Ba Điều Răn đầu tiên nói về những bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa, và sáu Điều Răn cuối cùng nói về những bổn phận của chúng ta đối với tha nhân (Đnl 5:6–21). Ở giữa là Điều Răn Thứ Tư: Hãy thảo kính cha mẹ, bởi vì điều răn này là mối dây liên kết giữa Thiên Chúa và tha nhân. Sự công bằng mà chúng ta mắc nợ cha mẹ gần với sự công bằng mà chúng ta mắc nợ Thiên Chúa, và cũng liên hệ với sự công bằng mà chúng ta mắc nợ tha nhân. Sau Thiên Chúa, chính cha mẹ là những người đã ban sự sống cho chúng ta, và Điều Răn Thứ Tư là điều răn bảo đảm cho tương lai của nền văn minh chúng ta.
Napoléon được hỏi việc giáo dục một đứa trẻ bắt đầu từ khi nào. Ông trả lời: “Hai mươi năm trước khi đứa trẻ được sinh ra — trong việc giáo dục người mẹ.” Điều đó đúng, vì cha mẹ giữ vị trí của Thiên Chúa trong gia đình. Một đứa trẻ thì giống như cục đất sét trong tay cha mẹ, những người sẽ quyết định tương lai của nó. Khi Thiên Chúa ban một đứa trẻ cho cha mẹ, Ngài đã làm một triều thiên cho đứa trẻ ấy trên thiên đàng; và khốn cho những bậc cha mẹ không hoàn thành định mệnh cao cả và ơn gọi của đứa trẻ đó. Một trong những mối nguy nghiêm trọng nhất mà trẻ em phải đối diện có thể đến từ chính gương xấu của cha mẹ mình.
Sự hư hỏng bắt đầu từ gia đình. Sự hư hỏng của cha mẹ trở thành sự hư hỏng của con cái, và luật Thiên Chúa liên quan đến cả hai đã được diễn tả rõ ràng trong Kinh Thánh. Trong thư gửi tín hữu Côlôsê (3:20–21), chúng ta đọc về mối tương quan mà con cái phải có đối với cha mẹ; rồi tiếp đó là mối tương quan mà cha mẹ phải có đối với con cái.
Con cái phải vâng phục cha mẹ trong mọi sự; sự vâng phục là một dấu chỉ tốt đẹp của việc phụng sự Chúa và vâng phục chính Thiên Chúa. Cha mẹ không được khơi dậy nơi con cái sự cay đắng và oán giận, nếu không họ sẽ làm cho tinh thần của chúng bị suy sụp. Phải có sự dịu dàng, một sự dịu dàng mang đặc tính của lòng thương xót mà Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Thật đẹp biết bao bài học về sự vâng phục được ban cho chúng ta nơi Chúa Hài Nhi ở Nadarét. Không có bằng chứng nào cho thấy Người chỉ trao cho Đức Maria và thánh Giuse quyền truyền dạy trên danh nghĩa. Kinh Thánh nói: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2,51).
Hãy tưởng tượng: Thiên Chúa lại phục tùng con người! Thiên Chúa, Đấng mà trước mặt Ngài các thiên thần, các quyền thần và các dũng thần đều run sợ, lại tự nguyện đặt mình dưới quyền của Đức Maria và thánh Giuse. Đây là hai phép lạ lớn lao của sự khiêm nhường và tôn vinh: Thiên Chúa làm người vâng phục một người phụ nữ, và người phụ nữ truyền lệnh cho Thiên Chúa làm người.
Chính việc Người tự nguyện phục tùng Mẹ đã ban cho Đức Maria quyền bính, và sự vâng phục ấy kéo dài suốt ba mươi năm. Qua quãng thời gian dài của sự vâng phục tự nguyện đó, Người đã mặc khải Điều Răn Thứ Tư là nền tảng của đời sống gia đình. Làm sao tội nguyên tổ, khởi đi từ sự bất tuân đối với Thiên Chúa, có thể được hủy bỏ nếu không bởi sự vâng phục trong xác phàm của chính Thiên Chúa, Đấng đã từng bị phản nghịch? Chính Lucifer đã thốt lên: “Ta sẽ không vâng phục!” (Is 14,12–14). Tiếng nói ấy vọng vào Vườn Êđen, rồi xuyên suốt dòng lịch sử nhân loại, len lỏi như một thứ nọc độc vào từng ngóc ngách của mọi gia đình.
