Ai cũng khao khát Thiên Chúa. Thánh Âu-tinh đã nói: “Lạy Chúa, tâm hồn chúng con được dựng nên cho Ngài, và chúng mãi xao xuyến cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài” (Tự Thuật 1,1). Khi Chúa Giêsu nhìn thấy một đám đông rất đói, Người nói: “Ta chạnh lòng thương đám đông này; họ không có gì để ăn” (Mt 15,32). Điều Người ban cho họ trong dịp ấy chính là chủ đề của bài viết này: bí tích Thánh Thể.
Để sống đời sống thể lý, chúng ta phải được sinh ra. Để sống đời sống siêu nhiên, chúng ta cần bí tích Rửa Tội. Khi được sinh ra, chúng ta phải lớn lên về thể chất. Về mặt tâm linh, chúng ta phải đạt tới sự trưởng thành và đảm nhận trách nhiệm; và để điều đó xảy ra, chúng ta cần bí tích Thêm Sức. Giờ đây, chúng ta chạm đến một yếu tố mới của sự sống: muốn sống thì phải được nuôi dưỡng. Đời sống thần linh cũng vậy: để có sức sống thần linh, nó cần dưỡng nuôi; và để được nuôi dưỡng ấy, chúng ta cần đến bí tích Thánh Thể.
Thánh Thể là bí tích cao trọng nhất trong mọi bí tích, vì bí tích này chứa đựng chính Chúa Kitô, Đấng là Nguồn mạch sự sống. Đây là bí tích mà tất cả các bí tích khác đều hướng về. Hãy hình dung sáu mũi tên tạo thành một vòng tròn và tất cả đều hướng vào tâm điểm. Tâm điểm ấy là Thánh Thể; còn sáu mũi tên là các bí tích khác. Thánh Thể là mặt trời, còn các bí tích khác xoay quanh như những hành tinh. Các bí tích khác thông chia sức mạnh của Thánh Thể và được kiện toàn trong việc cử hành Thánh Thể. Đây là một bí tích siêu việt đến nỗi lý trí con người không thể tự mình nghĩ ra được; tình yêu Thiên Chúa thật sâu thẳm hơn chúng ta tưởng.
Mục đích của bộ sách này không phải để nói cho bạn biết bạn phải tin gì, nhưng là để giải thích đức tin cho bạn. Chúng ta bắt đầu mô tả và giải thích bí tích Thánh Thể bằng một hình ảnh từ sinh học. Mọi định luật tự nhiên đều phản chiếu các định luật thiêng liêng; chứ không phải ngược lại. Điều thiêng liêng là tiếng nói, còn điều tự nhiên chỉ là tiếng vọng. Hãy lấy thí dụ về luật hấp dẫn (không phải Luật Hấp dẫn của New Age): đây là định luật vật lý mô tả cách các vật chất đều hướng về trái đất như tâm điểm của chúng. Đồng thời, cũng có một định luật hấp dẫn thiêng liêng: mọi sự đều được lôi cuốn về Thiên Chúa. Hấp dẫn vật chất chỉ là hình bóng của hấp dẫn thiêng liêng.
Chúng ta đến với một định luật khác trong trật tự sinh học: định luật hiệp thông. Để sống, chúng ta phải ăn. Mọi sự sống đều tồn tại nhờ sự hiệp thông với một hình thức sự sống khác. Trên trái đất này, không có gì là không tuân theo định luật ấy theo cách này hay cách khác.
Sự sống của thực vật không hiệp thông với một hình thức sự sống khác, nhưng lệ thuộc vào những yếu tố khác để tồn tại. Thực vật hút nước, phosphat và carbonat từ lòng đất, và nhận phần lớn sự sống từ mặt trời. Nếu những chất ấy và ánh sáng mặt trời bị loại bỏ, khiến thực vật bị tước mất sự hiệp thông, thì nó sẽ chết đi.
Sự sống thực vật là một hình thức hiệp thông với những dạng sống thấp hơn, nhưng khi đi đến sự sống động vật, định luật này trở nên rõ ràng hơn: có nhu cầu dưỡng nuôi lớn hơn.
