Ngăn chặn sự sống

Đề tài được gọi là “birth control / kiểm soát sinh sản”, nhưng cách dùng từ là sai lạc, bởi vì những người thực hành điều ấy thực ra không tin vào việc sinh sản, cũng chẳng tin vào sự tự chủ. Chúng ta sẽ không dùng những từ này nữa. Điều Giáo hội muốn làm là trả lời những phản đối liên quan đến chủ đề này, cũng như đến mục đích của hôn nhân.

Các đôi vợ chồng thường nói: “Chúng tôi không thể nuôi thêm con cái.” Những người nói như vậy có lẽ không ý thức đến nguyên tắc nghiêm trọng mà họ đang công bố, đó là việc đặt ưu tiên của kinh tế lên trên con người. Hãy thử áp dụng nguyên tắc này vào những lĩnh vực khác của đời sống. Giả sử một người chồng nói rằng mình không còn đủ khả năng chu cấp cho vợ nữa — vậy anh ta có quyền bắn chết vợ mình hay không?

Điều bị quên lãng khi người ta đặt kinh tế lên hàng đầu là: khi đặt mình trong phạm vi tình yêu của Thiên Chúa chúng ta chỉ lãnh nhận các phúc lành. Một đứa trẻ lang thang ngoài đường không được ăn uống, quần áo và chỗ ở như một đứa trẻ trong gia đình, bởi vì nó ở ngoài phạm vi của tình yêu. Cũng vậy, khi chúng ta tự đặt mình ra ngoài phạm vi và môi trường của tình yêu Thiên Chúa, chúng ta tự loại trừ sự trợ giúp thần linh vốn dĩ sẽ đến với mình. 

Những người đặt kinh tế lên hàng đầu thực ra không quan tâm đến việc tiết kiệm hay tạo dựng, mà chỉ quan tâm đến tiêu xài — điều dẫn đến sự bế tắc của đời sống. Những đam mê nhàn rỗi, khát vọng hưởng thụ, ham muốn có thêm tín dụng, quần áo và ích kỷ chi phối triết lý sống của họ. Họ tin rằng mình tự do thao túng sự sống ngoài luật lệ của Thiên Chúa, vì họ cho rằng các luật lệ về hôn nhân sinh hoa kết trái chỉ ràng buộc người Công giáo.

Người ta nói rằng người Công giáo chống lại mọi hình thức làm cản trở sự sống con người trong hôn nhân; nhưng sự thật làg những người không phải Công giáo cũng không có tự do nào hơn để vi phạm các luật tự nhiên của Thiên Chúa. Thực ra, Giáo Hội Công giáo chỉ đang bảo vệ luật tự nhiên. Có người cho rằng nguyên tắc hôn nhân phải sinh hoa trái, mà Giáo Hội nhất quyết duy trì, chỉ là một giáo lý riêng của Công giáo. Giả sử phần lớn nhân loại đều bị bịt mắt và nhét tai. Chẳng bao lâu sẽ có một thông điệp của Đức Giáo Hoàng lên tiếng phản đối, và Giáo Hội sẽ nói: “Không đúng khi bịt mắt hay nhét tai. Lý trí cho chúng ta biết rằng mắt được tạo dựng để nhìn, và tai được tạo dựng để nghe. Các cơ quan ấy phải được phép thực hiện chức năng mà Thiên Chúa đã tạo dựng cho chúng.”

Nhiều người sẽ mỉa mai: “À, thì ra Giáo Hội Công giáo chống lại việc bịt mắt.”

“Và cũng chống lại việc bịt tai.”

Thiên Chúa đã tạo dựng người nam và người nữ, chồng và vợ, theo một trật tự nhất định, và các bộ phận thân xác của họ cần được tôn trọng trong chức năng tự nhiên của mình. Chúng ta muốn biến thế giới này thành điều gì: một vũ trụ nơi người ta cầm đàn vĩ cầm và cây vĩ nhưng không bao giờ tạo ra âm nhạc; một vũ trụ nơi các nhà điêu khắc cầm đục mà không bao giờ chạm vào đá cẩm thạch để tạc nên tượng? Chúng ta sẽ có những cây trổ hoa mà không bao giờ kết trái sao? Phải chăng sự sống và tình yêu bị giản lược thành một thứ nội dung hời hợt, bề mặt, không hoa trái và không mục đích?

Chúng ta luôn phải đứng trên lập trường tích cực và khẳng định hai giáo huấn cao cả: tình yêu trong hôn nhân tạo nên sự hiệp nhất sâu xa nhất, và sự hiệp nhất sâu xa của tình yêu, tự bản chất, hướng đến việc nhập thể. Chính điểm này cho thấy rằng không thể có sự kết hợp tính dục ngoài hôn nhân. 

Bạn có bao giờ nhận thấy rằng Kinh Thánh không nói về hôn nhân bằng ngôn ngữ của tính dục, nhưng luôn bằng ngôn ngữ của sự “biết” không? Sách Sáng Thế nói: “Ađam đã biết vợ mình là Evà, và bà đã thụ thai” (St 4,1). “Đã biết bà.” Khi sứ thần Gabriel loan báo cho Đức Trinh Nữ rằng Mẹ được chọn làm Mẹ của Chúa chúng ta, Mẹ hỏi: “Việc ấy xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến người nam?” (Lc 1,34). Ở đây không phải là sự thiếu hiểu biết về việc thụ thai, nhưng là một mầu nhiệm sâu xa hơn. Thánh Phêrô nói: “Anh em là những người chồng hãy chung sống với vợ mình cách hiểu biết (dwell with them according to knowledge) (1 Pr 3,7).

Tại sao hôn nhân lại được Kinh Thánh diễn tả bằng từ “biết”? Bởi vì một trong những hình thức hiệp nhất sâu xa nhất trong trật tự tự nhiên là sự hiệp nhất phát sinh từ tri thức. Bạn nhìn một bông hoa hay một cái cây và bạn “biết” chúng. Dạng hiệp nhất gần gũi nhất trong trật tự tự nhiên là giữa người biết và điều được biết. Không có gì gần gũi hơn sự kết hợp giữa trí tuệ của bạn và điều bạn biết.

Kinh Thánh so sánh hôn nhân với tri thức bởi vì hôn nhân tạo nên sự hiệp nhất và đòi hỏi sự trung tín. Khi một người nam “biết” một người nữ, một sự hiệp nhất được tạo thành giữa hai người, giống như sự hiệp nhất giữa trí tuệ và điều được biết. Họ là hai trong một thân xác; từ thời điểm đó, không điều gì xảy đến với người nữ mà lại không liên quan đến người nam. Người nam làm cho người nữ trở thành người nữ; người nữ làm cho người nam trở thành người nam. Cũng như ta luôn mang ơn ngôi trường đã truyền cho ta tri thức, con người luôn mang ơn người đã tạo nên sự hiệp nhất này. 

Những biến đổi tâm lý phát sinh từ đó rất lớn, và cả những biến đổi thể lý cũng vậy. Người nữ không bao giờ có thể trở lại tình trạng trinh nguyên; người nam không bao giờ có thể trở lại tình trạng “không biết”. Từ sự nên một của họ phát sinh sự trung tín, chừng nào cả hai còn mang thân xác. Họ không bao giờ có thể quay lại tình trạng trước đó. Vì thế, đây không chỉ là một kinh nghiệm nhất thời; họ có một mối dây ràng buộc tiếp tục tồn tại mãi mãi. Trong đời sống hôn nhân, sự hiệp nhất này là vô cùng sâu xa. Mọi tình yêu đều hướng đến một sự nhập thể.

Chúng ta đã nói rằng tình yêu giữa chồng và vợ tạo nên một mối dây hiệp nhất sâu xa, qua đó tình yêu tự nhiên lan tỏa. Mọi điều tốt lành đều có khuynh hướng tự lan tỏa. Mặt trời lan tỏa chính mình qua ánh sáng và hơi ấm. Hoa lan tỏa chính mình qua hương thơm. Loài vật lan tỏa chính mình qua việc sinh sản đồng loại.

Con người là điều tốt lành; trí tuệ con người là điều tốt lành, và trí tuệ lan tỏa chính mình qua tư tưởng. Thiên Chúa lan tỏa chính mình, không chỉ trong công trình tạo dựng, mà còn từ muôn thuở. Thiên Chúa có một Người Con hằng hữu. Nguồn mạch của mọi sự sinh thành nằm nơi chính Thiên Chúa. Việc sinh sản là sự bắt chước Thiên Chúa, Đấng từ muôn thuở có một Người Con hằng hữu, và có thể nói với Người Con ấy, trong sự vĩnh cửu không tuổi tác: “Con là Con của Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con”— một “hôm nay” không khởi đầu cũng không kết thúc (Hr 1,5).

Quyền năng sinh thành hằng hữu trong Thiên Chúa được thông ban cho trí tuệ con người và được thông ban cho thân xác của vợ chồng. Chính Thiên Chúa đã nói:“Phải chăng Ta cho đứa con chào đời, chính ta lại khô cằn?" (Is 66,9) (dịch từ Douay-Rheims Bible). Quyền năng sinh sản là một ân huệ từ trên cao. Động lực sâu xa của việc sinh con bắt nguồn từ Ba Ngôi Thiên Chúa và từ mầu nhiệm Nhập Thể, bởi vì mọi tình yêu đều kết thúc trong một sự nhập thể — ngay cả tình yêu của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương con người đến nỗi đã mặc lấy xác phàm. Chúa Giêsu là gì, nếu không phải là tình yêu của Thiên Chúa được nhập thể, là tình yêu của Thiên Chúa đang bước đi trên trần gian trong hình dạng và thân phận con người?

Bạn thấy tình yêu đẹp biết bao! Nếu phải định nghĩa tình yêu dưới ánh sáng của Ba Ngôi và Nhập Thể, có thể nói rằng: tình yêu là sự trao ban cho nhau, để rồi tìm lại chính mình. Bởi vì không ai thực sự là tốt lành nếu không biết cho đi. Tình yêu chính là sự trao ban cho nhau dẫn đến việc tìm lại chính mình. Trong Ba Ngôi, có sự trao ban trọn vẹn của Chúa Cha cho Chúa Con, và của Chúa Con cho Chúa Thánh Thần; và có sự tìm lại chính mình, khi Chúa Thánh Thần là mối dây hiệp nhất trong tình yêu. Cũng vậy, có sự trao ban cho nhau giữa chồng và vợ, dẫn đến việc tìm lại chính mình — đó chính là người con.

Từ niềm vui của người nông dân khi thấy hạt giống nảy mầm, đến niềm hân hoan của vị thánh khi thấy một tội nhân đổi đời, tất cả đều là chứng tá cho hạnh phúc sâu xa của việc nhìn thấy sự sống trổ sinh. Tình yêu không chỉ là niềm vui chiếm hữu; tình yêu còn là ý muốn thấy một sự sống mới được sinh ra, muốn thấy một con người được tạo thành theo hình ảnh và giống như chính mình. 

 

Đứa trẻ trở thành mối dây hiệp nhất giữa người chồng và người vợ, làm bừng lộ nơi người chồng tư cách làm cha và nơi người vợ thiên chức làm mẹ. Một tương quan mới được hình thành. Tình yêu trở thành một cuộc thăng hoa khỏi bình diện giác quan, rồi lại quay về với Thiên Chúa. Con cái giống như những hạt trên tràng chuỗi Mân Côi, từng hạt một gắn kết tình yêu của vợ chồng. Tình yêu luôn đòi hỏi một điều còn chưa được bộc lộ; nó chỉ nở rộ trong mầu nhiệm. Người ta không bao giờ muốn thấy cái vô hạn bị chối bỏ, sức sống bị dập tắt, hay đam mê bị thỏa mãn đến bão hòa. Người ta muốn thấy tình yêu được mở ra, được làm phong phú và được nhập thể.