Khi cha mẹ thoái thác quyền bính chính đáng và trách nhiệm hàng đầu của mình đối với con cái, thì nhà nước bắt đầu can thiệp. Khi cha mẹ không còn nuôi dạy con cái trong tình yêu mến và lòng kính sợ Thiên Chúa, và con cái trở thành những thanh thiếu niên phạm pháp, thì nhà nước sẽ nắm lấy những chức năng vốn thuộc về gia đình.
Sự vâng phục trong gia đình là nền tảng của sự vâng phục trong xã hội; đó là việc lương tâm tự nguyện quy phục người đã được Thiên Chúa trao phó quyền bính. Thế giới ngày nay đã đánh mất lòng tôn trọng đối với quyền bính. Và bởi vì sự tôn trọng ấy trước tiên bị đánh mất trong gia đình, nên khi gia đình không còn thực thi quyền bính của mình, nhà nước bắt đầu trở nên độc đoán.
Có một mối liên hệ mật thiết giữa gia đình và nhà nước. Dân chủ đề cao người đàn ông; phong trào nữ quyền đề cao người phụ nữ. Nhưng cả dân chủ lẫn nữ quyền đều không thể tồn tại quá một thế hệ nếu trước hết đứa trẻ không được đặt ở vị trí trung tâm. Đó chính là ý nghĩa của Nadarét.
Chúa Giêsu đã cảnh báo về việc chăm sóc trẻ nhỏ. Người nói: “Còn ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà xô xuống đáy biển còn hơn.” (Mt 18,6)
Đừng nghĩ rằng sự vâng phục trong gia đình không bao hàm mọi hình thức vâng phục khác. Điều Răn này bao gồm nhân đức hiếu kính (pietas), một nhân đức chi phối các bổn phận của chúng ta đối với gia đình, tha nhân và quê hương đất nước. Mọi quyền bính đều bắt nguồn từ Thiên Chúa; vì thế, Điều Răn này cũng đòi buộc chúng ta phải tôn trọng và vâng phục quyền bính dân sự chính đáng.
Hãy nhớ rằng khi Philatô khoe mình có quyền kết án Chúa Giêsu, thì Chúa đã nói rằng ông sẽ không có quyền ấy nếu nó không được ban cho ông từ trên cao (Ga 19,10–11). Kinh Thánh dạy rằng mọi người phải phục tùng những người có thẩm quyền hợp pháp trên mình (Ep 6,5). Quyền bính chỉ đến từ Thiên Chúa, và mọi quyền bính đang được thi hành đều là do Thiên Chúa thiết lập.
Thật đẹp biết bao khi nhận ra rằng thánh Phaolô và thánh Phêrô đã kêu gọi sự vâng phục các nhà cầm quyền dân sự, mặc dù người đứng đầu chính quyền lúc đó là Nêrô, kẻ sau này sẽ xử tử cả hai vị. Bạn sẽ thấy rằng những ai yêu mến Thiên Chúa luôn là những người yêu nước chân chính nhất. Bất cứ khi nào lòng yêu nước bắt đầu suy giảm trong một quốc gia, thì luôn luôn có sự suy giảm tương ứng trong niềm tin vào Thiên Chúa.
Trong các Điều Răn còn lại, từ Điều Răn Thứ Năm đến Điều Răn Thứ Mười, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải yêu thương tha nhân như chính mình. Nhưng chúng ta yêu chính mình như thế nào? Chúng ta yêu bản thân rất nhiều, nhưng cũng có những điều nơi chính mình mà chúng ta không thích. Chúng ta thất vọng về bản thân khi cư xử thô lỗ, cộc cằn hoặc xúc phạm người khác; khi đòi hỏi nơi tha nhân nhiều hơn mức hợp lý; hoặc khi nói những điều không chân thật gây tổn thương cho bạn bè. Như thế, chúng ta vừa có thể yêu chính mình, vừa có thể ghét chính mình.
