Shakespeare nói về những nỗi khổ “mà xác phàm phải thừa hưởng” (Hamlet 3,1). Những nỗi khổ và bệnh tật ấy là điều chúng ta nói tới trong nghi thức xức dầu khi hấp hối hay xức dầu bệnh nhân khi nghiêm trọng. Bí tích này cũng được gọi là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân.
Bệnh tật tác động đến chúng ta cả về thể lý lẫn tâm lý, trước hết là bằng cách cắt đứt nhiều dịp dẫn đến tội lỗi. Ý chí phạm tội chắc chắn bị suy yếu khi thân xác trở nên đau yếu. Bệnh tật cũng làm lộ rõ tính độc đáo của mỗi nhân vị. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng: “tôi là chính tôi”; cái tôi đối diện với chính mình, linh hồn nhìn thấy chính nó. Bệnh tật phá vỡ ảo tưởng coi khoái lạc là tất cả, coi rằng điều duy nhất đáng làm là tiếp tục xây những kho lẫm lớn hơn, như thể cuộc sống là vô nghĩa nếu không đầy kích thích. Khi ấy, chúng ta điều chỉnh lại hệ giá trị của mình và bắt đầu hiểu lời Chúa chúng ta: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn mình nào có ích chi?” (Mt 16,26).
Bệnh tật có thể dẫn đến cái chết. Có một sự khác biệt rất lớn giữa cách người ngoài Kitô giáo đối diện với cái chết và người theo Kitô giáo. Người ngoại giáo sợ mất thân xác; người Kitô hữu sợ mất linh hồn. Đối với Kitô hữu, sự sống thể lý và thế gian không phải là tất cả. Thế gian này đối với họ chỉ là giàn giáo; là giàn giáo để các linh hồn leo lên Nước Trời. Khi linh hồn cuối cùng đã leo lên, giàn giáo ấy sẽ bị tháo dỡ và thiêu hủy trong lửa hừng hực—không phải vì thế gian là xấu xa, mà vì công việc của nó đã hoàn tất.
Còn một khác biệt nữa giữa người ngoài Kitô giáo và người Kitô hữu khi nói đến cái chết. Người Kitô hữu không bao giờ cảm thấy toàn bộ hiện hữu của mình bị đe dọa bởi cái chết; còn người ngoại giáo thì có. Người ngoại giáo luôn tiến về phía trước hướng đến cái chết như thể đang bước tới một vực thẳm. Người Kitô hữu thì bước lùi khỏi cái chết. Họ bắt đầu từ sự thật: “Một ngày nào đó tôi sẽ chết; một ngày nào đó tôi phải trả lẽ về việc quản lý đời mình.” Biết rằng mình sẽ chết, họ chuẩn bị đời sống mình ngay từ bây giờ để có thể bước vào Nước Trời. Điều tồi tệ nhất có thể xảy đến với một Kitô hữu không phải là cái chết. Bi kịch lớn nhất là đã không yêu thương đủ.
Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu nền tảng của bí tích do chính Chúa chúng ta thiết lập: Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Các ngôn sứ đã nói nhiều về Đức Giêsu Kitô, đã mạc khải và loan báo Người như Đấng chữa lành bệnh tật. Trong vô số đoạn Tân Ước, chúng ta đọc được những lời như thế này: “Đức Giêsu đi khắp nơi giảng dạy, rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa mọi bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 4,23). Trong Tin Mừng Mác-cô, khi Chúa chúng ta ở Ghen-nê-sa-rét, Phúc âm kể rằng: “Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người ; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi” (Mc 6,56). Cũng như người phụ nữ bị băng huyết suốt mười hai năm—bà đã nói: “Tôi mà chạm được vào áo Người thôi, tôi sẽ được khỏi” (Mc 5,28).
Tin Mừng không thuật lại hết mọi phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu nhưng thánh Gioan kết thúc Tin Mừng của mình nói rằng nếu viết ra tất cả các phép lạ Chúa Giêsu đã làm, thì cả thế gian cũng không đủ chỗ chứa các sách ấy. Điều cốt yếu là: Chúa Giêsu, với tư cách là Con Thiên Chúa làm người, có quyền năng chữa lành bệnh tật.