Mầu nhiệm làm cha làm mẹ dần dần được hé mở khi con cái cần được giáo dục và huấn luyện. Những chân trời khám phá mới được mở ra. Mỗi khi một đứa trẻ chào đời, nó lại gắn kết vợ chồng với nhau, như một phản chiếu của tình yêu kết hiệp của Chúa Thánh Thần trong Ba Ngôi. Mỗi đứa trẻ mang một linh hồn cần được cứu độ, đánh thức nơi người cha và người mẹ một trách nhiệm dịu ngọt. Như Kahlil Gibran đã viết khi nói về con cái trong Ngôn Sứ / The Prophet:

Một người phụ nữ bế đứa con trong tay nói: Xin hãy nói với chúng tôi về con cái. Và ông nói: Con cái của bạn không phải là con cái của bạn. Chúng là con trai con gái của Sự Sống đang khao khát tự hoàn thành chính mình. Chúng đến với bạn qua bạn, nhưng không từ bạn mà ra; và dù ở với bạn, chúng vẫn không thuộc về bạn. Bạn có thể trao cho chúng tình yêu của bạn, nhưng không thể trao cho chúng tư tưởng của bạn, vì chúng có tư tưởng riêng. Bạn có thể che chở thân xác chúng, nhưng không thể giam giữ linh hồn chúng, vì linh hồn chúng cư ngụ trong ngôi nhà của ngày mai — nơi bạn không thể đến, dù chỉ trong mơ. 

Bạn có thể cố gắng nên giống chúng, nhưng đừng tìm cách làm cho chúng giống bạn. Vì sự sống không quay ngược lại, cũng không dừng lại nơi hôm qua. Bạn là cây cung, từ đó con cái bạn như những mũi tên sống được phóng đi. Người Cung Thủ nhìn thấy đích nhắm trên con đường vô tận, và Người uốn cong bạn bằng quyền năng của Người, để những mũi tên của Người bay nhanh và xa. Hãy vui mừng khi được uốn cong trong tay Người Cung Thủ; vì cũng như Người yêu mũi tên đang bay, Người cũng yêu cây cung đứng vững.

Trong câu chuyện của sự sống, Thiên Chúa đặt ra đích nhắm; bạn là cây cung, và con cái bạn là những mũi tên. Bạn có sứ mạng mang tính Mêsia: làm chứng cho chiến thắng của tình yêu trên cái tôi. Con cái là dấu chỉ cho sự thất bại của tính ích kỷ nơi bạn; chúng biểu lộ chiến thắng của đức ái. Mỗi đứa trẻ khơi dậy hy sinh như một ân ban của Thiên Chúa, trở thành bảo chứng cho chính ơn cứu độ của bạn. Bạn sẽ hạnh phúc biết bao trong ngày phán xét, khi Thiên Chúa nói với bạn: “Tình yêu của con đã sinh hoa trái.” Và nếu Thiên Chúa không chúc phúc cho bạn bằng con cái, bạn vẫn có thể vui mừng vì bạn đã trao tình yêu của mình trở về cho Thiên Chúa.

Tính dục là một mầu nhiệm

PHẦN V: THẾ GIỚI, LINH HỒN VÀ TẠO VẬT

Tôi thấy rằng, dù những kẻ hoài nghi đã bóp nghẹt đời sống thiêng liêng, như người Phi-li-tinh xưa kia đã lấp các giếng của Abraham, thì nếu chúng ta biết đào lên, như I-sa-ác đã làm, chúng ta vẫn sẽ tìm thấy những mạch nước ngầm của sự sống vẫn còn đó, bị chôn vùi nhưng chưa hề bị hủy diệt.
FULTON J. SHEEN

 

CHƯƠNG 37: TÍNH DỤC LÀ MỘT MẦU NHIỆM

Hai từ được sử dụng nhiều nhất và cũng bị lạm dụng nhiều nhất trong thế giới hiện đại của chúng ta là “tự do” và “tính dục”. “Tự do” thường được dùng để chỉ sự vắng bóng của luật lệ, còn “tính dục” thường được dùng để chỉ sự thiếu vắng của kiềm chế. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng ba cách diễn đạt phổ biến về vấn đề tính dục, rồi suy tư và phân tích các cách diễn đạt ấy.

Cách diễn đạt phổ biến thứ nhất là: “Tình dục không phải là điều đáng xấu hổ.” Điều này đúng nếu tình dục được hiểu là cách nhân loại sinh sản trong niềm khoái lạc. Nhưng điều đó sai nếu tình dục được hiểu như sự buông thả xác thịt, như mớ hỗn độn mà bản năng tình dục đã kéo chúng ta vào ngày nay, với việc sử dụng không kiểm soát các ấn phẩm khiêu dâm, như thể những điều ấy chẳng có gì đáng hổ thẹn.

Chúng ta hãy xét đến cách diễn đạt thứ hai: “Chúng ta phải tự biểu đạt” Điều này đúng nếu nó có nghĩa là chúng ta phải hoàn thiện nhân cách của mình. Nhưng nó sai nếu “tự biểu đạt” có nghĩa là cho phép bản năng tình dục được thỏa mãn mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta cần phân tích đầy đủ ý nghĩa của thuật ngữ “tự biểu đạt.” Bạn có thể tưởng tượng một người lính đang ở chiến trường, bỏ hàng ngũ chạy về nơi an toàn, gặp một sĩ quan cấp trên, và viên sĩ quan ấy lại nói với anh ta: “Tôi rất mừng vì anh đã tự biểu đạt bản thân. Chúng ta đã thừa hưởng quá nhiều quan niệm Victoria cổ hủ về việc một người đàn ông phải ở lại chiến tuyến.” Dĩ nhiên, chúng ta có thể theo thành ngữ “Hãy là chính mình,” nhưng chúng ta phải nhớ mình là ai. Chúng ta là con người.Dĩ nhiên chúng ta có thể theo câu nói “Hãy là chính mình”, nhưng chúng ta phải nhớ chúng ta là ai. Chúng ta là con người.

Cách nói thứ ba thường được dùng ngày nay là: “Thiên Chúa hẳn đã không ban cho chúng ta bản năng này nếu Người không muốn chúng ta sử dụng nó!” Dĩ nhiên, chúng ta có quyền sử dụng bản năng ấy phù hợp với bản tính của mình. Bản tính của chúng ta là có lý trí; vì thế, chúng ta phải sống theo mục đích và cứu cánh. Chúng ta phải sử dụng các bản năng theo trật tự của lý trí, chứ không phải chỉ theo sự thúc đẩy mù quáng của bản năng. Chúng ta có bản năng săn bắt, nhưng phải sử dụng nó đúng cách. Cũng như bụi bẩn là vật chất ở sai chỗ, thì dâm dục là bản năng tính dục bị đặt sai chỗ.

Chúng ta trích dẫn nhà xã hội học Tiến sĩ Pitirim A. Sorokin, người viết:

Những gia đình trong xã hội chúng ta thường xuyên thay đổi chồng vợ, sao nhãng bổn phận đối với con cái, và chấp nhận một chuẩn mực luân lý thấp kém như ngoài đường phố, đang đẩy chúng ta đi trên con đường dẫn tới hỗn loạn. Hy Lạp, vào thế kỷ thứ ba và thứ hai trước Công nguyên, đã đưa tình dục ra công khai. Chúng ta biết điều đó vì ngay trong thời ấy cũng có những người tự hào về cái gọi là tính khách quan của mình, khi họ bình thản ghi lại bức tranh đáng buồn về những gia đình tụ tập với nhau để buông mình vào lối sống phóng túng. Ngoại tình và mại dâm phổ biến đến mức những người sa vào đó chỉ được xem như những kẻ “thú vị”.

Giờ hãy chú ý đến kết luận của nhà xã hội học này:

Nhưng một xã hội như thế đã không thể gom đủ bản lĩnh để chống cự khi đối diện với chiến tranh, cũng không thể chịu đựng những chương trình khắc khổ để có thể cứu vãn nền kinh tế bị thổi phồng. Chẳng bao lâu, vinh quang một thời của Hy Lạp chấm dứt, và Acropolis hùng vĩ chỉ còn là một sườn đồi rải đầy những mảnh cẩm thạch đổ nát. (Social and Cultural Dynamics)

Bất cứ quốc gia nào quá nhấn mạnh đến xác thịt đều nên ghi nhớ bài học lịch sử này.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn vấn đề từ một góc độ hoàn toàn khác. Chúng ta cũng cần có một mức độ cảm thông nào đó đối với những người phản đối cách người ta nhấn mạnh đến đức trong sạch và tiết dục. Quá thường, việc trình bày các nhân đức này mang tính tiêu cực. Hầu như mọi bài nói về khiết tịnh đều bắt đầu bằng “đừng làm điều này” hay “đừng làm điều kia”. Dường như khiết tịnh bị xem gần như một nhân đức tiêu cực hơn là tích cực. Nhưng đức trong sạch thì không là như vậy. Kitô giáo mời gọi chúng ta: “Hãy nhìn mọi sự theo cách nhìn của Thiên Chúa” và “Chúng ta học được gì khi nghiên cứu con người?” Ta thấy mỗi con người đều có hai bản năng mạnh mẽ và căn bản: trước hết là cái đói, và cái kia là tính dục. Thiên Chúa đã đặt cả hai bản năng ấy vào con người. Nhờ cơn đói, chúng ta bảo toàn sự sống cá nhân. Nhờ tính dục, chúng ta bảo toàn sự sống xã hội. Thiên Chúa đã gắn liền những khoái cảm lớn lao với hai bản năng này để bảo đảm sự tiếp diễn của cả đời sống cá nhân lẫn nhân loại.

Dĩ nhiên, sẽ có những lệch lạc và thái quá nơi cả hai bản năng ấy. Con người có thể ăn quá nhiều, uống quá nhiều, và thân thể sẽ trở nên béo phì. Cũng có thể có những thái quá của bản năng tính dục; bản năng bị dùng sai chỗ. Cũng như lạm dụng bản năng ăn uống có thể làm hư hoại sức khỏe, lạm dụng bản năng tính dục có thể làm nảy sinh một tâm trí bị nhục dục khống chế. Người ta thường không đưa rác rưởi vào dạ dày, nhưng quá thường xuyên lại đưa rác rưởi vào tâm trí.

Giờ đây, hãy nhìn vấn đề này theo chiều hướng tích cực: người trẻ vì thế không nên nghĩ rằng thôi thúc tình dục họ đang trải qua là điều sai trái. Thôi thúc tình dục mang tính thần linh; nó do trời ban; nó là điều tốt lành! Nó không bao giờ bị uổng phí, ngay cả khi được kiểm soát, bởi vì năng lượng lẽ ra bộc lộ ra bên ngoài về mặt thể lý sẽ được thăng hoa, và có thể biểu lộ theo một cách khác trong lĩnh vực tinh thần và thiêng liêng—điều vốn xảy ra rất thường xuyên.

Chúng ta hãy cố gắng tiếp cận chủ đề này cách xứng đáng với nhân phẩm và tích cực. Trước hết, ta đặt câu hỏi: khiết tịnh hay đức trong sạch là gì? Khiết tịnh là sự tôn kính dành cho mầu nhiệm của tính dục. Nếu dùng thuật ngữ Hy Lạp, ta sẽ dùng từ “bí tích.” Bạn còn nhớ rằng trong trật tự siêu nhiên, mỗi bí tích đều có hai yếu tố: một yếu tố vật chất và một yếu tố thiêng liêng; một yếu tố có thể thấy, nghe hoặc chạm được, và yếu tố kia là yếu tố thần linh. Trong trật tự tự nhiên, tính dục cũng là một mầu nhiệm, bởi vì nó mang hai đặc tính ấy. Tính dục vừa là điều ai cũng biết, lại vừa là điều ẩn kín đối với mọi người. Yếu tố ai cũng biết nơi mỗi người là họ hoặc nam hoặc nữ; còn yếu tố vô hình, huyền nhiệm của tính dục chính là khả năng sáng tạo, một sự tham dự nào đó vào quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa.

Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa vì tình yêu của Ngài. Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào người nam và người nữ để, như một ân ban nhưng không, họ trở thành những người đồng sáng tạo với Thiên Chúa. Trong thân thể chúng ta có những vận hành không lệ thuộc vào tự do. Hô hấp, tiêu hóa và tuần hoàn phần lớn là vô thức và không tự ý; chúng diễn ra độc lập với ý chí của ta. Nhưng để sáng tác một bài thơ, tạc nên một pho tượng, hay sinh ra một đứa trẻ thì lại là một hành vi tự do. Thiên Chúa đã trao ban một lệnh truyền: “Hãy sinh sôi nảy nở” (St 1,28). Chúng ta được sai vào thế gian này để truyền ngọn đuốc đến cho thế hệ sau—ngọn đuốc của sự sống—và Thiên Chúa đã đặt ngọn đuốc ấy trong tay chúng ta, để nó cháy lên cách có kiểm soát, hướng về mục đích và cùng đích do chính Ngài ấn định. Đức trong sạch là sự tôn kính dành cho mầu nhiệm của tính dục, và mầu nhiệm của tính dục chính là khả năng sáng tạo.

Mọi khả năng sáng tạo đều được bao bọc bởi niềm tôn kính trước mầu nhiệm và được trao ban cho người nam và người nữ. Từ xưa đã có một mối liên hệ giữa tôn giáo và sự hiệp nhất của người nam và người nữ—không chỉ trong Kitô giáo mà cả nơi mọi dân tộc ngoài Kitô giáo. Họ tin rằng quyền năng sáng tạo vĩ đại này cần được bao bọc, bằng cách nào đó, bởi sự chuẩn nhận mang tính tôn giáo. Nếu hiểu đúng mầu nhiệm này, ta sẽ thấy: trong các bí tích, chúng ta là phàm nhân dâng lên Chúa hành vi, bánh, nước và lời nói, cũng như trong tính dục, người nam và người nữ cung cấp phần xác, còn Thiên Chúa ban phần mầu nhiệm. Chính ý thức về mầu nhiệm, sự tôn kính và niềm kính sợ ấy khiến các bạn trẻ tự nhiên e dè trước việc trao hiến quá sớm bí mật này. Một trong những lý do khiến người nam tự nhiên cư xử hào hiệp với người nữ không phải vì anh ta nghĩ rằng nàng yếu hơn về thể lý, mà vì niềm kính sợ anh cảm nhận khi đứng trước mầu nhiệm.

Vì sao tính dục không thể được sử dụng ngoài hôn nhân? Bởi vì có những quyền năng chỉ được sử dụng trong những mối tương quan nhất định. Điều hợp pháp trong một tương quan thì không hợp pháp trong một tương quan khác. Một người lính có thể giết đối phương trong một cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhưng không thể làm điều đó với tư cách cá nhân là một công dân. Một cảnh sát có thể bắt giữ ai đó với tư cách là người được pháp luật ủy quyền, có trát hợp lệ.

Khả năng sáng tạo của người nam và người nữ chỉ hợp pháp trong một mối tương quan được Thiên Chúa chuẩn nhận, gọi là hôn nhân. Đức trong sạch không bao giờ tách rời hai điều ấy. Những gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly. Đức trong sạch không chỉ là sự toàn vẹn thể lý. Nơi người nữ, đó là quyết tâm vững vàng không sử dụng quyền năng ấy cho đến khi Thiên Chúa gửi đến cho nàng một người chồng; nơi người nam, đó là ước muốn kiên định chờ đợi thánh ý Thiên Chúa, để Người ban cho anh một người vợ, hầu quyền năng ấy được sử dụng theo mục đích của Thiên Chúa.

Đức trong sạch khởi đi từ ý chí, rồi từ đó lan tỏa ra ngoài, thanh luyện trí tưởng tượng và sau cùng là thân xác. Đời sống chỉ trở nên ô uế khi ý chí bị ô uế. Bạn biết đức trong sạch chính là người giữ cửa và bảo vệ của tình yêu.

Chúng ta không muốn thấy lá cờ quốc gia bị giẫm dưới chân, bởi vì lá cờ ấy mang một mầu nhiệm; nó tượng trưng cho điều gì đó vượt quá chính nó. Người trong sạch bị sốc trước sự ô uế, bởi vì ô uế là việc biến điều thánh thiêng thành món hàng, khiến cái đáng tôn kính trở nên bất kính. Cốt lõi của mọi sự tục tĩu là biến mầu nhiệm ẩn giấu thành trò đùa. Có một sự hiện diện ẩn giấu của Thiên Chúa nơi mỗi con người, cũng như có một sự hiện diện thần linh ẩn giấu trong Bánh trên bàn thờ.

Mỗi con người, theo một nghĩa nào đó, trở thành một Bánh Thánh đã được thánh hiến—không phải như Bánh Thánh trên bàn thờ, nhưng bởi vì đức trong sạch, hay trinh khiết, là một tình cảm đã được thánh hiến. Hãy lưu ý: chúng ta đang trình bày điều này theo hướng tích cực, chứ không tiêu cực. Một chàng trai gắn bó với một cô gái, tận hiến cho những lý tưởng của nàng và cho cuộc hôn nhân của họ. Tình yêu khơi nguồn cho đức ái, đức khiết tịnh và sự thanh sạch.

Chúng ta muốn mô tả mối nguy hiểm của việc tách rời tính dục khỏi tình yêu, khỏi mục đích của nó và khỏi khả năng sáng tạo. Giả sử một nhạc trưởng của dàn nhạc bỗng trở nên quá ý thức về đôi tay mình, chăm chú vào cách ông cầm chiếc đũa chỉ huy. Bạn nghĩ điều đó có ảnh hưởng đến âm nhạc không? Nhưng nếu ông tập trung vào bản nhạc, vào dàn nhạc và vào việc tạo nên sự hòa âm, thì mọi sự sẽ tự nhiên vào đúng chỗ. Khi ấy, ông không còn ý thức về bàn tay nữa.

Khi tính dục trở thành một phần của tình yêu và của mục đích đời sống, nó trở thành một sự tận hiến và hòa nhập vào toàn thể. Tính dục không phải là điều bị cô lập khỏi đời sống. Tự chủ là việc quy phục một phần vào toàn thể để phục vụ một động lực, một khát vọng cao cả hơn. Khi được hiểu đúng, đức trong sạch làm cho tình yêu và bản năng tính dục hòa hợp với nhau. Việc rước lễ thường xuyên là sự bảo đảm vững chắc nhất cho đức trong sạch bởi vì khi ấy tính dục được đặt trong bối cảnh của tình yêu.

Chúng ta đã nói rằng đức trong sạch là tiền sảnh, là người giữ cửa của tình yêu. Khi chúng ta yêu mến Chúa, khi chúng ta cảm nhận được niềm hoan lạc sâu xa phát sinh từ việc rước lễ và từ sự kết hợp nên một với Đấng Cứu Độ, thì mọi phần nơi con người chúng ta—bản năng đói và bản năng tính dục—đều trở thành một phần của tình yêu ấy. Chính tình yêu khơi dậy khiết tịnh, chứ không phải ngược lại.

Từ khi chúng ta còn là trẻ nhỏ vừa đạt tới tuổi khôn cho đến lúc tuổi già, chính tình yêu Thiên Chúa làm cho mọi hình thức yêu thương khác—kể cả tình yêu vợ chồng—trở nên dễ hiểu. Ai yêu sự ngay thẳng thì không cần phải được dạy là đừng trộm cắp. Ai yêu tha nhân thì không cần phải được bảo là đừng làm hại họ. Bất cứ ai yêu mến Thiên Chúa, yêu con người và yêu mầu nhiệm của sự sáng tạo thì không cần phải được bảo là “đừng làm điều này, đừng làm điều kia.” Chúng ta đang yêu mến mầu nhiệm. Tính dục chính là sự tôn kính dành cho mầu nhiệm của khả năng sáng tạo.

Phần IV: Các Bí tích

Bí Tích Hôn Phối

Hôn nhân là một bí tích và là gắn kết bất khả phân ly cho đến chết. Những người Pharisêu đã hỏi Chúa Giêsu: có được phép cho người đàn ông nào đó rẫy vợ mình vì bất cứ lý do gì hay không. Người đáp: “Các ông không đọc sao: Đấng Tạo Hóa ngay từ khởi đầu đã dựng nên con người có nam có nữ, và đã phán: Vì lý do đó, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ nên một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai nữa, mà là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,4–6)

Chúa Giêsu đang nói về hôn nhân ngay từ thuở ban đầu. Và khi vấn đề ly dị được nêu lên, Người nói: “Ai rẫy vợ mình mà cưới người khác là phạm tội ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy cũng phạm tội ngoại tình” (Mt 5,32).

Những lời này nghe như một bản án nặng nề đối với nền văn minh ngày nay—nơi mà tại Hoa Kỳ, khoảng 2.3 cuộc hôn nhân thì có một cuộc ly dị, rồi lại thêm những cuộc tái hôn sau ly dị. Đừng nghĩ rằng ly dị và tái hôn chỉ sai trái đối với người Công giáo. Chúng đặc biệt sai trái đối với người Công giáo, nhưng thực ra đó là sự vi phạm luật tự nhiên của Thiên Chúa đối với mọi người, dù là người Tây Tạng, Hồi giáo hay Kitô hữu. Tội nguyên tổ và hồng thủy không hủy bỏ trật tự Thiên Chúa đã thiết lập cho người nam và người nữ.

Ở đây, chúng ta đang xét đến trật tự tự nhiên của con người. Hôn nhân không do con người thiết lập, mà do chính Thiên Chúa. Người làm cho hôn nhân trở thành một sự hiệp nhất, chứ không chỉ là một giao kèo. Trong hôn nhân, hai người trở nên một: hiệp nhất về tinh thần, trí tuệ và thân xác. Có những thẩm phán ban giấy ly dị, nhưng Thiên Chúa nhìn những cuộc ly dị ấy như thế nào? Sau ly dị, họ không còn là hai cá nhân tách biệt như trước khi kết hôn; họ trở thành những mảnh vỡ của một nhân vị chung, giống như một đứa trẻ bị chẻ làm đôi.

Hôn nhân giữa người nam và người nữ, tự bản chất của tình yêu, được định hướng để bền vững. Trong từ vựng của tình yêu chỉ có hai chữ: “anh, em” và “mãi mãi”. “Anh / Em”, vì tình yêu là độc nhất; “mãi mãi”, vì tình yêu thì bền lâu. Chưa có ai nói: “Anh sẽ yêu em trong hai năm sáu tháng.” Mọi bài ca tình yêu đều mang âm hưởng của vĩnh cửu. Tại sao trong trái tim con người lại có ghen tuông? Để bảo vệ tính một vợ một chồng và sự bền vững của hôn nhân!

