Nguồn sức mạnh thiêng liêng vĩ đại nhất chưa được khai mở nằm nơi hàng giáo dân Kitô hữu. Chính nhờ giáo dân mà Giáo Hội đi vào trong thế giới. Nam giáo dân và nữ giáo dân là điểm gặp gỡ giữa Kitô hữu và người không phải Kitô hữu. Họ là mối dây nối kết giữa điều thánh thiêng và điều phàm tục, giữa tôn giáo và đời sống thế tục.
Giáo dân thực hiện ơn gọi Kitô hữu của mình ngay trong lòng thế giới. Khi họ đến nhà thờ, họ lãnh nhận sự sống, chân lý và ân sủng; nhưng họ lãnh nhận những điều ấy để phục vụ giữa đời. Chính trong thế giới, chân lý, ân sủng và sự sống Kitô giáo nơi họ gặp gỡ những người khác—những người có thể thiếu những điều ấy hoặc chưa được hưởng sự phong phú trọn vẹn của chúng.
Ơn gọi Kitô hữu là sống những biểu hiện bình thường của đời sống sao cho vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện.
Có hai nguy cơ. Một là giáo dân Công giáo có thể hình thành một loại “ghetto, nhóm đặc biệt,” nghĩ rằng các hoạt động tôn giáo của họ chỉ giới hạn trong nhà thờ, tuân thủ các Điều răn. Cũng có thể có những người Công giáo tụ tập với nhau trong một kiểu “lều tuyết”, hoàn toàn tách biệt đức tin ra khỏi hành động. Sự cực đoan của nhóm kia sẽ là đức tin của họ trở nên quá thế tục, đến mức đức tin không có ảnh hưởng gì đến cuộc sống thế tục của họ.
Hệ quả của việc tách biệt tôn giáo và thế giới là văn hóa đã được giải phóng khỏi Đức Kitô và trở thành văn hoá của sự dữ. Nếu giáo dân muốn có hiệu quả, họ phải ý thức rằng họ là thành viên của dân Chúa; họ thuộc về cộng đồng thờ phượng. Họ phải am hiểu về thần học. Như thánh Phêrô đã nói, họ phải có khả năng đưa ra lý do cho niềm tin của mình (1Pt 3:15). Họ phải giao tiếp với thế giới như những người Công giáo. Họ tham gia vào thế giới. Như John Donne đã nói rất hay:
"Không ai là một hòn đảo, hoàn toàn tách biệt; mỗi người là một phần của đại lục, một phần của đại gia đình; nếu một cục đất bị cuốn đi bởi biển, châu Âu trở nên thiếu thốn, như thể một mũi đất bị cuốn đi, cũng như thể một người bạn của bạn hay trong gia đình bạn bị mất; cái chết của một người làm giảm bớt tôi, vì tôi tham gia vào nhân loại. Và vì thế, đừng bao giờ hỏi chuông rung vì ai; nó rung cho bạn." (MEDITATION 17, Devotions upon Emergent Occasions)
Không ai có thể chu toàn ơn gọi Kitô hữu Công giáo của mình hoặc đạt được bất kỳ sự toàn vẹn cá nhân nào trong thế giới hiện đại nếu họ không quen thuộc với máy tính, biết đến những khu ổ chuột, hiểu về việc phân biệt chủng tộc, về các vấn đề thế giới, với mọi thứ.
Chính giáo dân đứng ở điểm giao nhau giữa Phúc Âm và thế giới. Như cây Thập giá đứng ở giao điểm giữa các nền văn hóa và nền văn minh của Athens, Jerusalem và Rome, giáo dân vượt qua tất cả các biên giới, và họ làm điều này nhân danh Đức Kitô.
Khi chúng ta thấy giáo dân đến nhà thờ vào Chủ nhật, chúng ta hỏi họ, Liệu họ có thực sự yêu thương nhau không? Họ có là một yếu tố trong cộng đồng thống nhất không? Họ đến đây chỉ để hoàn thành nghĩa vụ, tránh một tội trọng thay vì làm mạnh mẽ sự sống mà họ cần làm lan toả? Họ có đang tìm kiếm sự thánh hóa chỉ cho bản thân, quên rằng Chúa Giêsu đã nói, “Vì họ mà Con thánh hóa chính mình" (Ga 17:19)? Liệu họ ngoài thói quen hàng tuần đi nhà thờ, chẳng khác gì những người chung quanh họ trong cuộc sống? Khi người khác nhìn vào nhóm tín hữu này, liệu họ có nói: “Tôi cần nên giống như họ; tôi cần có tình yêu, sự thật và bình an mà những người này đang chiếm hữu”. Nhưng thường thì ngược lại.