Sau Phục Sinh, Chúa Giêsu đã thông ban quyền năng ấy cho các Tông Đồ. Tin Mừng thánh Mác-cô viết: “Họ sẽ đặt tay trên các bệnh nhân và các bệnh nhân sẽ được khỏi” (Mc 16,18). Rồi trong Tin Mừng thánh Lu-ca, chúng ta đọc về các Tông Đồ rằng: “Các ông đi rao giảng và chữa lành khắp nơi” (Lc 9,6). Chúa đã thông ban quyền năng ấy bằng cách nào? Người dạy các Tông Đồ chữa lành bằng dầu, vì Tin Mừng nói: “Các ông xức dầu cho nhiều người đau yếu và chữa họ khỏi bệnh” (Mc 6,13).
Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Chữa Lành Bệnh Nhân, hay còn gọi là Xức Dầu khi hấp hối, và trao truyền bí tích ấy cho Hội Thánh của Người. Chúng ta thấy Hội Thánh sơ khai đã cử hành bí tích này đúng như cách chúng ta vẫn cử hành hôm nay. Thánh Giacôbê, một trong các Tông Đồ, viết trong thư của ngài rằng:
“Ai trong anh em đau yếu ư ? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến ; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh ; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,14–15).
Đây là mô tả sớm nhất chúng ta có về Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Hãy lưu ý rằng Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ dùng dầu. Cũng như trong các bí tích khác, Chúa dùng bánh và nước, thì ở đây Người dùng dầu, bởi vì dầu vốn được sử dụng để tăng cường sức lực thân xác. Các vận động viên thời xưa thường xức dầu lên thân thể mình, và Chúa đã dùng chính điều ấy cho bí tích này.
Vậy dầu này từ đâu mà có? Vào Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Giám mục sẽ làm phép các dầu. Có ba loại dầu được làm phép trong ngày ấy. Dầu dành riêng cho bí tích này được phân phát đến các giáo xứ khác nhau, và trong suốt năm, các linh mục dùng chính dầu ấy để xức cho bệnh nhân. Khi giám mục làm phép và thánh hiến các dầu này, ngài đọc lời nguyện đặc biệt sau đây trên dầu: Lạy Chúa là Cha mọi nguồn an ủi, Chúa đã muốn nhờ Con Chúa mà chữa bệnh tật những người đau yếu. Chúng con nài xin Chúa đoái thương nhận lời chúng con tin tưởng cầu nguyện. Xin ban Thánh Thần Chúa, Đấng an ủi từ trời xuống trên chất dầu này mà Chúa đã thương cho cây xanh tươi sản xuất, hầu bổ dưỡng thân xác để nhờ ơn phúc lành của Chúa, những ai được xức dầu đều lãnh nhận ơn hộ vực thân xác và tâm hồn, được khỏi mọi đau đớn, bệnh hoạn tật nguyền. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con dầu Chúa đã chúc phúc nhân danh Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con.
Người bệnh, cũng như có một bí tích cho người bị thương cần một bí tích dành riêng cho họ không? Thật ra có một sự khác biệt rất lớn giữa bị thương và bị bệnh, giữa việc bị dao cắt và mắc bệnh đậu mùa. Chúa chúng ta đã thiết lập một bí tích cho những vết thương thiêng liêng của chúng ta, đó là Bí tích Hòa Giải. Và Người cũng có một bí tích dành cho cơn bệnh của thân xác, thân xác vốn kết hợp mật thiết với linh hồn. Vẻ đẹp của bí tích này là: tuy ân sủng được thông ban cho linh hồn, nhưng nó tác động đến thân xác một cách rất đặc biệt.
Bí tích này không hoạt động theo cách mà thần tính của Chúa chúng ta đã tác động đến nhân tính Người nhận lấy từ Đức Maria—không phải như thế. Nhưng cách nào đó đầy mầu nhiệm, hoa trái của Cuộc Khổ Nạn của Chúa tuôn đổ từ linh hồn vào thân xác, bởi vì không một phần nào của thân xác mà lại không từng là phương tiện của tội lỗi.