Hãy xét bản chất của tình yêu trong trật tự nhân loại. Có ba yếu tố: người yêu, người được yêu, và chính tình yêu. Giả sử tình yêu chỉ có hai yếu tố: tình yêu của tôi và tình yêu của bạn. Khi đó sẽ chỉ có sự tách biệt và không thể thâm nhập. Cần phải có yếu tố thứ ba, giống như hai dây nho muốn nên một thì phải được kết hợp trong cùng một mảnh đất. Hai trái tim được hiệp nhất vì có một tình yêu vượt ra ngoài chính họ. Nhờ đó, sự bất lực của cái “tôi” trong việc hoàn toàn chiếm hữu cái “anh/em” được vượt qua khi người ta nhận ra rằng có một điều gì đó vượt lên trên, biến cái “tôi” và cái “anh/em” thành “tình yêu của chúng ta”. Những người đang yêu luôn nói về “tình yêu của chúng ta”. Họ nói với nhau: “Em không chỉ là chính em, và tình yêu của anh không còn vấp phải giới hạn nơi em, vì nó vươn xa vượt khỏi em để hướng đến mọi điều đáng yêu. Khi chúng ta ôm lấy nhau, chúng ta ôm lấy nhiều hơn là chính nhau. Trong việc ôm lấy nhau, chúng ta làm chứng cho Đấng đang ôm lấy chúng ta—đó là tình yêu của Thiên Chúa.”

Như sách Sáng Thế đã nói: “Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Hãy lưu ý rằng họ bổ túc cho nhau, chứ không bao giờ hàm ý tách biệt. Thiên Chúa dựng nên người nam; Thiên Chúa dựng nên người nữ từ người nam. Thiên Chúa hiện diện trong việc tạo dựng vũ trụ, và người nam cũng hiện diện—dù trong cơn xuất thần—khi người nữ được tạo thành. Bởi vì người nam đến trực tiếp từ Thiên Chúa, nên người nam có nhiều sáng kiến, sức mạnh và khả năng sáng tạo hơn. Người nữ đến từ Thiên Chúa qua sự xuất thần của người nam nên có trực giác, khả năng đáp ứng, đón nhận, vâng phục và cộng tác.

Người nam sống nhiều hơn trong thế giới bên ngoài vì được tạo nên từ bụi đất; người nam gần với thiên nhiên, và sứ mạng của người nam là cai quản nó. Người nữ sống nhiều hơn trong trật tự nội tâm, vì được tạo dựng từ sự sống nội tại của con người. Người nam quan tâm nhiều hơn đến thế giới bên ngoài; người nam nói nhiều về công việc làm ăn, còn người nữ nói nhiều hơn về con người. Họ bổ túc cho nhau theo cách thức thần linh.

Sách Sáng Thế nói: “Con người ở một mình thì không tốt; Ta sẽ tạo cho nó một trợ tá tương xứng” (St 2,18). Việc Thiên Chúa tạo dựng hai giới tính được trình bày như điều thiết yếu cho sự hiệp thông. “Trợ tá” không có nghĩa là thấp kém; những khác biệt bổ túc cho nhau, như cây vĩ và cây đàn violon. Hôn nhân không chỉ là một khế ước; đó là một sự hiệp nhất do Thiên Chúa thiết lập, kéo dài cho đến chết.

Có trật tự tự nhiên và trật tự siêu nhiên. Chúng ta sống trong trật tự vừa nhân loại vừa thần linh. Ngoài sự sống thể lý còn có sự sống siêu nhiên, tức là ân sủng. Trí tuệ chúng ta được soi sáng bằng đức tin, và ý chí được tăng cường bằng quyền năng của bản tính thần linh. Chúa Giêsu đã làm cho hôn nhân trở thành một bí tích. Đối với những người kết hợp trong Hội Thánh của Người, Người ban ân sủng, sức mạnh và quyền năng để họ sống đời sống chung của mình. Mỗi bí tích đều có hai yếu tố. Yếu tố hữu hình là việc trao đổi ưng thuận, được biểu lộ qua việc nắm tay và có linh mục chứng nhận. Ân sủng vô hình được thông ban cho bậc sống hôn nhân của họ. Ân sủng này là biểu tượng cho một cuộc hôn nhân khác: hôn nhân giữa Đức Kitô và Hội Thánh, đó chính là ý nghĩa của hôn nhân qua bí tích. Thánh Phaolô đã giải thích điều này rất nhiều trong các thư của ngài. Chẳng hạn: “Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng : Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt” (Êp 5,29–32). Ngài cũng nói: “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình như Đức Kitô yêu thương Hội Thánh” (Êp 5,25). Ở đây chúng ta chạm đến một lý do sâu đậm. Thánh Phaolô gọi đó là một mầu nhiệm cao cả.

Hôn nhân của những người đã lãnh nhận bí tích Rửa tội trong Hội Thánh biểu trưng cho một cuộc hôn nhân khác. Trong suốt Cựu Ước và Tân Ước, Thiên Chúa đã diễn tả mối tương quan của Ngài với chúng ta bằng ngôn ngữ hôn phối. Trong Cựu Ước, Thiên Chúa luôn nói về chính mình như Tân Lang, là phu quân của Israel, tức là qahal. Israel, hay dân được tuyển chọn, được Thiên Chúa coi như Hiền Thê của Người. Có rất nhiều đoạn trong Cựu Ước cho thấy Thiên Chúa không tìm được biểu tượng nào khác xứng hợp hơn để diễn tả tình yêu của Người đối với Israel và đối với phương tiện mặc khải của Người, ngoài biểu tượng của tình yêu hôn nhân.

Đến thời điểm viên mãn, Thiên Chúa trở thành con người. Chúa Giêsu có bao giờ tự gọi mình là Tân Lang không? Có, và Người đã làm điều đó một cách rất tự nhiên. Một lần, khi Người bị hỏi tại sao các môn đệ của Người không ăn chay như các môn đệ của Gioan Tẩy Giả, Người trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi Tân Lang còn ở với họ sao?” (Mt 9,15). Tân Lang rồi sẽ bị đem đi. Gioan Tẩy Giả gọi mình là “bạn của Tân Lang” (Ga 3,29), như một người phù rể.

Tôi tin rằng có một mầu nhiệm rất đẹp được ẩn giấu trong tiệc cưới Cana. Chúa Giêsu bắt đầu đời sống công khai bằng việc tham dự một tiệc cưới, cho thấy mối tương quan của Người với Hội Thánh có thể được hiểu hoàn toàn theo khuôn mẫu mối tương quan đã được triển khai trong Cựu Ước. Qahal cũ của Israel trở thành Hội Thánh mới, hay Israel mới. Qua công trình cứu chuộc và lễ Ngũ Tuần, biểu tượng này được tiếp nối. Evà là sự tiếp nối của Ađam, xương bởi xương ông, thịt bởi thịt ông. Sự tiếp nối của Ađam mới chính là Đức Kitô.

Hôn nhân nhân loại giống như sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Khi chú rể và cô dâu đứng trước bàn thờ, nghi thức hôn phối được đọc lên để cho họ biết rằng: “Con, là chú rể, tượng trưng cho Đức Kitô; và con, là cô dâu, tượng trưng cho Hội Thánh.” Hôn nhân trở nên đẹp đẽ khi ân sủng nhiệm mầu này được ban cho họ.

Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng, cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, thì người chồng là đầu của người vợ: người chồng là đầu của người vợ theo cùng một cách thức mà Đức Kitô là Đầu của Hội Thánh (Êp 5,23). Người chồng phải hy sinh chính mình vì người vợ. Đức Kitô là Đầu bằng cách chết đi, hy sinh chính mình và đổ máu ra. Quyền làm đầu được đặt nền trên sự quên mình vì người mình yêu. Người vợ liên kết với người chồng theo cùng một cách mà Hội Thánh liên kết với Chúa chúng ta: bằng tình yêu, sự phục vụ và lòng tận hiến. Người chồng là đầu của người vợ như Đức Kitô là Đầu của Hội Thánh. Điều này trở thành hy sinh, chứ không phải thượng đẳng.

Còn một lý do thần linh khác khiến hôn nhân của những người đã chịu phép Rửa là bất khả phân ly. Họ tượng trưng cho sự hiệp nhất vĩnh cửu và không thể phá vỡ giữa Chúa chúng ta và Hội Thánh. Khi Con Thiên Chúa đến trần gian và mặc lấy bản tính nhân loại—bản tính ấy nở hoa thành Nhiệm Thể ủa Người là Hội Thánh—Người không mang lấy bản tính ấy chỉ trong ba năm, mà cho đến muôn đời. Người chồng đón nhận người vợ như Đức Kitô đã đón nhận Hội Thánh: cho đến khi cái chết phân ly. Để biểu trưng cho sự hiệp nhất bền vững của cuộc hôn phối giữa Đức Kitô và Hội Thánh, vợ chồng phải yêu thương nhau cho đến khi cái chết chia lìa họ.

Ẩn chứa trong mô tả tuyệt đẹp về biểu tượng hôn nhân này là một sự thật: chỉ có một Hội Thánh. Hãy nhớ rằng trong Thánh Kinh, Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô. Bạn có nghĩ rằng Chúa Kitô có thể có nhiều hiền thê không? Điều đó sẽ là ngoại tình thiêng liêng! Chỉ có một Phu Quân; chỉ có một Hội Thánh; và sự hiệp nhất ấy tồn tại mãi mãi. Vì thế, hôn nhân giữa vợ và chồng là bất khả phân ly trong trật tự bí tích.

Sau đây là một vấn đề mang tính lý thuyết nhỏ giúp làm sáng tỏ chân lý này. Giả sử Gioan và Maria kết hôn trong Thánh lễ Hôn phối, rồi bước ra khỏi cửa nhà thờ và chia tay nhau. Họ không bao giờ gặp lại nhau nữa. Hôn nhân ấy có thể bị tháo gỡ không? Có, trong một số điều kiện nhất định. Đó được gọi là hôn nhân đã thành sự nhưng chưa hoàn hợp—một hôn nhân được chuẩn nhận trong Hội Thánh nhưng chưa được hoàn tất bằng sự kết hợp nên một xương một thịt. Sự hiệp nhất giữa vợ chồng trong một hôn nhân chỉ được chuẩn nhận mà chưa hoàn hợp giống như sự hiệp nhất giữa linh hồn cá nhân và Đức Kitô nhờ ân sủng. Linh hồn cá nhân thường bị tách khỏi Đức Kitô do tội lỗi. Nhưng một hôn nhân đã được chuẩn nhận và hoàn hợp thì mang biểu tượng của sự hiệp nhất giữa Đức Kitô và Hiền Thê của Người là Hội Thánh—và hai thực tại ấy không bao giờ có thể bị tách rời. Hôn nhân ấy là hoàn toàn bất khả phân ly.

Hôn nhân trong Hội Thánh thật là đẹp biết bao. Trung tín là một cuộc đính hôn vĩnh cửu với tương lai. Linh hồn biết rằng mình không thể được cứu rỗi nếu không trung thành với người phối ngẫu, ngay cả giữa thử thách. Nếu tình yêu của Thiên Chúa không bao giờ rời bỏ khỏi Hội Thánh của Người, thì tình yêu của vợ chồng cũng không bao giờ bị rút lại khỏi nhau. Tình yêu của họ là một lời công bố cho thế gian về một cuộc hôn nhân khác—cuộc hôn nhân đem lại cho chúng ta niềm vui và hạnh phúc—sự hiệp nhất tuyệt đẹp giữa Đức Kitô và Hiền Thê của Người là Hội Thánh.

Bí Tích Truyền Chức Thánh

Cho phép tôi kể cho bạn một câu chuyện về một giám mục và một linh mục như một lời dẫn nhập thích hợp cho bí tích liên quan đến việc cai quản Giáo Hội, đó là Bí tích Truyền Chức Thánh.

Một người cùng tù với vị giám mục đã kể cho tôi câu chuyện đầu tiên này. Vị giám mục ấy bị giam trong một nhà tù cộng sản Trung Quốc. Trải qua những cuộc bách hại và tra tấn, cân nặng của ngài giảm xuống chỉ còn khoảng bốn mươi ký. Thân thể đầy rận rệp và những vết lở loét vì tù ngục, đội một chiếc mũ len đen, mặc một chiếc áo kimono đen, ngài không còn có thể tự mình bước đi. Lúc nào cũng phải có hai người bạn tù Trung Quốc dìu đỡ.