Động vật cần dưỡng nuôi từ trật tự khoáng vật như ánh sáng mặt trời và không khí, nhưng nguồn nuôi dưỡng chính của chúng đến từ thực vật. Ngay từ giây phút động vật được sinh ra, nó đã lên đường tìm kiếm lương thực. Bản năng nền tảng của nó là tìm kiếm thức ăn. Con vật đi lang thang trên cánh đồng, con cá bơi trong đại dương, con chim đại bàng lượn trên không trung—tất cả đều đang kiếm tìm bánh ăn hằng ngày. Cho dù không hề ý thức, chúng vẫn tuân theo định luật rằng: không thể có sự sống nếu không có dưỡng nuôi; sự sống chỉ tăng trưởng nhờ sự sống; và niềm vui của sự sống đến từ sự hiệp thông với một dạng sống khác.
Khi đến với con người, cũng một định luật ấy được áp dụng. Con người có thân xác giống như loài vật, và thân xác ấy đòi hỏi những thức ăn tinh tế hơn. Thân xác chúng ta không bằng lòng, như thực vật, với việc lấy thức ăn từ đất một cách thô sơ, chưa nấu chín và không gia vị. Chúng ta tìm đến sự tinh luyện của những sinh vật ở bậc cao hơn, qua đó thừa nhận định luật phổ quát của sự sống: mọi sinh vật đều cần được nuôi dưỡng. Sự sống sống nhờ sự sống, và niềm vui của sự sống được gia tăng nhờ sự hiệp thông với một hình thức sự sống khác.
Ở đây xuất hiện một điểm khác biệt: con người không chỉ có thân xác mà còn có linh hồn. Vì linh hồn mang bản tính thiêng liêng, liệu nó có cần lương thực thiêng liêng không? Không có gì trên trần gian này có thể hoàn toàn thỏa mãn cơn đói khát của linh hồn con người, bởi đó là một cơn đói không thuộc trần thế. Mọi sự trong vũ trụ đều đòi hỏi sự nuôi dưỡng tương xứng với bản tính của mình. Chim hoàng yến không dùng cùng một loại thức ăn như trăn khổng lồ, vì bản tính của chúng khác nhau. Linh hồn con người là thiêng liêng và đòi hỏi lương thực thiêng liêng. Vậy lương thực ấy là gì?
Chúa chúng ta thấy hàng ngàn người đang đi trong một đoàn hành hương mừng lễ Vượt Qua, vội vã tiến về Giêrusalem. Họ vất vả leo lên sườn đồi thành từng nhóm nhỏ. Nhiều người đã mệt lả vì những chặng đường dài, đặc biệt là các bà mẹ phải dắt theo con cái và những người già, những người đang khao khát được bồi dưỡng. Trái tim của Chúa chúng ta trào dâng lòng xót thương đối với họ. Người quyết định cho họ ăn.
Thánh Anrê, một trong các Tông đồ, chỉ cho Người thấy một cậu bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá. Chúa chúng ta đã nhận lấy những thứ ấy. Hãy lưu ý cách Tin Mừng mô tả việc Chúa đã làm, và sự song song giữa mô tả này với Bữa Tiệc Ly. Chúng ta trích Tin Mừng theo thánh Máccô: “Người cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ bánh ra và trao cho các môn đệ” (Mc 6,41).
Với năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá ấy, Chúa chúng ta đã nuôi ăn đám đông hàng ngàn người, thực hiện một phép lạ hóa bánh ra nhiều. Một hạt lúa mì được gieo xuống đất thì sinh sôi nảy nở. Bánh và cá, nhờ một tiến trình được Thiên Chúa thúc đẩy cách nhiệm mầu, đã được nhân lên cho đến khi, như Tin Mừng nói, mọi người đều ăn no nê (Mc 6,42).
Bạn có nghĩ rằng nếu Chúa chúng ta phát tiền thay vì phát bánh, thì Tin Mừng có thể nói rằng mọi người đều được no đủ hay không?
Hiệu quả của phép lạ này thật kinh ngạc, vì họ thấy tỏ tường bánh và cá cứ tiếp tục gia tăng. Dân chúng nhìn thấy cơ hội để tôn Chúa Giêsu lên làm vua, một vị vua sẽ mang lại phồn vinh và dư dật. Điều mà con người mong muốn, ngay cả từ Thiên Chúa đang bước đi trên trần gian này, chính là sự thịnh vượng kinh tế. Điều đó gần giống với cơn cám dỗ của Satan trên núi. Hãy nhớ rằng Satan đã xin Chúa chúng ta biến đá thành bánh, để Người trở thành một đấng cung cấp của cải vật chất (Mt 4,3).