Bí tích đặc biệt này muốn xóa bỏ mọi dấu vết của tội lỗi và, cách nào đó, phục hồi thân xác lại tình trạng khỏe mạnh, nếu đó là ý Chúa. Không một tội nào mà lại không đi qua thân xác—không một tội nào. Ghen tị ư? Chắc chắn là qua đôi mắt: bạn thấy người khác khá giả hơn và muốn “bằng bạn bằng bè.” Kiêu ngạo ư? Đôi tai có thể đã can dự: ai đó nói rằng bạn thông minh hay xinh đẹp. Say sưa, ngoại tình, trộm cắp, phạm thánh—tất cả đều liên quan, cách này hay cách khác, đến thân xác, là đối tượng của bí tích này, kể cả đôi chân. Có những lần bạn đã bước vào dịp tội. Thậm chí cả cái mũi! Mũi cũng có thể góp phần vào tính phù hoa: bạn ngửi thấy mùi thức ăn ngon và đã ăn quá độ. Việc sử dụng nước hoa cũng có thể hàm chứa không ít sự phù hoa.
Khi tội lỗi đi vào linh hồn qua thân xác, nó luôn để lại dấu vết, giống như một số bệnh tật. Chúng để lại những ký ức nhỏ—không phải là những ký ức mà ta mong muốn. Vi-rút để lại những tàn tích của chính chúng; đó là lý do có những bệnh không mắc lại lần nữa. Một số bệnh còn để lại những dấu tích rõ rệt, đôi khi rất khó coi, như bệnh đậu mùa. Tội lỗi đi vào linh hồn qua thân xác, và theo thời gian, thân xác trở nên như ống khói, qua đó lửa và khói từ lò sưởi linh hồn bốc lên; ống khói dần đầy bồ hóng. Những con tàu đi trên đại dương bám đầy hà; cống rãnh thì bị tắc nghẽn. Bạn không thể để tội lỗi tuôn chảy qua đôi mắt, đôi tai, cái mũi và đôi chân mà các giác quan ấy không trở nên bít tắc, bồ hóng, nhơ bẩn, đầy hà.
Hội Thánh thanh luyện các lối ngõ của tội lỗi: mắt, tai, mũi, tay, môi và chân. Việc thanh luyện này diễn ra nhờ việc xức dầu và lời nguyện của linh mục. Trước hết, linh mục xức dầu trên trán, và nói:
Nhờ việc xức Dầu Thánh này và nhờ lòng từ bi nhân hậu Chúa, xin Chúa dùng ơn Thánh Thần mà giúp đỡ con. Amen.
Rồi linh mục xức dầu trên tay, và nói:
Xin Chúa giải thoát con khỏi mọi tội lỗi, và thương làm cho con thuyên giảm. Amen.
Xức Dầu khi hấp hối, hay Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, được ban cho một linh mục, ngài luôn được xức dầu ở mu bàn tay. Còn giáo dân thì luôn được xức dầu ở lòng bàn tay. Lý do là vì lòng bàn tay của linh mục đã được xức dầu khi ngài được truyền chức linh mục.
Bí tích Xức Dầu khi hấp hối chỉ được ban trong trường hợp bệnh nặng. Người lãnh nhận phải ở trong tình trạng nguy tử do bệnh tật. Không cần phải chắc chắn là sắp chết. Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân không được ban cho binh lính ra trận: họ có nguy cơ tử vong, nhưng không phải do bệnh. Nếu họ bị thương, thì có thể được xức dầu.
Bí tích này không nên trì hoãn cho đến khi bệnh nhân đã bất tỉnh và không còn có thể hiệp thông trong lời cầu nguyện. Bí tích nên được ban khi người bệnh còn có thể nâng tâm hồn mình lên quyền năng chữa lành của Đức Kitô, Đấng đang làm mới các giác quan, linh hồn và chữa lành hậu quả của tội lỗi nơi họ.
Bí tích này không có nghĩa là người lãnh nhận chắc chắn sẽ chết. Nhiều người tin rằng khi linh mục được mời đến ban bí tích này thì bệnh nhân đã hết hy vọng. Công đồng Trentô đã bác bỏ quan niệm coi Xức Dầu khi nghiêm trọng chỉ là bí tích dành cho người hấp hối.