Chúng ta yêu điều tốt nơi chính mình và ghét điều xấu nơi chính mình. Chúng ta yêu điều tốt nơi tha nhân và ghét điều tội lỗi nơi họ. Chúng ta yêu người có tội nhưng ghét tội lỗi. Chúng ta yêu tha nhân như một con người thiêng liêng, nhưng không nhất thiết yêu nơi họ những khuynh hướng xác thịt.
Chúa Giêsu đã liên kết tình yêu đối với chính Người, tình yêu đối với tha nhân và tình yêu đối với bản thân. Có thể có hai sai lầm lớn: một là yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương tha nhân; hai là yêu thương tha nhân mà không yêu mến Thiên Chúa.
Người ta thường mời gọi chúng ta tham gia vào những phong trào cổ võ tình huynh đệ, và rất nhiều người nói về tình huynh đệ của toàn thể nhân loại. Tất cả những điều ấy đều tốt đẹp và đúng đắn. Nhưng làm sao chúng ta có thể thực sự là anh chị em của nhau nếu không cùng có một Người Cha? Tách tình huynh đệ của nhân loại khỏi tình phụ tử của Thiên Chúa chẳng khác nào biến toàn thể nhân loại thành một đoàn con cái mồ côi cha.
Tình yêu đối với tha nhân không chỉ được đo lường theo tình yêu chúng ta dành cho chính mình, nhưng còn phải được đo lường theo cách mà Chúa đã yêu thương chúng ta. Người nói:“Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,12)
Nhưng ai là người thân cận của tôi? Có phải người sống bên cạnh nhà tôi không? Chúng ta không bao giờ có thể biết trước ai là người thân cận của mình. Người thân cận có thể là một người bạn, như Chúa chúng ta là bạn của Ladarô; và người thân cận cũng có thể là một kẻ thù, như trường hợp người bị nạn trên đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô (Lc 10,30).
Người thân cận là người đang cần đến sự quý trọng và lòng yêu thương của bạn. Các thánh đáng được chúng ta quý trọng hơn những người tội lỗi; nhưng trên trần gian này, đức ái phải được hướng dẫn bởi mức độ khốn cùng, dù là thiêng liêng hay thể xác. Nếu có hai người đều đang đau khổ và đều cần giúp đỡ như nhau, thì chúng ta có thể giúp người gần gũi với mình hơn, hoặc vì huyết thống hoặc vì tình bằng hữu.
Chúng ta đã nói rằng người thân cận cũng có thể là kẻ thù. Chúa chúng ta đã dạy:“Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi, xúc phạm anh em” (Mt 5,44). Tình yêu đối với kẻ thù thực sự là thước đo để chứng minh liệu tình yêu của chúng ta có thật sự phát nguồn từ tình yêu Thiên Chúa hay không.
Chúa chúng ta còn dạy rằng trước khi dâng lễ vật cho Người trên bàn thờ, nếu giữa chúng ta và người anh em có điều bất hòa, thì trước hết phải đi làm hòa với người ấy (Mt 5,24).
Chúng ta có mối tương quan với tha nhân qua tâm trí, thân xác và của cải vật chất. Chúng ta gắn bó với người khác trong những gì mình suy nghĩ, ước muốn và quyết định; trong cách chúng ta nói và cách chúng ta lắng nghe. Chúng ta cũng liên hệ với tha nhân qua thân xác, qua công việc và mọi hoạt động của đời sống. Niềm vui và sự hiệp thông cũng được nuôi dưỡng qua việc giao tiếp với nhau. Ngoài ra, chúng ta còn được liên kết với tha nhân qua tiền bạc, đất đai và tài sản, nghĩa là qua toàn bộ trật tự kinh tế của xã hội.
Ba lãnh vực này — tâm trí, thân xác và của cải — là nguồn gốc của ba loại tội chính: kiêu ngạo, liên hệ đến tâm trí; dâm dục hay ô uế, liên hệ đến thân xác; và cuối cùng là tham lam, liên hệ đến của cải.
Giờ đây, chúng ta hãy xét đến mối tương quan của mình với tha nhân trong những cơn cám dỗ diễn ra nơi tâm trí. Cám dỗ trước hết là một tiến trình nội tâm. Thông thường, một cơn cám dỗ gồm ba yếu tố: sự gợi ý, sự thích thú và sự ưng thuận.
