41. CÁC GIỚI RĂN: 1–3

Bạn đã bao giờ phạm lỗi chạy quá tốc độ chưa? Bạn đã từng đi săn trái mùa chưa? Những điều ấy có khiến bạn vô cùng hối hận không? Rõ ràng, việc vi phạm luật chẳng khác nào làm tổn thương người mình yêu mến. Chuẩn mực của đời sống luân lý chúng ta không chỉ là việc tuân giữ một lề luật, mà là sống trong tương quan với một người khác. Vì thế, điều hướng dẫn đời sống Kitô hữu không phải là một danh sách những điều cấm, nhưng trước hết là đức ái và tình yêu. Nỗi đau buồn vì tội có thể sâu đậm hoặc hời hợt tùy nơi mỗi người; tùy thuộc vào mức độ họ yêu mến.

Giả sử bạn không biết hát nhưng lại được đưa vào một ca đoàn mà mọi người đều hát rất hay. Bạn hát sai một nốt. Vị nhạc trưởng sẽ nhìn bạn với vẻ không hài lòng, còn các ca viên khác sẽ quay lại nhìn bạn đầy trách móc. Tại sao họ phản ứng như vậy? Bởi vì họ cảm nhận sự lệch điệu rõ hơn bạn. Bạn không đủ khả năng âm nhạc để nhận ra điều đó, còn họ thì có.

Tương tự như thế, có những người chưa cảm nhận được tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa nên không cảm thấy sự hối tiếc sâu xa như những người thực sự biết và yêu mến Ngài. Tôi không muốn nói rằng vì thế họ không có lỗi, cũng như việc bạn hát sai nốt vẫn là một sự sai lệch thực sự, dù bạn có nhận ra hay không. Điều tôi muốn nói là: càng yêu mến Chúa Kitô, người ta càng không muốn làm bất cứ điều gì xúc phạm đến Người; và nếu lỡ xúc phạm Người, họ càng cảm thấy thống hối và đau buồn sâu sắc hơn.

Đó chính là sự khác biệt giữa việc chỉ sống theo luật và sống theo tình yêu; giữa tội lỗi được nhìn trong bình diện tự nhiên và tội lỗi được nhìn trong bình diện siêu nhiên.

Khi chúng ta chỉ sống theo lề luật, khi chưa được ở trong tình trạng ân sủng, mỗi khi làm điều sai trái, chúng ta cảm thấy mình có lỗi vì đã vi phạm luật. Nhưng khi đang sống trong tình trạng ân sủng mà phạm tội nặng, chúng ta cảm thấy mình bị hoen ố, xấu hổ và nhơ bẩn. Sự khác biệt ấy giống như sự hối hận của Cain hay của Giuđa so với sự hối hận của người con hoang đàng, người đã nói rằng mình đã phạm tội chống lại cha mình.

Trong bình diện tự nhiên, điều khiến chúng ta tránh tội thường là nỗi sợ những hậu quả hoặc hình phạt ở đời này; còn trong bình diện siêu nhiên của ân sủng, điều thúc đẩy chúng ta là ý thức về sự thánh thiện của Thiên Chúa.

Trong bình diện tự nhiên, nỗi hối tiếc của chúng ta thường chỉ hướng đến một số tội nhất định, nhất là những tội gây xấu hổ hoặc làm mất thể diện; còn những tội như lòng tham hay tính ích kỷ thì chúng ta thường không mấy bận tâm.

Nhưng khi Thần Khí Đức Kitô thấm sâu vào tâm hồn chúng ta, chúng ta không chỉ đau buồn vì những hành động sai trái, mà còn vì những động cơ lệch lạc, những ý nghĩ xấu xa và bất cứ điều gì có thể dẫn đến tội.

Trong bình diện tự nhiên, nỗi buồn vì lỗi lầm hay tội lỗi thường chỉ thoáng qua, như trường hợp vị quan toà đã nghe thánh Phaolô giảng. Kinh Thánh có một hình ảnh rất mạnh: "Con chó quay lại chỗ nó mửa” (Châm ngôn 26,11). Nhiều người sa ngã vào chính tội cũ của mình vì họ chưa thực sự ý thức sâu xa về tội lỗi mà mình đã phạm.

Nhưng khi sống trong bình diện siêu nhiên, người ta có một nhận thức sâu sa về tội lỗi. Họ trở nên giống thánh Phêrô hơn. Tương truyền rằng ngài đã khóc sám hối tội chối Chúa nhiều đến nỗi nước mắt đã hằn thành những rãnh sâu trên đôi má.

