bè, cho những căng thẳng. Đôi khi, vì phớt lờ tội lỗi thật, họ có thể trở nên loạn thần hoặc rối loạn thần kinh. Thật khủng khiếp khi tuyệt vọng chiếm lấy linh hồn.

Chạy xe với tốc độ bảy mươi dặm một giờ đã là quá nhanh; nếu tăng thêm hai mươi dặm nữa, mức độ nguy hiểm sẽ tăng vọt. Những tội lỗi không được sám hối sẽ sinh ra những tội lỗi mới, và tổng số chồng chất ấy khiến con người rơi vào tuyệt vọng. Lúc đó linh hồn sẽ thốt lên: “Tôi đã quá xa rồi!” Người nghiện rượu bắt đầu sợ một ngày tỉnh táo, vì ngày ấy sẽ buộc anh ta phải nhìn thấy tình trạng thật của mình. Càng trầm uất bao nhiêu, tội nhân càng cần trốn chạy bấy nhiêu qua những tội lỗi mới, cho đến khi trong cơn tuyệt vọng, anh ta kêu lên như Macbeth: “Ta đã từng sống trong một thời gian hạnh phúc, vì từ giây phút này chẳng còn gì nghiêm túc trong kiếp người nữa; tất cả chỉ là trò chơi. Danh vọng và phẩm giá đã chết” (Macbeth 2,3).

Tuyệt vọng thường biến thành thái độ cuồng tín chống lại tôn giáo và luân lý. Người đã rơi khỏi trật tự thiêng liêng sẽ căm ghét nó, vì tôn giáo nhắc họ nhớ đến tội lỗi của mình.

Một số linh hồn đạt đến điểm như Nietzsche: muốn gia tăng sự dữ đến mức mọi phân biệt đúng – sai bị xóa bỏ. Khi ấy họ có thể phạm tội mà không áy náy và nói như Milton: “Hỡi sự dữ, hãy là điều tốt của ta.” Khi ấy tiện lợi thay thế luân lý, tàn bạo hóa thành công lý, và dâm dục hóa thành tình yêu. Tội cứ nhân lên trong linh hồn ấy cho đến khi nó trở thành tình trạng thường trực của Satan. Như Seneca từng nói: “Mỗi kẻ có tội đều là đao phủ của chính mình.” Shakespeare thì nói: “Lương tâm khiến tất cả chúng ta trở thành kẻ hèn nhát.” (Hamlet 3.1). Chúng ta phải làm gì trước tình trạng này? Tiếp tục phủ nhận tội ư? Không tốt hơn sao khi cố gắng định nghĩa tội và hiểu nó?

Chúng ta đã khẳng định rằng tội lỗi không phải là biểu hiện của bản năng thú vật; không phải là sự bùng nổ của vô thức. Nó cũng không phải là điều xảy ra vì bà ngoại yêu ta quá ít hay ông nội yêu ta quá nhiều. Tội là một hành vi của tự do, qua đó chúng ta làm đảo lộn toàn bộ sự hài hòa của bản tính mình. Nó không chỉ là tìm kiếm tư lợi, mà là khẳng định cái tôi bằng mọi giá.

Ở đây chúng ta đang giả định một khái niệm rất căn bản về tội, vì thế hãy bắt đầu bằng vài ví dụ từ trật tự vật lý và sinh học.

Tội là sự bất tuân các luật Thiên Chúa đặt trong vũ trụ vật chất. Hãy giả sử ai đó xây một tòa nhà chọc trời nhưng không đúng chuẩn thẳng đứng; tòa nhà sẽ không đứng vững vì người ấy đã từ chối tôn trọng luật hấp dẫn. Theo nghĩa rộng, người ấy đã “phạm tội” chống lại luật vật lý. Ở mức độ cao hơn, lương tri cũng là phản ánh của luật Thiên Chúa. Tôi tự do đấm nắm tay mình xuyên qua cửa kính, nhưng hình phạt là một bàn tay rướm máu. Tôi đã vi phạm một quy luật và thấy rõ hậu quả.

Hãy đi vào trật tự sinh học. Tại sao bất cứ sự sống nào cũng chết? Nó chết vì có sự thống trị của trật tự thấp hơn đối với trật tự cao hơn. Khi nào cây cối chết? Khi trật tự hóa học bắt đầu thống trị sự sống của thực vật. Lửa giết chết cây cối; lửa thuộc về trật tự thấp hơn. Động vật có thể chết như thế nào? Nó có thể chết do sự thống trị của đời sống thực vật đối với đời sống động vật, chẳng hạn qua các loài cây độc.

Cái chết chính là sự thống trị của trật tự thấp hơn trên trật tự cao hơn. Khi nào linh hồn chết? Bất cứ khi nào trật tự thấp hơn thống trị trật tự cao hơn: cái tôi thống trị cộng đoàn, xác thịt thống trị tinh thần, thời gian thống trị vĩnh cửu, thân xác thống trị linh hồn. Khi đó xuất hiện cái chết mà ta gọi là tội lỗi. Thánh Kinh đặt cái chết trong trật tự sinh học song song với tội lỗi trong trật tự luân lý: “Lương bổng của tội lỗi là sự chết” (Rm 6,23).

Tội là một sự cố ý vi phạm luật Thiên Chúa. Nếu bạn mua một bình nấu cà phê điện, bạn sẽ thấy những chỉ dẫn ghi như một “điều răn”: “Không cắm điện khi bình trống.” Nếu bạn nói: “Tại sao ai lại được quyền bảo tôi làm gì? Họ xúc phạm quyền tự do của tôi!", thì bạn quên rằng nhà sản xuất đưa ra chỉ dẫn để bình được sử dụng đúng cách. Thiên Chúa cũng vậy: khi tạo dựng chúng ta, Người ban những luật không phải để phá hủy tự do, mà để ta có thể hoàn thiện chính mình. Khi ta vi phạm các luật ấy, chúng ta làm tổn thương chính mình. Ta phá vỡ một mối tương quan. Trong dụ ngôn Người Con Hoang Đàng, người cha nói về đứa con trở về: “Nó đã chết mà nay sống lại.”

Đó là sự đổ vỡ của một mối tương quan cá vị. Đối với những ai đang ở trong tình trạng ân sủng, tội lỗi giống như một cuộc đóng đinh: đó là làm tổn thương, làm đau Đấng chúng ta yêu mến. Tại sao chúng ta đau buồn vì tội mình? Không phải vì đã vi phạm một hợp đồng, cũng không chỉ vì đã vi phạm một lề luật, mà vì chúng ta đã làm đau lòng một Đấng chúng ta yêu thương. Chỉ khi chúng ta khám phá ra Thiên Chúa, và nhất là lòng thương xót của Người nơi Đức Kitô, chúng ta mới bắt đầu hiểu tội lỗi một cách trọn vẹn. Cần có tình yêu thì mới hiểu được tội lỗi. Điều đó nghe có vẻ lạ, nhưng là sự thật. Dù tội lỗi lớn đến đâu, vẫn luôn có lòng thương xót. Là kẻ có tội là nỗi khốn khổ của chúng ta; nhưng biết mình là kẻ có tội lại chính là niềm hy vọng của chúng ta, và niềm hy vọng ấy chính là bí tích Tha Tội.

0 comments:

Post a Comment