Con người không phạm tội chỉ vì một tư tưởng thoáng qua trong tâm trí. Chỉ khi nào ý chí tự do ưng thuận, chấp nhận và dung dưỡng điều xấu, lúc đó mới có tội. Sự ưng thuận này phát xuất từ ý chí mà ra.
Sự gợi ý có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau: từ những gì chúng ta nhìn thấy, nghe thấy, ghi nhớ hoặc tưởng tượng; cũng có thể đến từ một lời mời gọi hay đề nghị từ bên ngoài, như trường hợp Evà bị cám dỗ bởi lời dụ dỗ của Satan.
Có thể có sự thích thú đi kèm với cơn cám dỗ, và sự thích thú ấy đôi khi còn biểu lộ trên bình diện thể lý. Chúng ta có thể cảm nhận ảnh hưởng của tư tưởng đó nơi thân xác mình. Tuy nhiên, cảm giác ấy kéo dài bao lâu không phải là điều quyết định, bởi vì chưa có tội lỗi chừng nào chưa có sự ưng thuận của ý chí.
Vì thế, chúng ta không nên cho rằng mình trở nên xấu xa chỉ vì bị cám dỗ. Bị cám dỗ là một phần của thân phận con người. Điều sai trái không phải là cơn cám dỗ, cũng không phải là cảm giác phát sinh từ nó, nhưng là sự ưng thuận của ý chí đối với điều xấu.
Mối tương quan của chúng ta với tha nhân đòi buộc chúng ta phải sống và nói theo sự thật. Không một nhân đức luân lý nào có thể phát triển nếu thiếu nền tảng của chân lý. Trong bí tích Thêm Sức, chúng ta lãnh nhận Thần Khí Sự Thật, nhờ đó sự hiệp thông của chúng ta với Nhiệm Thể Chúa Kitô trở nên sâu xa và mật thiết hơn.
Lý do chúng ta được mời gọi sống chân thật là vì toàn bộ mầu nhiệm Nhập Thể chính là sự mặc khải của chân lý. Hãy nhớ rằng Ngôi Lời hằng hữu, tức Tư Tưởng của Thiên Chúa, đã trở nên xác phàm và được biểu lộ cách hữu hình giữa thế gian. Cũng như Chúa Con là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha, thì những lời tôi nói ra bên ngoài cũng phải phản ánh trung thực những gì đang ở trong tâm trí tôi. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” (Ga 1,14)
Mọi tội lỗi chống lại sự thật đều bị ngăn cấm: nói dối, khoe khoang, phỉ báng, làm tổn hại danh dự và thanh danh của người khác, xét đoán hồ đồ, vu khống, chối bỏ đức tin ngay cả khi bị bách hại, đạo đức giả, cũng như cố ý nuôi dưỡng ý muốn làm điều xấu dù không có cơ hội hay khả năng thực hiện điều đó.
Con người có thể phạm tội ngay trong tư tưởng, cho dù những ý nghĩ ấy không bao giờ được biến thành hành động. Vì thế, các Điều Răn dạy: “Ngươi không được ham muốn vợ người khác. Ngươi không được ham muốn của cải của người khác” (Xh 20,17).
Chúa chúng ta cũng phán: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5,28).
Qua đó, chúng ta thấy rằng Chúa không chờ đến khi một ý nghĩ trở thành hành động mới xét đến nó. Người không chỉ quan tâm đến sự trong sạch bên ngoài, nhưng còn gìn giữ sự trong sạch nơi chính những động cơ và ý hướng phát sinh hành động. Nếu mọi dòng suối nhỏ đổ vào đại dương đều được giữ trong lành, thì chính đại dương cũng sẽ được giữ trong lành.
Thân xác đáng được tôn trọng, vì trong trật tự tự nhiên, nó kết hợp với linh hồn để tạo thành một con người; còn trong trật tự siêu nhiên, nó trở thành đền thờ của Thiên Chúa khi chúng ta sống trong tình trạng ân sủng.