Giáo dân sẽ phải nhận thức rằng Chúa Giêsu của chúng ta đã bị đóng đinh không phải trong một nhà thờ giữa hai ngọn nến, mà là giữa thế giới, trên một con đường, trong một đống rác của thị trấn, tại giao lộ nơi có ba thứ tiếng được ghi trên Thập giá. Đúng, đó là tiếng Híp-ri, Latin và Hy Lạp, nhưng chúng có thể là tiếng Việt, Anh hoặc tiếng Tàu. Điều đó không quan trọng.
Chúa Giêsu đã đặt mình ở trung tâm của thế giới, giữa những vũng bùn, những tên trộm, lính và những người đánh bạc. Ngài ở đó để mở rộng sự tha thứ cho họ. Đây là ơn gọi của giáo dân: đi vào thế giới và làm cho Đức Kitô được biết đến.
Giáo dân sẽ tìm thấy sức mạnh, trí tuệ và can đảm của mình như những nhân chứng của Đức Kitô ở đâu? Nếu họ chỉ dựa vào sức mạnh của riêng mình, họ sẽ yếu đuối như các Tông đồ; chín người rời khỏi vườn, và ba người còn lại trong vườn thì ngủ mê mệt.
Vượt trên cuộc sống tự nhiên, có một cuộc sống thần thánh. Phải có một bí tích, một dấu hiệu hữu hình mà qua đó họ tiếp xúc với sức mạnh của Đức Kitô, một kênh truyền từ Núi Sọ xuống tâm hồn của họ và làm cho họ mạnh mẽ.
Hãy trở lại với trật tự tự nhiên và bạn hãy nhớ rằng để sống, một người phải được sinh ra; người ấy phải trưởng thành và gánh vác trách nhiệm của xã hội mà người ấy sống trong đó. Vượt trên cuộc sống tự nhiên, có một cuộc sống thần thánh. Chúng ta phải được sinh ra trong cuộc sống thần thánh ấy, và đó là bí tích Rửa tội.
Bí tích dẫn chúng ta vào bậc sự sống siêu nhiên cao hơn là bí tích Thêm sức. Chúng ta được sinh ra về mặt tinh thần trong một bí tích, trở thành công dân của Vương quốc Thiên Chúa, và chúng ta được tuyển chọn vào Đạo binh của Chúa, vào chức vụ tư tế của những người tín hữu. Bí tích Thêm sức, như bất kỳ bí tích nào khác, được mô phỏng theo cuộc sống của Chúa chúng ta.
Chúa chúng ta có hai phép xức dầu tư tế tương ứng với hai khía cạnh trong cuộc sống của Ngài. Phép xức dầu đầu tiên là Nhập thể, điều này khiến Ngài có thể trở thành nạn nhân hiến tế mình cho của tội lỗi của chúng ta. Ngài đã mang lấy bản tính con người, với bản tính đó Ngài có thể chịu đau khổ và cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi. Là Thiên Chúa, Ngài không thể chịu khổ; là con người, Ngài có thể.
Khía cạnh đầu tiên trong cuộc sống của Chúa Giêsu kết cục qua Cuộc Thương Khó, Cái chết và Phục sinh của Ngài. Phép xức dầu thứ hai là khi Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ngài tại sông Giođan, thánh hiến Ngài cho sứ mệnh giảng dạy.
Đỉnh điểm của Giáo Hội là Lễ Ngũ Tuần. Sự hiện xuống của Chúa Thánh Thần trên Chúa Giêsu tại Giođan có tác dụng kép. Nó chuẩn bị Ngài cho cuộc chiến. Tin Mừng chép, "Chúa Giêsu trở về từ sông Jordan, đầy Thánh Thần, và trong Thánh Thần Ngài bị dẫn ra hoang mạc, nơi Ngài ở đó bốn mươi ngày và bị quỷ cám dỗ" (Lc 4:1-2). Khi Ngài nhận Chúa Thánh Thần, Ngài bước vào cuộc chiến với Satan, kẻ đã đưa ra ba cách dễ dàng để tránh khỏi Thập giá.