Điều rất lạ lùng là người duy nhất trong nhà tù được cấp bánh và rượu là vị giám mục ấy. Không biết vì sao họ lại cho ngài bánh và rượu. Nếu họ biết ngài dùng bánh và rượu ấy để dâng Thánh Lễ, chắc chắn họ đã không bao giờ làm như vậy. Người tù sống cùng ngài đã nói với tôi rằng: không một Thánh Lễ nào được cử hành trong một thánh đường Gô-tích, dù với tất cả vẻ huy hoàng và long trọng của phụng vụ, có thể sánh được với vẻ đẹp của Thánh Lễ mà vị giám mục ấy cử hành khi dựa lưng vào bức tường nhà tù, trước mặt là một đĩa thiếc, đôi tay run rẩy cử động, đọc trên bánh: “Này là Mình Thầy”, và trên rượu: “Này là Máu Thầy.” Rồi sau đó, cách kín đáo, ngài phân phát Mình Thánh Chúa cho những người cùng chia sẻ đức tin với mình.

Ngài bị đưa vào cuộc hành quân tử thần, nơi sau này ngài đã bỏ mình. Một đại tá cộng sản, người chỉ huy cuộc hành trình ấy, đã tròng quanh cổ ngài một chiếc bao. Chiếc bao nặng khoảng mười lăm ký, được buộc sao cho khi đoàn người tiến bước, sợi dây sẽ dần siết chặt, chiếc bao trở nên nặng hơn, và cuối cùng vị giám mục sẽ bị nghẹt thở mà chết.

Khi cuộc hành trình bắt đầu, người bạn tù này kể với tôi rằng anh đã phá hàng ngũ, tiến đến trước mặt viên đại tá cộng sản và la lớn: “Đừng làm như thế! Hãy nhìn con người này đi!” Đó cũng như một khoảnh khắc [khi Phi-la-tô đưa Chúa Giêsu ra trước mặt dân chúng, chỉ về Chúa Giêsu và nói:] Ecce homo — “Này là Người”. Viên đại tá cộng sản nhìn anh ta như thể lần đầu tiên trong đời ông thực sự thấy đau khổ là gì, rồi quát lên: “Trở về hàng đi, đồ chó!”

Cuộc hành trình tử thần tiếp tục. Người bạn tôi nói rằng anh cố nhìn xuyên qua hàng ngũ những người tù đang di chuyển để xem có thể thoáng thấy vị giám mục, vẫn được hai người tù Trung Quốc dìu đỡ hay không. Sau khoảng một dặm đường, anh nhìn thấy ngài. Vị giám mục vẫn còn đứng vững — nhưng chiếc bao không còn trên lưng ngài nữa. Chiếc bao ấy đang ở trên lưng của viên đại tá cộng sản.

Tôi hỏi: “Chuyện gì đã xảy ra?”

Ông ấy nói: “Tôi nghĩ viên đại tá đã được đánh động bởi sự kiên nhẫn và thái độ cam chịu của vị giám mục thánh thiện ấy. Kết quả là chính viên đại tá cộng sản đó đã bị bắt và bị đưa vào tù.”

Trong một câu chuyện khác, những người cộng sản ra lệnh cho một linh mục cởi bỏ quần áo. Ngài cởi cho đến khi chỉ còn mang giày và vớ. Họ bắt đầu đánh ngài vào đầu và thân mình bằng gậy. Lúc ấy, ngài cúi xuống và bắt đầu cởi giày và vớ ra.

Họ nói: “Để nguyên đó! Tại sao ông lại muốn cởi ra?”

Ngài đáp: “Vì tôi muốn chết như Chúa của chúng tôi.”

Các giám mục và linh mục đến từ đâu? Họ đến từ một bí tích. Ta nhớ rằng có hai bí tích mang tính xã hội: bí tich Hôn Phối và bí tích Truyền Chức Thánh. Trong trật tự tự nhiên, người nam và người nữ sinh sản và duy trì nhân loại qua Bí tích Hôn Phối. Nhưng xã hội thì cần có chính quyền cai quản. Trong trật tự thần linh, siêu nhiên — nơi Nhiệm Thể Chúa Kitô — cũng phải có sự cai quản, và bí tích của việc cai quản Nhiệm Thể ấy chính là Bí tích Truyền Chức Thánh.

Trong chính quyền này, có các cấp bậc, trật tự và phẩm trật. Việc phân chia các chức thánh chủ yếu gồm ba bậc: phó tế, linh mục và giám mục. Đêm Tiệc Ly, cũng như suốt cuộc đời công khai của Người, Chúa Giêsu đã chọn những khí cụ là con người để làm trung gian giữa Người và thế gian. Như Kinh Thánh nói, “Vậy chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức Ki-tô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1 Cr 4,1). Và trong thư gửi Híp-ri, ta đọc: “Quả vậy, thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội” (Hr 5,1).

Chúng tôi là những người phân phát các mầu nhiệm cao cả của Thiên Chúa. Tại sao Người không chọn các thiên thần? Bởi nơi thiên thần sẽ thiếu sự cảm thông, lòng trắc ẩn và sự cùng chịu đau khổ với Đấng đã từng đau khổ. Chẳng phải đó chính là nguyên lý của mầu nhiệm Nhập Thể sao? Chẳng phải Chúa chúng ta đã từ trời xuống, mang lấy bản tính nhân loại của chúng ta, trở nên như một người tôi tớ đó sao? Như Kinh Thánh nói: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Hr 4,15).

Không ai có thể nói rằng Thiên Chúa không biết về thân phận làm người. Ngay cả điều duy nhất không có trong bản tính của Người — nét nữ tính — Người cũng đã bù đắp bằng cách mời gọi Đức Maria cùng chịu đau khổ dưới chân Thập Giá trong Cuộc Khổ Nạn của Người. Chúa chúng ta có thể chọn chúng ta, bởi vì Người đã chia sẻ với chúng ta chính thân phận con người ấy.

Như Hồng y Newman đã nói, Thiên Chúa đã chọn chúng ta là những thụ tạo yếu đuối “vì lợi ích của những người mà chúng ta phải phục vụ.” Người không sai các thiên thần, nhưng sai mà là những người anh em, những con người cùng xương cùng thịt với ta. Chính những người anh em ấy — con cháu của Ađam — được Người đặt lên để rao giảng cho ta: cùng chung bản tính nhân loại, chỉ khác nhau ở ân sủng và quyền năng; cùng phải đối diện với những cám dỗ, những trận chiến nội tâm và ngoại tâm, cùng đối diện với những kẻ thù nguy hiểm như nhau: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Họ cũng mang những con tim con người dễ lạc hướng, chỉ khác ở chỗ đã được quyền năng Thiên Chúa biến đổi và hướng dẫn. Linh mục không phải là những thiên thần từ trời cao nói với anh em, nhưng là những con người mà ân sủng đã làm nên khác đi với anh em.

Thật là một nghịch lý lạ lùng. Trong công trình cứu độ Đức Kitô đã ban cho chúng ta, mọi sự đều hoàn hảo, thuộc về trời cao và đầy vinh quang — ngoại trừ chính con người của các linh mục. Người ngự trên bàn thờ của chúng ta, Đấng Chí Thánh, Đấng Tối Cao; các thiên thần phủ phục thờ lạy Người. Thế nhưng các linh mục — được thánh hiến, được tách riêng với dây thắt khiết tịnh và dải khăn của đau khổ — vẫn là con cháu Ađam, con cháu của những tội nhân mang bản tính sa ngã. Mỗi linh mục là một kiểu trung gian giữa Thiên Chúa và con người: mang Thiên Chúa đến cho con người và mang con người đến với Thiên Chúa, tiếp nối chức vụ tư tế của Chúa chúng ta.

Chúa chúng ta không phải là Tư tế vì Người là từ Chúa Cha từ muôn thuở; Người là Tư tế vì Người mang bản tính nhân loại — bản tính mà Người có thể hiến dâng cho phần rỗi chúng ta. Chúng tôi giống như chiếc thang của Giacóp: một đầu chạm tới trời cao, đầu kia đặt vững trên mặt đất. Mỗi linh mục là một “Đức Kitô khác”, vừa có mối tương quan thẳng đứng với Đức Kitô trên trời, vừa có mối tương quan ngang với con người trên trần gian.

Các giám mục là những người kế vị các Tông Đồ. Trong Thánh Kinh, ta thấy Chúa Giêsu đã trao cho các ngài nhiều quyền năng. Cũng như Người, các ngài là ánh sáng cho thế gian; cũng như Người, các ngài là mục tử của giáo dân; cũng như Người, các ngài là những cánh cửa qua đó đoàn chiên bước vào Thành Thánh. Một giám mục được thánh hiến không chỉ — hay không chủ yếu — cho một giáo phận; nhưng trước hết là cho toàn thế giới, bởi vì Chúa chúng ta đã nói với các Tông Đồ: “Hãy đi khắp thế gian” (Mc 16,15). Vì lý do quản trị mà một giám mục gắn với một giáo phận, nhưng trách nhiệm căn bản của ngài là đối với toàn thế giới.

Các miền truyền giáo của Giáo Hội không phải là những đứa trẻ bị bỏ rơi trước cửa một tòa giám mục. Toàn thể các dân tộc trên thế giới đều đè nặng trên trái tim của một giám mục. Bạn sẽ nghĩ gì về một người quá chăm chú đến trái tim mình đến nỗi buộc garô quanh tay chân? Nếu được hỏi lý do, người ấy có thể nói: “Máu đang chảy ra các chi thể, làm hao mòn sức lực của tôi. Tôi muốn giữ sức, nên tôi sẽ giữ toàn bộ máu lại trong tim.” Nhưng chẳng bao lâu, trái tim ấy sẽ không còn hoạt động được nữa. Cũng vậy, nếu một giám mục — ở Hoa Kỳ chẳng hạn — tự cắt mình khỏi các chi thể xa xôi của Nhiệm Thể Đức Kitô, như châu Phi, châu Á, hay châu Mỹ Latinh, thì chính giáo phận và chức giám mục của ngài cũng sẽ suy yếu. Hai bên tim không trực tiếp thông hiệp với nhau; chúng chỉ thông hiệp vì dòng máu đi từ bên này, chảy qua toàn thân, rồi trở về bên kia. Mỗi giám mục, mỗi giáo phận, mỗi giáo xứ đều vừa thông hiệp với chính mình, vừa thông hiệp với toàn thể Nhiệm Thể Đức Kitô.

Ơn gọi linh mục và Bí tích Truyền Chức Thánh đến từ đâu? Thánh Kinh cho biết: con người phải được Thiên Chúa kêu gọi, như Aharon đã được kêu gọi. Không ai tự ý nhận lấy chức vụ này. Thiên Chúa không luôn chọn những người giỏi giang nhất. Thánh Phaolô nói: “Không mầy người khôn ngoan, không mấy người quyền thế” (x. 1 Cr 1,26), bởi vì quyền năng thật sự không ở nơi chúng tôi, mà ở nơi Đức Kitô. Chính vì thế, Người chọn những khí cụ yếu đuối, những bình sành dễ vỡ, để mang kho tàng của Người.