Mục tiêu của chúng ta là noi theo chính đời sống của Chúa Kitô. Điều đó không có nghĩa là chúng ta phải sinh ra trong máng cỏ, phải trốn sang Ai Cập, phải tranh luận với các bậc thầy khi mới mười hai tuổi hay phải biến nước thành rượu. Nhưng điều đócó nghĩa là mỗi người chúng ta phải hành động như Chúa Kitô sẽ hành động nếu Người ở vào hoàn cảnh của chúng ta.

Chúng ta không noi gương Chúa Kitô như một học trò sao chép từng nét của một danh họa, nhưng phải mang lấy tâm tình và tinh thần của Chúa Kitô.

Chúng ta hãy trở lại với lề luật mà phải chi phối toàn bộ đời sống luân lý của mình. Chúng tôi nhắc lại điều này vì nó hết sức quan trọng. Chúa chúng ta đã phán: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất. Còn điều răn thứ hai cũng giống điều ấy: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Mt 22,37-39).

Hãy lưu ý rằng toàn bộ Mười Điều Răn được quy về tình yêu. Không thể có tình yêu nếu không có một ngôi vị khác để yêu. Vậy ai là người mà chúng ta được mời gọi yêu mến? Đó là Thiên Chúa và tha nhân.

Chính vì thế, khi yêu ai, chúng ta thường nói đến "tình yêu của chúng ta". Có một mối dây liên kết hai người lại với nhau. Vì vậy, nền tảng của đời sống luân lý là một tương quan ba chiều: tôi, bạn và Thiên Chúa. Cũng như trên trời có Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, thì dưới đất cũng có ba mối tương quan gắn bó với nhau: tôi, bạn và Thiên Chúa.

Cũng như giữa tôi, bạn và Thiên Chúa có một cuộc đối thoại của tình yêu, thì nơi Thiên Chúa cũng có cuộc đối thoại yêu thương đời đời giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Chính Chúa Giêsu đã mặc khải Ba Ngôi Thiên Chúa như khuôn mẫu cho mối hiệp thông yêu thương ấy trong đêm Tiệc Ly. Khi nói về tình yêu của Chúa Cha mà Người đã mặc khải cho chúng ta, Người cầu nguyện với Chúa Cha rằng: "Để tình yêu Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và chính Con cũng ở trong họ" (Ga 17,26). Như vậy, chuẩn mực của tình yêu đối với tha nhân không chỉ là tình yêu chúng ta dành cho chính mình. Nền tảng sâu xa hơn chính là tình yêu mà Chúa Kitô dành cho chúng ta.

Hai điều răn yêu mến Thiên Chúa và yêu mến tha nhân tóm kết toàn bộ Mười Điều Răn. Mười Điều Răn quy về hai mối tương quan ấy: tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân. Ba điều răn đầu liên hệ đến Thiên Chúa; sáu điều răn cuối liên hệ đến tha nhân. Giữa ba điều răn đầu và sáu điều răn cuối là Điều Răn Thứ Bốn: "Hãy thảo kính cha mẹ" (Đệ nhị luật 5,16).

Thiên Chúa đặt điều răn này ở giữa vì trong gia đình, cha mẹ giữ vị trí thay mặt Thiên Chúa; và việc vâng phục cha mẹ là một bổn phận cao quý của đức công bằng, vừa hướng về tha nhân vừa hướng về Thiên Chúa.

Khi bất tuân Thiên Chúa, chúng ta xúc phạm đến một trong ba điều răn đầu tiên, là những điều răn liên quan đến việc thờ phượng Thiên Chúa, tôn kính Danh Thánh Người và giữ ngày Sa-bát.

Tuy nhiên, mục đích của chúng tôi không phải là liệt kê cho bạn những tội lỗi hay những thói xấu cần tránh. Điều chúng tôi quan tâm là làm gia tăng nơi bạn lòng yêu mến Thiên Chúa và giúp bạn xây dựng một đời sống luân lý tích cực theo gương Đức Kitô.

Chúng tôi sẽ chỉ nhắc đến các tội ấy cách sơ lược; bạn có thể tìm thấy một bản liệt kê đầy đủ hơn trong các sách kinh có phần xét mình. Những gì được trình bày dưới đây không phải là danh sách đầy đủ các tội nghịch với ba điều răn đầu (Đnl 5,6-15), mà chỉ là một vài ví dụ tiêu biểu.

Người nào từ chối nhìn nhận Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, Đấng Cứu Chuộc và Đấng Thánh Hóa, thì vi phạm điều răn tổng quát về lòng yêu mến Thiên Chúa cũng như những điều răn đầu tiên diễn tả lòng yêu mến ấy. Tương tự, lòng thù ghét Thiên Chúa, việc từ chối thờ phượng Người, bỏ lễ Chúa nhật và các ngày lễ buộc, hoặc thái độ phản kháng Thiên Chúa vì những thử thách và thập giá Người cho phép xảy đến, đều là những vi phạm đối với ba điều răn đầu.