Chúa Thánh Thần đã chuẩn bị Ngài cho cuộc chiến và cho việc giảng dạy Nước Thiên Chúa. Khi Chúa Giêsu xuất hiện tại Nazareth, Ngài nói, "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa" (Lc 4:18-19).
Sau khi Chúa Giêsu lãnh nhận Thánh Thần và thực hiện hai sứ mệnh này, Ngài đã thiết lập bí tích Thêm sức, và nhờ quyền năng và sức mạnh của Ngải, Nước Chúa đi vào tâm hồn chúng ta. Thông thường, thừa tác viên của bí tích này là giám mục. Trong trường hợp cần thiết, như khi bệnh tật, một linh mục có thể chủ sự bí tích. Người sẽ được lãnh nhận bí tích Thêm sức, quỳ trước giám mục, đức giám mục sẽ giơ tay và cầu nguyện:
"Lạy Thiên Chúa toàn năng là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con. Chúa đã tái sinh các tôi tớ Chúa đây bởi nước và Thánh Thần khi giải thoát họ khỏi tội lỗi, thì lạy Chúa, xin hãy ban Chúa Thánh Thần, Đấng An Ủi đến trong những người này. Xin ban cho họ thần trí khôn ngoan và thông hiểu, thần trí lo liệu và sức mạnh, thần trí suy biết và đạo đức. Xin ban cho những người này đầy ơn kính sợ Chúa. Nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Sau đó, giám mục sẽ nhúng ngón tay vào dầu thánh và xức lên trán người sắp được xác nhận. Ngài sẽ gọi tên người đó và nói, "Hãy lãnh nhận ấn tín ơn Chúa Thánh Thần." Rồi giám mục sẽ nhẹ nhàng vỗ lên má người thụ nhận và nói, "Bình an của Chúa ở cùng con." Lý do cho sự vỗ nhẹ lên má là để nhắc nhở người ấy rằng họ phải sẵn sàng chịu đựng mọi thử thách vì Đức Kitô. Bí tích này chỉ có thể được lãnh nhận một lần, vì nó để lại dấu ấn không thể xóa trên linh hồn, giống như các bí tích Rửa Tội và Truyền Chức Thánh. Nhiều người đã bỏ qua sự khích lệ của bí tích này.
Hãy cùng nhớ lại một câu chuyện thú vị trong Cựu Ước. Hãy nhớ ngôn sứ Êlisa xưa kia, người đã đến thăm một người đàn bà góa có hai con trai sắp bị bán làm nô lệ vì bà không có tiền? Ông hỏi: “Bà có gì trong nhà?” Bà trả lời: “Chỉ có một chút dầu.” Ông bảo bà ra ngoài và mượn các bình trống của hàng xóm. Khi bà đã gom được nhiều bình, ông bảo bà bắt đầu đổ chỗ dầu ít ỏi đó vào các bình trống. Bà bắt đầu đổ, nhưng dầu không ngừng chảy! Và bà đổ đầy một bình, rồi một bình khác, và nữa, cho đến khi bà nói với con trai: “Đưa cho mẹ một bình nữa.” Cậu con nói: “Không còn bình nào nữa.” Và dầu ngừng chảy (2 Vua 4:1–7).
Dầu trong Kinh Thánh rất thường tượng trưng cho Chúa Thánh Thần, và bài học là: Thần Khí mà chúng ta lãnh nhận tùy thuộc vào sự trống rỗng của chúng ta. Tùy vào khả năng đáp lại của chúng ta đối với Đức Kitô, sức mạnh của Chúa trong ta từ khi lãnh nhận bí tích sẽ gia tăng. Không có giới hạn nào cho tình yêu của Thiên Chúa; không có giới hạn nào cho quyền năng ban ơn phúc của Ngài. Ngài ban cho một cách dư đầy, vượt xa mọi kỳ vọng, vượt xa mọi công trạng của chúng ta.
Chính chúng ta có thể làm giảm ơn lành của Ngài nếu không ở trong tình trạng thích hợp để lãnh nhận. Trong lịch sử Giáo Hội, chúng ta thường thấy nhiều phúc lành được tuôn đổ nếu chúng ta biết quên mình. Khả năng của giáo dân trong việc làm chứng cho Đức Kitô, trở nên chiến sĩ của Ngài trong thế giới, tùy thuộc vào lòng khiêm nhường, sự trống không bản thân để đón nhận Chúa.