Kinh Thánh nói với chúng ta:“Vì lòng thương xót của Thiên Chúa, tôi khuyên anh em hãy hiến dâng thân xác mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.” (Rm 12,1)
Tôi nghĩ trước đây chúng ta đã nói rằng rất thường khi con người quá chiều chuộng những hưởng thụ xa hoa của thân xác, thì đời sống nội tâm của họ lại trở nên nghèo nàn. Linh hồn càng được trang điểm bằng các nhân đức bao nhiêu, thì càng ít cảm thấy cần phải phô bày mình ra bên ngoài bấy nhiêu.
Chúng ta phải chăm sóc thân xác không chỉ vì những lý do sinh học, mà còn vì thân xác là phương tiện giúp chúng ta sống đời sống thiêng liêng và luân lý cách tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bệnh tật không thể song hành với sự thánh thiện. Trái lại, đôi khi bệnh tật giúp làm suy giảm những cám dỗ, kết hợp chúng ta mật thiết hơn với Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, và bảo đảm cho chúng ta niềm hy vọng vào vinh quang mai sau, nếu chúng ta biết chịu đựng đau khổ vì Danh Người.
Chúng ta phải nhớ rằng những tội lỗi trong tâm trí cuối cùng cũng có thể trở thành những xúc phạm đến thân xác. Vì thế, sẽ không có việc tự ý kết liễu mạng sống mình, bởi vì sự sống thuộc về Thiên Chúa. Sẽ không có việc phá thai, vì sự sống của thai nhi cũng là hồng ân của Thiên Chúa. Sẽ không có việc cố ý tước đoạt mạng sống của những người đang hấp hối hoặc mắc bệnh nan y.
Sẽ không có những tư tưởng hay ước muốn xấu đối với tha nhân; cũng không có những tội riêng tư, sự say sưa và những tội lỗi khác chống lại thân xác mà sách kinh thường liệt kê. Sẽ không có những tội chống lại chính thân xác mình hoặc thân xác của người khác, như giết người, phá thai, ngoại tình và những hành vi cố ý ngăn cản hoa trái tự nhiên của tình yêu vợ chồng.
Chúng ta cũng có mối liên hệ với tha nhân qua của cải vật chất. Quyền sở hữu tư nhân là một bảo đảm bên ngoài cho tự do của con người. Quyền sở hữu thuộc về cá nhân, nhưng việc sử dụng của cải luôn mang một chiều kích xã hội. Vì thế, chúng ta có những bổn phận đối với tha nhân trong đức ái, đặc biệt qua việc bố thí và chia sẻ.
Những gì là của dư thừa đối với người giàu thường lại là những nhu cầu thiết yếu của người nghèo. Chúa chúng ta đã phán: “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm” (x. Mt 25,35–36).
Trong việc sử dụng của cải vật chất, chúng ta phải thực thi lòng bác ái cách quảng đại, đặc biệt đối với công cuộc truyền giáo của Hội Thánh nơi các dân tộc chưa biết Chúa Kitô. Đức Thánh Cha đã nói:
“Đó là một đức ái vượt trên mọi hình thức bác ái khác, như trời vượt trên đất và như cõi vĩnh hằng vượt trên thời gian.”
Mọi tội lỗi liên quan đến của cải vật chất đều phải tránh xa. Sẽ không có việc trộm cắp mà không hoàn trả những gì đã chiếm đoạt. Nếu không biết người bị thiệt hại là ai, chúng ta sẽ dùng một số tiền tương đương để làm việc bác ái hoặc phục vụ công ích. Chúng ta sẽ bồi thường những thiệt hại bất công đã gây ra cho người khác và chu toàn công việc của mình tương xứng với tiền công đã nhận.
Người sử dụng lao động sẽ trả một mức lương công bằng đủ để người lao động và gia đình họ có thể sống xứng đáng; sẽ không có sự gian lận, bóc lột hay trốn tránh trách nhiệm trong các tương quan kinh tế.
Kinh Thánh dạy: “Ngươi không được mang trong túi hai loại quả cân, một lớn một nhỏ. Trong nhà ngươi cũng không được có hai loại đấu đong, một lớn một nhỏ. Ngươi phải có quả cân chính xác và công minh; đấu đong của ngươi phải chính xác và công minh” (Đnl 25,13–15).
Đó chính là ý nghĩa của các Điều Răn: hướng dẫn con người sống đúng đắn trong tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân — trong tư tưởng, lời nói, hành động và cả trong việc sử dụng của cải vật chất.
0 Nhận xét