Ơn gọi đến với chúng tôi, phần lớn, là một ơn gọi thầm lặng. Thiên Chúa không bao giờ từ trời xuống, lay giường chúng ta và nói: “Nào, dậy đi! Ta muốn con làm linh mục.” Trái lại, đó là một lời mời gọi liên lỉ. Tôi không thể nhớ nổi có lúc nào trong đời mình mà tôi không muốn trở thành linh mục. Lời cầu nguyện trong ngày Rước Lễ Lần Đầu của tôi chính là xin ơn được làm linh mục. Suốt thời gian học tập, tôi luôn cảm thấy mình bất xứng — và bây giờ tôi còn cảm thấy bất xứng hơn nữa. Thật vậy, bức tranh càng được đưa ra ánh sáng mặt trời thì những khiếm khuyết càng lộ rõ; chúng tôi càng nhìn mình dưới ánh sáng của vị Thượng Tế cao cả mà chúng tôi phải đại diện, thì chúng tôi càng thấy mình ô uế hơn. Những kho tàng Thiên Chúa đã trao vào tay chúng tôi, và số lãi ít ỏi chúng tôi sinh được từ đó, làm chúng tôi sợ hãi.

Mỗi người chúng ta đều giống như Simon Phêrô. Hãy nhớ rằng Simon là cái tên ông nhận từ gia đình; còn Phêrô là cái tên Chúa chúng ta ban cho ông. Nơi mỗi linh mục đều có hai chiều kích ấy. Có bản tính Simon mà chúng ta nhận từ cha mẹ: thân xác yếu đuối, trí tuệ giới hạn và ý chí mong manh —Thiên Chúa sử dụng chính những điều đó. Và rồi có bản tính Phêrô: tiếng gọi từ Thiên Chúa và việc Người ban các quyền năng thần linh — tha tội, thi hành chức linh mục, tái diễnhy tế của đồi Canvê. Trong khi cảm nhận những quyền năng lớn lao ấy, chúng tôi cũng đồng thời cảm nhận những yếu đuối sâu xa của mình. Chúng tôi chỉ mong rằng người ta sẽ không để bản tính Simon họ nhìn thấy nơi chúng tôi, che khuất quyền năng Phêrô.

Thật đáng suy nghĩ khi nhớ lại cách thánh Phêrô, vào cuối đời, đã biến đổi và trở nên khiêm nhường hơn. Trong bức thư thứ nhất, được viết vài năm trước khi qua đời, ngài mở đầu bằng cách xưng mình là Phêrô, Tông đồ của Đức Giêsu Kitô(1 Pr 1,1). Còn trong bức thư cuối cùng, được viết rất gần cái chết, ngài mở đầu: Simon Phêrô, tôi tớ và Tông đồ của Đức Giêsu Kitô (2 Pr 1,1). Ở cuối đời, ngài trở về với bản tính yếu đuối của Simon, và trong sự kết hợp giữa chức linh mục và chức giám mục — sự kết hợp giữa nhân loại và thần linh — ngài kết lại bằng việc gọi mình là tôi tớ. Chúng tôi là tôi tớ của Đức Giêsu Kitô.

Sự phục vụ của chúng tôi là một con đường gian nan. Nó đòi hỏi việc lao động trong cánh đồng của Chúa ban ngày và phục vụ lúc đếm. Không có chuyện cuối ngày chúng ta nói: “Thế là hôm nay tôi đã làm tròn bổn phận.” Trái lại, Chúa Giêsu nói rằng chúng ta phải tự xưng mình là những tôi tớ vô dụng (x. Lc 17,10). Càng ít tự mãn với chính mình bao nhiêu, thì lòng nhiệt thành phục vụ Người càng lớn bấy nhiêu. Nếu chúng tôi đếm số người trở lại đạo do mình, rất có thể chúng tôi sẽ nghĩ rằng chính mình đã làm nên điều đó, chứ không phải Chúa. Chúng tôi không thể nói: “Tôi đã xây ba nhà xứ, giờ giám mục phải phong tôi làm đức ông.” Người linh mục vẫn phải nhớ rằng mình chỉ là một tôi tớ vô dụng. Chúng tôi không thể mặc lấy luật lệ như của các công đoàn lao động và coi đó là đủ; chúng tôi thuộc về một “công đoàn” khác, nơi tình yêu là thước đo.

Khi nghĩ đến tất cả những gì Chúa đã làm cho chúng tôi, thật ra chúng tôi không bao giờ có thể làm đủ. Trong từ vựng của tình yêu, không có chữ “đủ”. Cũng như không ai có thể nói với một người mẹ đã thức trắng đêm bên giường đứa con đau bệnh rằng bà đã làm đủ rồi.

Chúng tôi biết mình được gọi là sứ giả của Đức Kitô, nhưng chúng tôi cũng là những nạn nhân của Đức Kitô. Chúng tôi biết rất rõ rằng Chúa Giêsu đã từ chối phân biệt giữa công việc trong giờ làm việc và việc làm thêm, giữa đang thi hành nhiệm vụ và sẵn sàng phục vụ, giữa việc đi một dặm hay thêm một dặm nữa, giữa việc cho áo ngoài hay cả áo trong. Không có chỗ cho sự tự mãn trước mặt Thiên Chúa: không tự thương hại, không tự tâng bốc khả năng quản trị của mình. Khi đã làm hết sức, chúng tôi vẫn chỉ là những tôi tớ vô dụng. Mọi công trạng và vinh quang của việc phục vụ đều thuộc về Chúa chúng ta. Phần chúng tôi chỉ là lòng biết ơn và sự khiêm nhường của những kẻ phản nghịch được tha thứ.

Tóm lại, chúng tôi là sứ giả của Đức Kitô, và là những kênh dẫn quyền năng của Người. Hành vi chính yếu và cao cả nhất của chúng tôi chính là Thánh Lễ.

Khi cử hành Thánh Lễ, chúng tôi đem Chúa Giêsu trên Thập Giá ra khỏi không gian ấy để đến với Paris, Cairo, Tokyo, và những miền truyền giáo nghèo nhất trên thế giới. Công việc của chúng tôi là mở rộng ơn tha thứ tội lỗi nhân loại của Đức Kitô và trao ban phép lành của Người bằng chính đôi tay nghèo nàn của chúng tôi. Khi tiến lên bàn thờ, chúng tôi khoác áo lễ. Gắn liền với tấm áo ấy là hàng triệu linh hồn trên thế giới chưa biết đến chính Đức Kitô. Khi cầm Mình Thánh trong tay, chúng tôi phải thấy những ngón tay mình được giải phóng khỏi cảnh nô lệ trong các mỏ muối Siberia. Chúng tôi phải thấy đôi chân mình như đôi chân rớm máu của những người tị nạn đang lê bước về phương Tây, hướng đến hàng rào kẽm gai, bên kia là tự do. Khi nhìn ngọn nến, chúng tôi nghĩ đến ánh lửa của những lò cao, nơi những con người gầy gò canh giữ, những người đã bị tàn phá cuộc đời bởi những kẻ chối bỏ công lý kinh tế.

Đôi mắt chúng tôi nhìn lên Mình Thánh, đẫm nước mắt của người góa phụ và nỗi đau của trẻ mồ côi. Dải dây các phép (stola) trên vai chúng tôi giống như dải dây của vị tư tế trong Cựu Ước, mang những viên đá của mười hai chi tộc. Nhưng nay, đó là những viên đá sống động: gánh nặng của mọi cộng đoàn của Giáo Hội và của toàn thể nhân loại. Chúng tôi kéo cả nhân loại lên bàn thờ, kết nối trời với đất. Chúng tôi hòa đôi tay mình vào đôi tay của Đức Kitô, vì Người vẫn hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta.

Về trang này

Trang này là bản dịch tiếng Việt của cuốn sách "Your Life Is Worth Living: 50 Lessons to Deepen Your Faith", không phải là "Life Is Worth Living / Cuộc Đời Đáng Sống" cũng của ĐTGM Fulton Sheen.

Cuốn sách này đang được trongsach.com dịch với hy vọng bổ sung thêm tư liệu cho thư viện đức tin Công giáo của giáo dân Việt Nam.

Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân

Shakespeare nói về những nỗi khổ “mà xác phàm phải thừa hưởng” (Hamlet 3,1). Những nỗi khổ và bệnh tật ấy là điều chúng ta nói tới trong nghi thức xức dầu khi hấp hối  hay xức dầu bệnh nhân khi nghiêm trọng. Bí tích này cũng được gọi là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân.

Bệnh tật tác động đến chúng ta cả về thể lý lẫn tâm lý, trước hết là bằng cách cắt đứt nhiều dịp dẫn đến tội lỗi. Ý chí phạm tội chắc chắn bị suy yếu khi thân xác trở nên đau yếu. Bệnh tật cũng làm lộ rõ tính độc đáo của mỗi nhân vị. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng: “tôi là chính tôi”; cái tôi đối diện với chính mình, linh hồn nhìn thấy chính nó. Bệnh tật phá vỡ ảo tưởng coi khoái lạc là tất cả, coi rằng điều duy nhất đáng làm là tiếp tục xây những kho lẫm lớn hơn, như thể cuộc sống là vô nghĩa nếu không đầy kích thích. Khi ấy, chúng ta điều chỉnh lại hệ giá trị của mình và bắt đầu hiểu lời Chúa chúng ta: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn mình nào có ích chi?” (Mt 16,26).

Bệnh tật có thể dẫn đến cái chết. Có một sự khác biệt rất lớn giữa cách người ngoài Kitô giáo đối diện với cái chết và người theo Kitô giáo. Người ngoại giáo sợ mất thân xác; người Kitô hữu sợ mất linh hồn. Đối với Kitô hữu, sự sống thể lý và thế gian không phải là tất cả. Thế gian này đối với họ chỉ là giàn giáo; là giàn giáo để các linh hồn leo lên Nước Trời. Khi linh hồn cuối cùng đã leo lên, giàn giáo ấy sẽ bị tháo dỡ và thiêu hủy trong lửa hừng hực—không phải vì thế gian là xấu xa, mà vì công việc của nó đã hoàn tất.

Còn một khác biệt nữa giữa người ngoài Kitô giáo và người Kitô hữu khi nói đến cái chết. Người Kitô hữu không bao giờ cảm thấy toàn bộ hiện hữu của mình bị đe dọa bởi cái chết; còn người ngoại giáo thì có. Người ngoại giáo luôn tiến về phía trước hướng đến cái chết như thể đang bước tới một vực thẳm. Người Kitô hữu thì bước lùi khỏi cái chết. Họ bắt đầu từ sự thật: “Một ngày nào đó tôi sẽ chết; một ngày nào đó tôi phải trả lẽ về việc quản lý đời mình.” Biết rằng mình sẽ chết, họ chuẩn bị đời sống mình ngay từ bây giờ để có thể bước vào Nước Trời. Điều tồi tệ nhất có thể xảy đến với một Kitô hữu không phải là cái chết. Bi kịch lớn nhất là đã không yêu thương đủ.

Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu nền tảng của bí tích do chính Chúa chúng ta thiết lập: Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Các ngôn sứ đã nói nhiều về Đức Giêsu Kitô, đã mạc khải và loan báo Người như Đấng chữa lành bệnh tật. Trong vô số đoạn Tân Ước, chúng ta đọc được những lời như thế này: “Đức Giêsu đi khắp nơi giảng dạy, rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa mọi bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 4,23). Trong Tin Mừng Mác-cô, khi Chúa chúng ta ở Ghen-nê-sa-rét, Phúc âm kể rằng: “Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người ; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi” (Mc 6,56). Cũng như người phụ nữ bị băng huyết suốt mười hai năm—bà đã nói: “Tôi mà chạm được vào áo Người thôi, tôi sẽ được khỏi” (Mc 5,28).

Tin Mừng không thuật lại hết mọi phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu nhưng thánh Gioan kết thúc Tin Mừng của mình nói rằng nếu viết ra tất cả các phép lạ Chúa Giêsu đã làm, thì cả thế gian cũng không đủ chỗ chứa các sách ấy. Điều cốt yếu là: Chúa Giêsu, với tư cách là Con Thiên Chúa làm người, có quyền năng chữa lành bệnh tật.