Trong việc cử hành bí tích này, không hề có nhắc đến cái chết. Đây không nhất thiết là bí tích dành cho người sắp chết; đây là bí tích dành cho người bệnh. Sau đây là một lời nguyện mà linh mục đọc sau khi đã xức dầu trên tay, chân và các phần khác của thân thể. Hãy lắng nghe lời nguyện này và lưu ý cẩn thận rằng không có từ “chết” nào được dùng. Trọng tâm của lời nguyện là việc phục hồi người bệnh:
Lạy Đấng Cứu Chuộc chúng con, xin dùng ơn Chúa Thánh Thần mà chữa lành những đau đớn của người anh (chị) em chúng con đây, xin cũng hàn gắn những thương tích và thứ tha tội lỗi, xin làm tiêu tan mọi đau khổ xác hồn, và xin thương hoàn lại sức khoẻ dồi dào trong ngoài cho người anh (chị) em này, để khi đã bình phục nhờ lượng từ bi Chúa, người anh (chị) em này lại có thể chu toàn nghĩa vụ như trước. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.
Mặc dù bí tích được ban trong một thời điểm nghiêm trọng, nhưng mối quan tâm của nó là bệnh tật hơn là cái chết. Vì thế, bí tích này hoàn toàn có thể được gọi là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Ân sủng luôn được ban cho linh hồn. Con người chúng ta là một toàn thể hiệp nhất, gồm thân xác và linh hồn, và trong bí tích này, ân sủng có tác động đặc biệt đến thân xác. Dùng một thuật ngữ hiện đại, ta có thể gọi đây là bí tích mang tính tâm–thể, bí tích của thân xác và linh hồn.
Bí tích này hướng đến việc chữa lành thân xác, không theo nghĩa lâm sàng, bởi vì Hội Thánh nhìn thân xác khác với y học. Đối với Hội Thánh, thân xác không chỉ là một cơ thể sinh học; nó còn là đền thờ của Thiên Chúa, là nơi cư ngụ của sự sống thần linh. Chính vì thế thánh Phaolô nói rằng thân xác là cho Chúa.
Do đó, bí tích này nhắm đến thân xác: xin ban cho thân xác sự nâng đỡ, để nó không cản trở tình yêu của linh hồn đối với Thiên Chúa. Chúng ta sẽ thiếu sót nếu không nhận ra vẻ đẹp của bí tích này. Tôi tự hỏi liệu chúng ta có thực sự diễn tả được đức tin mà lẽ ra chúng ta phải có hay không. Thánh Giacôbê đã nói đến đức tin mạnh mẽ cần có khi lãnh nhận bí tích này chăng? (Gc 1,5–8). Khi Vị Lương Y thần linh đến với chúng ta, chúng ta nên chú tâm vào Người hơn là vào bệnh tật của mình.
Bệnh tật không loại trừ sự có thể đến của cái chết, vì tất cả chúng ta đều đang ở dưới án phạt của sự chết. Nếu chúng ta thực sự lâm nguy tử, thì chúng ta lãnh nhận bí tích dành cho người sắp chết, đó là Của Ăn Đàng (Viaticum). Của Ăn Đàng là Thánh Thể được ban cho người hấp hối. “Viaticum” có nghĩa là lương thực cho cuộc hành trình—mang Chúa theo mình trên đường đi.
Nếu theo thánh ý Thiên Chúa, cái chết không còn được trì hoãn, thì trong bí tích này—vì các giác quan của chúng ta đã được thanh luyện—chúng ta được kết hợp với cái chết của Đức Kitô. Chúng ta đã được chịu phép rửa trong cái chết của Người. Thánh Thể nhắc chúng ta nhớ đến cái chết của Người. Ở đây, chúng ta được kết hợp với Người cách đặc biệt. Chúng ta thưa cùng Chúa trên thập giá: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Cái chết của chúng ta được kết hợp với cái chết của Người, và đồng thời chúng ta cũng được kết hợp với Sự Phục Sinh của Người.
Bí tích này loan báo trước việc xức dầu của vinh quang mai sau. Bí tích ấy cho chúng ta được nếm trước sự phục sinh của thân xác, bằng cách tác động đến tư tưởng và ước muốn của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta có thể ra trước mặt Thiên Chúa với toàn bộ thân xác mình, đã được thanh tẩy đến từng ngóc ngách.
Bí tích tuyệt đẹp này bắc một nhịp cầu giữa đất và trời. Nỗi đau buồn sâu xa nhất của chúng ta được kết hợp với khát vọng hướng về Thiên Chúa. Nếu bạn muốn chứng kiến bí tích này, hãy cùng chúng tôi—những linh mục—vào phòng bệnh khi chúng tôi thi hành thừa tác vụ cho người hấp hối. Hãy cầu xin để bạn đừng bao giờ chết mà không có bí tích này.

0 Nhận xét