Còn có một bài học khác. Một giáo lý viên đến lớp và thấy phòng học trống rỗng, cô nói: “Học sinh đâu cả rồi?” Vị linh mục nói với cô: “Con phải ra ngoài và tìm học sinh về.” Chỉ cần một chút cố gắng ngoài đường, cô đã có một lớp học. Xung quanh chúng ta đầy những “bình trống” có thể được đổ đầy với tình yêu của Đức Kitô. Nơi bạn bè hay hàng xóm, có “bình trống” nào không? Nếu bạn là luật sư, bạn có biết những “bình trống” trong nghề của mình không? Còn là bác sĩ, y tá, bạn có thấy bao người sống không mục đích và khốn cùng không?
Một luật sư đã chết tại Berlin như một người vô tín. Ông ta có một người cộng sự là người Công giáo. Khi người bạn bị bệnh nặng, vị luật sư Công giáo đến thăm và nói: “Anh sắp chết rồi; anh nên làm hòa với Thiên Chúa.” Người sắp chết đáp: “Nếu Đức Kitô trong Giáo Hội của anh có ý nghĩa nhỏ nhoi đến thế trong đời anh, đến nỗi anh chưa bao giờ nói với tôi về Ngài, thì làm sao Ngài có thể có ý nghĩa gì với tôi vào lúc chết?”
Một nhận thức sâu sắc về bí tích Thêm Sức sẽ khiến người ta khao khát cứu các linh hồn. Nếu chúng ta cứu được một linh hồn, chúng ta có cơ hội rất lớn để cứu lấy linh hồn mình. Bí tích Thêm Sức là một bí tích mang chiều kích xã hội rộng lớn. Nó liên kết chúng ta với thế giới, với tha nhân và với nhân loại. Nó buộc chúng ta không chỉ yêu mến Thiên Chúa mà còn phải yêu thương cả những người dường như không đáng yêu.
“Đồng hóa” nghĩa là gì? Tôi có thể nói ý nghĩa của nó cho bạn bằng cách kể lại việc tôi đã thất bại như thế nào.
Tôi đã đến thăm một trại phong ở châu Phi, nơi có khoảng năm trăm người phong. Tôi mang theo năm trăm cây thánh giá nhỏ bằng bạc. Người phong đầu tiên đến gặp tôi bị cụt cánh tay trái đến khuỷu. Anh ta giơ phần tay cụt lên, quanh vai là một tràng chuỗi Mân Côi. Anh đưa tay phải ra. Tôi chưa bao giờ thấy một bàn tay nào thối rữa và hôi hám như thế. Tôi giơ cây thánh giá bạc ra và để nó rơi xuống.
Cây thánh giá gần như bị nuốt chửng trong “ngọn núi lửa” của bệnh phong. Tôi đã cầm biểu tượng tình yêu của Đức Kitô đối với con người, biểu tượng của sự đồng hóa của Thiên Chúa với nhân loại đau khổ, và tôi đã từ chối đồng hóa mình với một người có lẽ mang trong thân thể ít sự mục rữa hơn trong linh hồn tôi.
Tôi là người phong thứ năm trăm lẻ một – và tệ hại nhất – vì tôi đã từ chối nhận người anh em ấy như chính mình. Khi ý nghĩ khủng khiếp ấy đến trong tôi, tôi nắm lấy bàn tay anh ta, tay trong tay, và làm điều đó cho tất cả những người phong trong trại. Bởi vì nhờ bí tích Thêm Sức, tôi phải yêu thương toàn thể nhân loại. Là linh mục, tôi phải đồng hóa mình với họ.
Sự đồng hóa đó có thể được thực hiện trong đời sống của bạn, nếu bạn luôn giữ biểu tượng của lửa trước mắt mình. Lửa có hai đặc tính lớn: ánh sáng và sức nóng. Ánh sáng là biểu tượng của chân lý; sức nóng là biểu tượng của tình yêu. Quá thường, chúng ta tách rời ánh sáng và sức nóng.
Chúng ta có chân lý nhưng ít nhiệt huyết và tình yêu. Kẻ thù thì không có chân lý, nhưng họ có nhiệt huyết và tình yêu cho lý tưởng của họ. Bí tích Thêm Sức mời gọi chúng ta giữ chặt chân lý và tình yêu đối với chân lý lại với nhau. Đó chính là điều Chúa nói khi Ngài phán: “Thầy đã đến ném lửa xuống thế gian, và Thầy ước mong biết bao cho lửa ấy bừng cháy lên” (Lc 12:49).
0 comments:
Post a Comment