Sau Phục Sinh, Chúa Giêsu đã thông ban quyền năng ấy cho các Tông Đồ. Tin Mừng thánh Mác-cô viết: “Họ sẽ đặt tay trên các bệnh nhân và các bệnh nhân sẽ được khỏi” (Mc 16,18). Rồi trong Tin Mừng thánh Lu-ca, chúng ta đọc về các Tông Đồ rằng: “Các ông đi rao giảng và chữa lành khắp nơi” (Lc 9,6). Chúa đã thông ban quyền năng ấy bằng cách nào? Người dạy các Tông Đồ chữa lành bằng dầu, vì Tin Mừng nói: “Các ông xức dầu cho nhiều người đau yếu và chữa họ khỏi bệnh” (Mc 6,13).

Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích Chữa Lành Bệnh Nhân, hay còn gọi là Xức Dầu khi hấp hối, và trao truyền bí tích ấy cho Hội Thánh của Người. Chúng ta thấy Hội Thánh sơ khai đã cử hành bí tích này đúng như cách chúng ta vẫn cử hành hôm nay. Thánh Giacôbê, một trong các Tông Đồ, viết trong thư của ngài rằng:

“Ai trong anh em đau yếu ư ? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến ; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy, sau khi xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện do lòng tin sẽ cứu người bệnh ; người ấy được Chúa nâng dậy, và nếu người ấy đã phạm tội, thì sẽ được Chúa thứ tha” (Gc 5,14–15).

Đây là mô tả sớm nhất chúng ta có về Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Hãy lưu ý rằng Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ dùng dầu. Cũng như trong các bí tích khác, Chúa dùng bánh và nước, thì ở đây Người dùng dầu, bởi vì dầu vốn được sử dụng để tăng cường sức lực thân xác. Các vận động viên thời xưa thường xức dầu lên thân thể mình, và Chúa đã dùng chính điều ấy cho bí tích này.

Vậy dầu này từ đâu mà có? Vào Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Giám mục sẽ làm phép các dầu. Có ba loại dầu được làm phép trong ngày ấy. Dầu dành riêng cho bí tích này được phân phát đến các giáo xứ khác nhau, và trong suốt năm, các linh mục dùng chính dầu ấy để xức cho bệnh nhân. Khi giám mục làm phép và thánh hiến các dầu này, ngài đọc lời nguyện đặc biệt sau đây trên dầu: Lạy Chúa là Cha mọi nguồn an ủi, Chúa đã muốn nhờ Con Chúa mà chữa bệnh tật những người đau yếu. Chúng con nài xin Chúa đoái thương nhận lời chúng con tin tưởng cầu nguyện. Xin ban Thánh Thần Chúa, Đấng an ủi từ trời xuống trên chất dầu này mà Chúa đã thương cho cây xanh tươi sản xuất, hầu bổ dưỡng thân xác để nhờ ơn phúc lành của Chúa, những ai được xức dầu đều lãnh nhận ơn hộ vực thân xác và tâm hồn, được khỏi mọi đau đớn, bệnh hoạn tật nguyền. Lạy Chúa, xin ban cho chúng con dầu Chúa đã chúc phúc nhân danh Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con.

Người bệnh, cũng như có một bí tích cho người bị thương cần một bí tích dành riêng cho họ không? Thật ra có một sự khác biệt rất lớn giữa bị thương và bị bệnh, giữa việc bị dao cắt và mắc bệnh đậu mùa. Chúa chúng ta đã thiết lập một bí tích cho những vết thương thiêng liêng của chúng ta, đó là Bí tích Hòa Giải. Và Người cũng có một bí tích dành cho cơn bệnh của thân xác, thân xác vốn kết hợp mật thiết với linh hồn. Vẻ đẹp của bí tích này là: tuy ân sủng được thông ban cho linh hồn, nhưng nó tác động đến thân xác một cách rất đặc biệt.

Bí tích này không hoạt động theo cách mà thần tính của Chúa chúng ta đã tác động đến nhân tính Người nhận lấy từ Đức Maria—không phải như thế. Nhưng cách nào đó đầy mầu nhiệm, hoa trái của Cuộc Khổ Nạn của Chúa tuôn đổ từ linh hồn vào thân xác, bởi vì không một phần nào của thân xác mà lại không từng là phương tiện của tội lỗi.

Bí tích đặc biệt này muốn xóa bỏ mọi dấu vết của tội lỗi và, cách nào đó, phục hồi thân xác lại tình trạng khỏe mạnh, nếu đó là ý Chúa. Không một tội nào mà lại không đi qua thân xác—không một tội nào. Ghen tị ư? Chắc chắn là qua đôi mắt: bạn thấy người khác khá giả hơn và muốn “bằng bạn bằng bè.” Kiêu ngạo ư? Đôi tai có thể đã can dự: ai đó nói rằng bạn thông minh hay xinh đẹp. Say sưa, ngoại tình, trộm cắp, phạm thánh—tất cả đều liên quan, cách này hay cách khác, đến thân xác, là đối tượng của bí tích này, kể cả đôi chân. Có những lần bạn đã bước vào dịp tội. Thậm chí cả cái mũi! Mũi cũng có thể góp phần vào tính phù hoa: bạn ngửi thấy mùi thức ăn ngon và đã ăn quá độ. Việc sử dụng nước hoa cũng có thể hàm chứa không ít sự phù hoa.

Khi tội lỗi đi vào linh hồn qua thân xác, nó luôn để lại dấu vết, giống như một số bệnh tật. Chúng để lại những ký ức nhỏ—không phải là những ký ức mà ta mong muốn. Vi-rút để lại những tàn tích của chính chúng; đó là lý do có những bệnh không mắc lại lần nữa. Một số bệnh còn để lại những dấu tích rõ rệt, đôi khi rất khó coi, như bệnh đậu mùa. Tội lỗi đi vào linh hồn qua thân xác, và theo thời gian, thân xác trở nên như ống khói, qua đó lửa và khói từ lò sưởi linh hồn bốc lên; ống khói dần đầy bồ hóng. Những con tàu đi trên đại dương bám đầy hà; cống rãnh thì bị tắc nghẽn. Bạn không thể để tội lỗi tuôn chảy qua đôi mắt, đôi tai, cái mũi và đôi chân mà các giác quan ấy không trở nên bít tắc, bồ hóng, nhơ bẩn, đầy hà.

Hội Thánh thanh luyện các lối ngõ của tội lỗi: mắt, tai, mũi, tay, môi và chân. Việc thanh luyện này diễn ra nhờ việc xức dầu và lời nguyện của linh mục. Trước hết, linh mục xức dầu trên trán, và nói:

Nhờ việc xức Dầu Thánh này và nhờ lòng từ bi nhân hậu Chúa, xin Chúa dùng ơn Thánh Thần mà giúp đỡ con. Amen.

Rồi linh mục xức dầu trên tay, và nói:

Xin Chúa giải thoát con khỏi mọi tội lỗi, và thương làm cho con thuyên giảm. Amen.

Xức Dầu khi hấp hối, hay Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, được ban cho một linh mục, ngài luôn được xức dầu ở mu bàn tay. Còn giáo dân thì luôn được xức dầu ở lòng bàn tay. Lý do là vì lòng bàn tay của linh mục đã được xức dầu khi ngài được truyền chức linh mục.

Bí tích Xức Dầu khi hấp hối chỉ được ban trong trường hợp bệnh nặng. Người lãnh nhận phải ở trong tình trạng nguy tử do bệnh tật. Không cần phải chắc chắn là sắp chết. Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân không được ban cho binh lính ra trận: họ có nguy cơ tử vong, nhưng không phải do bệnh. Nếu họ bị thương, thì có thể được xức dầu.

Bí tích này không nên trì hoãn cho đến khi bệnh nhân đã bất tỉnh và không còn có thể hiệp thông trong lời cầu nguyện. Bí tích nên được ban khi người bệnh còn có thể nâng tâm hồn mình lên quyền năng chữa lành của Đức Kitô, Đấng đang làm mới các giác quan, linh hồn và chữa lành hậu quả của tội lỗi nơi họ.

Bí tích này không có nghĩa là người lãnh nhận chắc chắn sẽ chết. Nhiều người tin rằng khi linh mục được mời đến ban bí tích này thì bệnh nhân đã hết hy vọng. Công đồng Trentô đã bác bỏ quan niệm coi Xức Dầu khi nghiêm trọng chỉ là bí tích dành cho người hấp hối.

Trong việc cử hành bí tích này, không hề có nhắc đến cái chết. Đây không nhất thiết là bí tích dành cho người sắp chết; đây là bí tích dành cho người bệnh. Sau đây là một lời nguyện mà linh mục đọc sau khi đã xức dầu trên tay, chân và các phần khác của thân thể. Hãy lắng nghe lời nguyện này và lưu ý cẩn thận rằng không có từ “chết” nào được dùng. Trọng tâm của lời nguyện là việc phục hồi người bệnh:

Lạy Đấng Cứu Chuộc chúng con, xin dùng ơn Chúa Thánh Thần mà chữa lành những đau đớn của người anh (chị) em chúng con đây, xin cũng hàn gắn những thương tích và thứ tha tội lỗi, xin làm tiêu tan mọi đau khổ xác hồn, và xin thương hoàn lại sức khoẻ dồi dào trong ngoài cho người anh (chị) em này, để khi đã bình phục nhờ lượng từ bi Chúa, người anh (chị) em này lại có thể chu toàn nghĩa vụ như trước. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

Mặc dù bí tích được ban trong một thời điểm nghiêm trọng, nhưng mối quan tâm của nó là bệnh tật hơn là cái chết. Vì thế, bí tích này hoàn toàn có thể được gọi là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân. Ân sủng luôn được ban cho linh hồn. Con người chúng ta là một toàn thể hiệp nhất, gồm thân xác và linh hồn, và trong bí tích này, ân sủng có tác động đặc biệt đến thân xác. Dùng một thuật ngữ hiện đại, ta có thể gọi đây là bí tích mang tính tâm–thể, bí tích của thân xác và linh hồn.

Bí tích này hướng đến việc chữa lành thân xác, không theo nghĩa lâm sàng, bởi vì Hội Thánh nhìn thân xác khác với y học. Đối với Hội Thánh, thân xác không chỉ là một cơ thể sinh học; nó còn là đền thờ của Thiên Chúa, là nơi cư ngụ của sự sống thần linh. Chính vì thế thánh Phaolô nói rằng thân xác là cho Chúa.

Do đó, bí tích này nhắm đến thân xác: xin ban cho thân xác sự nâng đỡ, để nó không cản trở tình yêu của linh hồn đối với Thiên Chúa. Chúng ta sẽ thiếu sót nếu không nhận ra vẻ đẹp của bí tích này. Tôi tự hỏi liệu chúng ta có thực sự diễn tả được đức tin mà lẽ ra chúng ta phải có hay không. Thánh Giacôbê đã nói đến đức tin mạnh mẽ cần có khi lãnh nhận bí tích này chăng? (Gc 1,5–8). Khi Vị Lương Y thần linh đến với chúng ta, chúng ta nên chú tâm vào Người hơn là vào bệnh tật của mình.

Bệnh tật không loại trừ sự có thể đến của cái chết, vì tất cả chúng ta đều đang ở dưới án phạt của sự chết. Nếu chúng ta thực sự lâm nguy tử, thì chúng ta lãnh nhận bí tích dành cho người sắp chết, đó là Của Ăn Đàng (Viaticum). Của Ăn Đàng là Thánh Thể được ban cho người hấp hối. “Viaticum” có nghĩa là lương thực cho cuộc hành trình—mang Chúa theo mình trên đường đi.