Các tội như thờ ngẫu tượng, mê tín dị đoan, phạm thượng, nguyền rủa, xúc phạm sự thánh, mất đức tin, tự phụ, tuyệt vọng, không giữ ngày Chúa nhật và những tội tương tự cũng thuộc loại này.

Tuy nhiên, chúng ta không chỉ được mời gọi tránh các tội ấy. Điều quan trọng hơn là phải hiểu: Tại sao chúng ta phải thờ phượng Thiên Chúa? Tại sao phải tôn kính Người? Tại sao phải kính trọng Danh Thánh của Người? Nếu thực sự hiểu Điều Răn Thứ Nhất — yêu mến Thiên Chúa hết trí khôn và hết linh hồn mình — có lẽ chúng ta sẽ không rơi vào bất cứ tội nào trong số những tội ấy.

Bạn nghĩ gì về Chúa? Bạn có hình dung Người như một Đấng ngự trên ngai cao, nổi giận mỗi khi bạn không tham dự Thánh lễ Chúa nhật hoặc khi bạn nói phạm thượng không? Bạn có nghĩ rằng Người cảm thấy bị xúc phạm vì bạn không để tâm đến Người không? Hay bạn lại hình dung Người như một ông lão hiền từ, chẳng bận tâm bạn làm gì, đi đâu hay sống thế nào, miễn là bạn vui vẻ?

Không, Thiên Chúa không chút nào như một trong hai hình ảnh ấy. Khi chúng ta không thờ phượng Người, có phải Người bị mất mát điều gì không? Hoàn toàn không. Chính chúng ta mới là người chịu thiệt thòi!

Thờ phượng là gì? Trong tiếng Anh, từ worship bắt nguồn từ worth-ship, hàm ý việc nhìn nhận giá trị hay phẩm giá của một người. Thờ phượng là sự biểu lộ lòng kính trọng và sự trân quý mà chúng ta dành cho một người.

Bạn vỗ tay tán thưởng một diễn viên trên sân khấu; bạn cũng có thể tán thưởng một vận động viên. Khi làm như vậy, bạn đang thừa nhận giá trị của họ.

Vậy thờ phượng Thiên Chúa nghĩa là gì? Nghĩa là bằng một cách nào đó nhìn nhận quyền năng, lòng nhân lành và chân lý của Người.

Nếu bạn không thờ phượng Thiên Chúa, bạn sẽ thờ phượng ai? Chín lần trên mười, đó sẽ là chính bạn. Nếu không có Thiên Chúa, thì bạn trở thành thần của chính mình. Mà nếu bạn là thần, thì tôi là người vô thần, vì tôi không thể tin vào một vị thần như thế.

Một trong những lý do căn bản khiến việc thờ phượng Thiên Chúa ngày nay trở nên hiếm hoi là vì con người từ chối nhìn nhận rằng mình lệ thuộc vào Thiên Chúa.

Tại sao bạn phải thờ phượng Thiên Chúa? Bạn có bổn phận phải thờ phượng Người, bởi nếu không, bạn sẽ không thể đạt tới hạnh phúc.

Giả sử bạn là một người cha. Cậu con trai nhỏ của bạn mang đến cho bạn một con dao nhỏ rẻ tiền mà nó mua làm quà Giáng Sinh. Bạn quý món quà ấy hơn hay quý một hộp xì gà hảo hạng do người đại lý bảo hiểm tặng? Hoặc nếu bạn là một người mẹ, cô con gái nhỏ mang về cho bạn một nắm hoa dại vàng hái bên đường; liệu món quà ấy có làm bạn vui hơn một bó hồng đẹp do một vị khách mang đến không?

Những món quà nhỏ bé ấy có làm bạn giàu hơn không? Bạn có thật sự cần chúng không? Bạn có cần con dao nhỏ ấy hay những bông hoa dại ấy không? Bạn có trở nên bất toàn nếu không nhận được chúng không? Chắc chắn là không.

Thế tại sao bạn lại trân quý những món quà ấy? Bởi vì qua đó, con cái bạn đang bày tỏ tình yêu, lòng kính trọng và sự biết ơn đối với bạn. Chúng đang nhìn nhận tình yêu và lòng tốt của bạn; và khi làm như vậy, chính chúng được trưởng thành hơn. Chúng lớn lên trong tình yêu thay vì oán ghét, trong lòng biết ơn thay vì vô ơn, trong tinh thần phục vụ thay vì ích kỷ và bất trung. Chúng đang trở thành những người con tốt hơn và hạnh phúc hơn.