Dân chúng muốn Chúa chúng ta trở thành một vị vua kinh tế, một vị vua chính trị, người sẽ làm đầy dạ dày của họ. Đối với họ, nếu Người làm điều đó thì Người sẽ có quyền lực. Nhưng Chúa chúng ta, biết rằng họ muốn tôn Người lên làm vua, đã lánh vào núi một mình. Họ không thể làm cho Người trở thành vua, vì Người sinh ra đã là Vua!
Có thể việc Chúa rút lui khỏi ý tưởng làm vua trần thế này đã làm Giuđa thất vọng. Bạn có biết dấu hiệu đầu tiên về sự sa ngã của Giuđa xuất hiện khi Chúa Giêsu bắt đầu loan báo và hứa ban Thánh Thể. Và sự sa ngã ấy bộc lộ trọn vẹn khi Chúa trao ban Thánh Thể trong Bữa Tiệc Ly. Chính Thánh Thể đã làm cho Giuđa vỡ mộng. Khi ấy, Giuđa hiểu rằng Chúa Giêsu sẽ không trở thành vị vua kinh tế mà hắn mong đợi.
Sáng hôm sau, Chúa Giêsu được thấy ở Caphácnaum. Dân chúng thắc mắc không hiểu Người đến đó bằng cách nào. Khi họ hỏi, Người đã khiển trách họ vì họ coi tôn giáo như một nhà bếp từ thiện. Người nói, theo Tin Mừng thánh Gioan: “Thật, Tôi bảo thật các ông: các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy các dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê” (Ga 6,26). Với những lời này, Chúa cho thấy họ đã không đón nhận phép lạ như dấu chỉ về thần tính của Người. Họ tìm Người vì lợi ích, chứ không tìm đến Người về chính Người.
Chúa tiếp tục trách họ, và đây là lời Người: “Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận” (Ga 6,27).
Chúa Giêsu đặt bánh hư nát đối nghịch với bánh đem lại sự sống đời đời. Người cảnh báo họ đừng theo Người như con lừa chạy theo củ cà rốt. Để nâng tâm trí còn nặng tính xác thịt của họ lên tới lương thực vĩnh cửu, Người mời gọi họ tìm kiếm thứ lương thực đã được Chúa Cha đóng ấn. Điều này gợi lại tập tục phương Đông, nơi bánh thường mang dấu ấn của người thợ làm bánh. Trong truyền thống Talmud, từ dùng để chỉ người thợ làm bánh cũng gắn liền với ý niệm đóng ấn. Cũng như các bánh lễ dùng trong Thánh Lễ mang hình Con Chiên hay thánh giá, Chúa Giêsu ám chỉ rằng bánh Người ban sẽ mang chính dấu ấn của Chúa Cha.
Tuy nhiên, họ vẫn chưa thỏa mãn và đòi hỏi thêm bằng chứng rằng Chúa Cha thực sự đã ủy nhiệm cho Người. Theo họ, việc Người ban bánh vẫn chưa phải là điều phi thường. Họ lập luận: “Môsê đã cho cha ông chúng tôi bánh bởi trời” (Xh 16,1–5). Ý ngầm của họ là: “Làm sao Ông có thể chứng tỏ mình lớn hơn Môsê?” Họ hạ thấp phép lạ của Chúa Giêsu bằng cách so sánh với manna trong sa mạc. Chúa Giêsu chỉ nuôi họ một lần, còn Môsê đã nuôi dân suốt bốn mươi năm, nên họ xem nhẹ phép lạ Người đã làm.
Chúa đón nhận thách đố. Người nói manna mà họ nhận được không phải là bánh đích thực từ trời, cũng không đến từ trời theo nghĩa trọn vẹn. Nó chỉ nuôi một dân tộc, trong một thời gian ngắn, và Môsê không phải là người ban manna—Chúa Cha mới là Đấng tặng ban. Còn bánh Người sẽ ban thì nuôi sống đến đời đời. Rồi Người nói với họ: “Bánh đích thực từ trời là bánh Chúa ban”. Họ liền xin: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi!” Và Người đáp: “Chính Tôi là Bánh Trường Sinh” (Ga 6,34–35).
Người làm cho bóng dáng Thập Giá xuất hiện. Bánh phải bị bẻ ra. Đấng từ Thiên Chúa mà đến phải chịu chết trên Thập Giá vì tội lỗi của trần gian. Đây là lời của Người: “Vậy bánh Ta sẽ ban là gì? Chính là thịt Ta, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51).