Cũng như bạn không cần con dao nhỏ hay những bông hoa dại ấy, Thiên Chúa cũng không cần sự thờ phượng của bạn. Những món quà của con trẻ là dấu chỉ cho thấy chúng trân quý bạn biết bao; cũng vậy, lời cầu nguyện, sự tôn thờ và việc thờ phượng là dấu chỉ cho thấy chúng ta nhìn nhận giá trị và sự cao cả của Thiên Chúa như thế nào.

Nếu bạn không cần sự tôn kính của con cái mình, tại sao lại nghĩ rằng Thiên Chúa cần sự thờ phượng của bạn? Sự kính trọng của chúng là để hoàn thiện chính chúng, chứ không phải để hoàn thiện bạn. Cũng vậy, việc thờ phượng Thiên Chúa là để hoàn thiện chính chúng ta. Thờ phượng là cơ hội để chúng ta diễn tả lòng tận hiến, sự lệ thuộc và tình yêu của mình; nhờ đó chúng ta trở nên hạnh phúc hơn.

Người yêu luôn tặng quà cho người mình yêu vì trong mắt họ, người ấy đáng giá hơn mọi món quà. Càng yêu nhiều, họ càng thấy món quà của mình nhỏ bé. Dẫu có trao đi tất cả, họ vẫn cảm thấy chưa đủ.

Một trong những lý do chúng ta tháo nhãn giá khỏi quà tặng là vì không muốn thiết lập một tỷ lệ giữa món quà và tình yêu của mình. Khi một người đàn ông tặng quà cho người phụ nữ mình yêu, những món quà ấy không làm cho cô trở nên đáng quý hơn; trái lại, chúng giúp anh phần nào vượt qua cảm giác bất xứng và nghèo nàn của mình. Khi trao tặng, anh không còn đứng đó với hai bàn tay trắng. Món quà giúp hoàn thiện người trao ban, chứ không phải người nhận.

Cũng vậy, việc thờ phượng hoàn thiện chúng ta chứ không làm cho Thiên Chúa hoàn thiện hơn. Từ chối thờ phượng là phủ nhận sự lệ thuộc vốn làm cho chúng ta được tự do đích thực.

Đối với chúng ta, việc thờ phượng thì như sự nở hoa đối với một đóa hoa hồng. Từ chối thờ phượng chẳng khác nào một đóa hồng tự tách mình khỏi ánh mặt trời và mặt đất, hay một học sinh khăng khăng rằng lịch sử chẳng thể dạy cho mình điều gì.

Từ chối dành sự ngưỡng mộ cho một người xứng đáng được ngưỡng mộ là dấu hiệu của một tâm hồn kiêu căng và ganh tị. Thẳm sâu trong lòng, người từ chối thờ phượng Thiên Chúa biết rằng mình không phải là Đấng Tạo Hóa; thực ra, người ấy còn biết rằng nếu không có Thiên Chúa thì chính khái niệm "vô thần" cũng chẳng có nghĩa gì.

Thiên Chúa dựng nên bạn để bạn được hạnh phúc; Người dựng nên bạn vì hạnh phúc của bạn, chứ không phải vì hạnh phúc của Người. Ngay cả khi bạn chưa từng hiện hữu, Thiên Chúa vẫn hoàn toàn hạnh phúc.

Thiên Chúa không cần tình yêu của bạn vì lợi ích của Ngài. Tự nơi bản thân mình, chúng ta chẳng có gì có thể làm cho Thiên Chúa cần đến chúng ta. Phần lớn chúng ta còn thấy mình may mắn nếu nhận được chút tình cảm từ người khác.

Thiên Chúa đã đặt một phần tình yêu của Người vào trong chúng ta; chính vì thế chúng ta mới có thể nhận ra vẻ đáng yêu nơi người khác. Khi chia sẻ tình yêu của mình với họ, chúng ta giúp vẻ đẹp ấy được bộc lộ và triển nở.

Chúng ta yêu người khác vì chúng ta có những thiếu thốn cần được lấp đầy. Chúng ta nghèo nàn và cần người khác bổ khuyết những gì mình còn thiếu. Nhưng Thiên Chúa không yêu chúng ta vì Người cần đến chúng ta. Người yêu chúng ta vì Người đã đặt tình yêu của Người vào trong chúng ta và qua đó ban cho chúng ta giá trị và phẩm giá (vì Ngài là Chúa Tể của vũ trụ).

Khi Thiên Chúa truyền dạy chúng ta phải yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn, đó không phải vì Người cần tình yêu của chúng ta, nhưng vì Người muốn chúng ta được hạnh phúc.

0 Nhận xét