Bấy giờ người Do Thái bắt đầu tranh luận với nhau và nói: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?” (Ga 6,52). Trước phản ứng ấy, Chúa Giêsu nói với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông : nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53).
Hãy lưu ý rằng Người trình bày chính mình như Đấng hiến trao bản thân trong cái chết. Thịt và máu Người sẽ ban không chỉ là thịt và máu mà họ đang thấy trước mắt, mà là thịt và máu sẽ được tôn vinh, được đưa lên trời và ngự bên hữu Chúa Cha. Người nói rằng Người sẽ ban chính mình cho thế gian.
Họ bắt đầu hiểu rằng những con chiên họ thấy được dẫn lên Giêrusalem để đổ máu chỉ là biểu tượng của Chiên Vượt Qua, Chiên Thiên Chúa. Rồi Người nói họ phải sống nhờ Người như Người sống nhờ Chúa Cha: “Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57). Chúa nói rằng sự sống truyền từ Cha sang Con, và từ Con—khi Người bước vào vinh quang—sẽ được truyền sang chúng ta.
Họ biết đó là một lời khó nghe. Các môn đệ hiểu Người nói mình là Bánh Hằng Sống và chúng ta phải được nuôi bằng chính sự sống của Người. Họ hiểu cả lý do khiến Giuđa vấp ngã. Một số môn đệ bỏ đi, nói: “Lời này chói tai quá! Ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60). Chúa quay sang Phêrô, tảng đá, và nói: “Cả anh nữa, anh có muốn bỏ đi không?” (Ga 6,67). Và Phêrô thưa: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).
Chúa chúng ta sẽ không bao giờ để các môn đệ bỏ đi nếu họ hiểu lầm Người. Điều Người hứa trong ngày hôm ấy, Người đã thực hiện vào đêm Bữa Tiệc Ly. Chỉ cần nhắc lại đêm đặc biệt đó là đủ. Người quy tụ tất cả các Tông đồ chung quanh mình. Ngày hôm sau, Người sẽ chịu chết. Người thiết lập một việc tưởng niệm cuộc Tử nạn, Phục sinh và Thăng thiên của Người.
Đấng đã nói rằng Người là Bánh Trường Sinh, giờ đây, theo lời Tin Mừng, cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà nói: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em” (Lc 22,19). Hãy lưu ý: Người nói trên bánh “Đây là Mình Thầy”. Người không nói: “Điều này tượng trưng cho Mình Thầy”, mà nói: “Đây là Mình Thầy.” Người cũng nói “hiến tế vì anh em”, tức là hiến ban trên Thập Giá.
Rồi Người cầm lấy chén rượu trong tay và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước Mới, đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Mt 26,28). Trên chén rượu, Người nói: “Đây là Máu Thầy”, không phải “điều này tượng trưng”, mà là “là”. Như Giao Ước Cũ được phê chuẩn bằng máu, thì nay Người phê chuẩn Giao Ước Mới bằng chính Máu của Người.
Chúa chúng ta có thật sự muốn nói như thế không? Chúng ta tin là có. Điều làm cho đức tin của chúng ta trở nên độc đáo chính là điều này: chúng ta không chọn lựa lời nào của Chúa để tin và bỏ lời nào để không tin. Khi Người nói: “Anh em tha tội cho ai thì tội người ấy được tha” (Ga 20,23), chúng ta tin. Đó là lý do có bí tích Hòa Giải. Khi Người gọi Phêrô là Tảng Đá, chúng ta tin. Khi Người nói: “Đây là Mình Thầy, đây là Máu Thầy”, chúng ta tin.
Định luật hiệp thông tiếp tục vận hành khắp vũ trụ. Nếu thực vật có thể nói, chúng sẽ nói với loài vật: “Nếu anh không ăn tôi, anh sẽ không có sự sống nơi mình.” Nếu loài vật có thể nói với con người, chúng sẽ nói: “Nếu anh không ăn tôi, anh sẽ không có sự sống nơi mình.” Đức Kitô nói với chúng ta và phán: “Nếu anh em không ăn Ta, anh em sẽ không có sự sống nơi mình.”
Định luật biến đổi vẫn chi phối mọi sự. Các chất hóa học được biến đổi thành thực vật, thực vật thành động vật, động vật thành con người, và con người được biến đổi nên Đức Kitô. Người đã ban sự sống của Người để nâng đỡ sự sống của chúng ta, và niềm vui lớn nhất trên trần gian chính là được hiệp thông với chính sự sống của Thiên Chúa.
0 comments:
Post a Comment