Nếu theo thánh ý Thiên Chúa, cái chết không còn được trì hoãn, thì trong bí tích này—vì các giác quan của chúng ta đã được thanh luyện—chúng ta được kết hợp với cái chết của Đức Kitô. Chúng ta đã được chịu phép rửa trong cái chết của Người. Thánh Thể nhắc chúng ta nhớ đến cái chết của Người. Ở đây, chúng ta được kết hợp với Người cách đặc biệt. Chúng ta thưa cùng Chúa trên thập giá: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Cái chết của chúng ta được kết hợp với cái chết của Người, và đồng thời chúng ta cũng được kết hợp với Sự Phục Sinh của Người.

Bí tích này loan báo trước việc xức dầu của vinh quang mai sau. Bí tích ấy cho chúng ta được nếm trước sự phục sinh của thân xác, bằng cách tác động đến tư tưởng và ước muốn của chúng ta. Nhờ đó, chúng ta có thể ra trước mặt Thiên Chúa với toàn bộ thân xác mình, đã được thanh tẩy đến từng ngóc ngách.

Bí tích tuyệt đẹp này bắc một nhịp cầu giữa đất và trời. Nỗi đau buồn sâu xa nhất của chúng ta được kết hợp với khát vọng hướng về Thiên Chúa. Nếu bạn muốn chứng kiến bí tích này, hãy cùng chúng tôi—những linh mục—vào phòng bệnh khi chúng tôi thi hành thừa tác vụ cho người hấp hối. Hãy cầu xin để bạn đừng bao giờ chết mà không có bí tích này.

Hoán Cải

Tiếp tục nói về bí tích Tha Tội / Thú Tội, chúng ta xem xét ba hành vi thiết yếu của bí tích Tha Tội: xưng tội, ăn năn tội, và làm việc đền tội để bù đắp. Chúng ta đã phần nào nói đến việc xưng tội, tức là việc nói ra các tội đã phạm. Vậy đâu là sự khác biệt giữa việc xưng tội mang tính văn chương, xưng tội theo phân tâm học, và xưng tội mang tính bí tích?

Trước hết, hãy xét xưng tội văn chương, như kiểu của Jean-Jacques Rousseau. Những người viết “tự thú” ngày nay không thú nhận tội lỗi vì lý do như ta làm trong bí tích. Rousseau có niềm kiêu hãnh lớn khi phơi bày chính mình. Tâm tình này gần như ngầm xuất hiện trong những bản tự thú hiện đại: “Bạn thấy không, tội là hạng người tồi tệ thế nào!” Cách tự thú đó không chỉ có tính kiêu ngạo, mà còn có ý hướng gây kích động những cảm xúc, ham muốn, dục vọng và đam mê nơi người đọc. Mỗi lần mô tả tật xấu lại làm tăng khoái cảm.

Khi thánh Augustinô viết sách Tự Thuật, ngài đầy xấu hổ, chứ không hề tự mãn. Ngài không kể chi tiết những tội nặng của mình. Đọc sách Tự Thuật, người ta có cảm tưởng tội nặng nhất của ngài chỉ là trộm một quả táo—vốn là biểu tượng cho tất cả tội lỗi nghiêm trọng của ngài. Và ngài nói rằng ngài viết Tự Thuật để mọi người biết lòng thương xót của Thiên Chúa. Nếu bạn muốn đọc một tác phẩm phân tích tâm hồn tuyệt vời nhất, hãy đọc Tự Thuật của thánh Augustinô.

Giờ đến một phản đối khác: Xưng tội và kể tội cho nhà phân tâm hay bác sĩ tâm thần khác nhau thế nào?

Có nhiều điểm khác biệt: Phân tâm học bàn về tâm trạng; xưng tội nói về lương tâm và tội lỗi. Trong phân tâm học, người ta bộc lộ trạng thái tâm lý, nhất là những điều vô thức. Xưng tội là bộc lộ lương tâm, là thừa nhận tội. Xưng tội là cuộc gặp gỡ giữa lương tâm và Thiên Chúa. Việc tiết lộ vô thức của mình thường không khiến người ta khiêm nhường. Nhiều người kể chuyện với nhà phân tâm rồi tự hào hỏi: “Bác sĩ đã bao giờ gặp ca nào như tôi chưa?”

Một khác biệt nữa giữa hai hình thức ấy là thế này: ai cũng muốn tự mình nói ra điều của mình, vì không ai hiểu rõ tội lỗi của mình hơn chính bản thân mình. “Để tôi tự nói” là một quyền căn bản của con tim con người. Việc xưng tội đáp ứng đúng nhu cầu đó. Mọi trí óc lành mạnh đều khó chịu khi bị những trí óc xa lạ dò xét. Mỗi người đều muốn tự tay mở cánh cửa lương tâm riêng của mình, chứ không muốn có ai từ bên ngoài phá cửa xông vào. Chính tính độc đáo của mỗi nhân vị trao cho chúng ta quyền được trình bày trường hợp của mình bằng chính lời lẽ của mình, và đó chính là điều diễn ra trong việc xưng tội. Chúng ta là chứng nhân của chính mình. Chúng ta là công tố viên của chính mình. Và ở một mức độ nào đó, chúng ta cũng là thẩm phán của chính mình. Không linh hồn nào thích bị soi xét như một con côn trùng!

Một khác biệt nữa liên quan đến người mà ta thú nhận tội lỗi. Việc xưng tội luôn được thực hiện trước một đại diện của trật tự luân lý. Nhà phân tâm không đại diện cho trật tự luân lý, mà cho trật tự cảm xúc. Khi bạn đến với một đại diện của trật tự luân lý, bạn đến đó để được nên tốt hơn, để được tha tội, chứ không phải để tội lỗi của mình được giải thích cho nhẹ đi.

Trong việc xưng tội, mối tương quan giữa cha giải tội và hối nhân hoàn toàn mang tính phi cá nhân. Chính cấu trúc của việc xưng tội bảo vệ hối nhân khỏi việc lộ danh tính: có tấm ngăn, có tấm màn; không có sự tiếp xúc nào, và linh mục không thể nhìn thấy người xưng tội. Hối nhân có thể xưng tội cách vô danh để việc xưng tội được thành sự, và có thể xưng với bất cứ linh mục nào; không có gì khác biệt cả. Lương tâm mang mặc cảm tội lỗi không muốn thú tội với một nhà lý thuyết của một hệ thống nào đó, mà với một trung gian, với Thiên Chúa. Hội Thánh đòi hỏi linh mục ban ơn tha tội phải ở trong tình trạng ân sủng, chính ngài cũng là người tham dự vào sự sống thần linh.

Phân tâm học không bao giờ đặt vấn đề về tư cách luân lý của nhà phân tâm. Ông ta có thể đang đánh vợ ở nhà cũng không ai hỏi đến. Nhưng Hội Thánh thì luôn đặt vấn đề ấy một cách nghiêm túc. Chúng ta không bao giờ trở nên tệ hơn khi nhìn nhận nhu cầu cần được tha tội. Chúng ta cũng không trở nên tệ hơn khi thú nhận rằng khi đi xưng tội, tất cả chúng ta đều mang một con tim tan vỡ. Chúng ta dám đối diện với tội lỗi và trách nhiệm của mình, vì chúng ta có một lợi thế lớn lao: cho phép Thiên Chúa bước vào chính những con tim tan nát ấy.

Trong việc xưng tội tự nhiên, hối nhân không bao giờ bị triệu tập hay bị ép buộc phải đến. Không có trát đòi; người ấy tự nguyện đến. Người ấy không bị cáo buộc; chính người ấy tự tố cáo mình. Không có nhân chứng bên ngoài; chính người ấy làm chứng chống lại mình như là thủ phạm. Vì thế, không có yếu tố công lý báo thù như trong các tòa án dân sự. Lý do người ta đi xưng tội là để được chữa lành, được tái kết hợp với Đức Kitô, và để lãnh nhận lòng thương xót của Người.

Khi đi xưng tội, chúng ta có thể quên một số tội. Nếu vô tình quên không xưng một tội nặng, thì cũng không cần phải quay lại xưng tội ngay. Tội ấy đã được tha trong ý hướng muốn xưng tất cả các tội, nhưng cần phải xưng rõ ràng tội đó trong lần xưng tội kế tiếp. Dường như ít ai nhận ra lợi ích to lớn của việc xưng tội đối với việc hình thành nhân cách. Bí tích này ban ân sủng và tăng sức mạnh cho ý chí. Có một người không có đức tin đã từng viết: “Thói quen xưng tội hằng tháng là một hàng rào bảo vệ tuyệt vời cho luân lý của giới trẻ. Nỗi hổ thẹn phát sinh từ việc xưng tội khiêm tốn này có lẽ cứu được nhiều người hơn cả những động lực tự nhiên cao thượng nhất.”

Giờ đây, giả sử việc xưng tội đã được thực hiện, chúng ta bước sang hành vi thứ hai của bí tích, đó là lòng thống hối hay đau buồn vì tội. “Thống hối” có nghĩa là bị bẻ gãy, bị nghiền nát, xuất phát từ động từ Latinh conterere. Lòng thống hối không phải là một nỗi ân hận mang tính trần thế, chỉ gắn với quá khứ. Nó không quy chiếu vào một chuẩn mực, không quy chiếu vào Thiên Chúa, cũng không quy chiếu vào sự sống thần linh của Đức Kitô. Lòng thống hối là ước muốn cho điều đã xảy ra trở thành như chưa từng xảy ra, và không quy chiếu đến tha nhân hay chính bản thân mình.

Sự khác biệt giữa hai điều này được thấy rất rõ trong trường hợp của Giuđa và Phêrô. Cả hai đều đã phạm tội. Chính Chúa chúng ta đã nói cả hai sẽ sa ngã. Người gọi Phêrô là “Xa-tan” (Mt 16,23), và Kinh Thánh nói rằng chính Giuđa đã bị quỷ ám (Lc 22,3). Vậy tại sao Phêrô được tha thứ còn Giuđa thì không? Bởi vì Giuđa hối hận quay về với chính mình (Mt 27,3) — đó là cách diễn tả chính xác của Kinh Thánh. Còn Phêrô thì hối hận quay về với Chúa. Giuđa có sự ân hận; Phêrô có lòng đau buồn đích thực, tức là thống hối. Lòng thống hối là một thái độ nội tâm chân thành, một khuynh hướng sâu xa của linh hồn.

Có người nói: “Người Công giáo khi phạm tội chỉ cần đi xưng tội, thú nhận các tội mình đã phạm, rồi bước ra trắng tinh như tuyết.” Không hề như thế! Việc chỉ xưng tội mà không có lòng đau buồn thật sự và quyết tâm chừa cải thì không làm cho việc xưng tội thành sự. Lời xá giải của linh mục không mang hiệu quả nếu không có sự thống hối nghiêm túc. Trong một số điều kiện nhất định, người ta có thể được tha tội mà không cần nói ra các tội đã phạm; nhưng trong bất cứ trường hợp nào, nếu không có lòng đau buồn vì tội thì ơn tha thứ cũng không có hiệu lực.

Sau đây là một câu chuyện cho thấy tầm quan trọng của lòng thống hối. Theo một câu chuyện giả dụ, có một người là kẻ móc túi đi xưng tội. Trong lúc xưng tội — diễn ra ngay trong phòng riêng của linh mục — người ấy đã lấy cắp chiếc đồng hồ của linh mục. Đến cuối buổi xưng tội, anh ta nói: “Thưa cha, con quên nói một điều: con đã ăn cắp một chiếc đồng hồ.”

Linh mục nói: “Con phải trả lại cho người chủ.”

Người kia đáp: “Thưa cha, con sẽ đưa lại cho cha.”

“Không,” linh mục nói, “cha không muốn. Con phải trả lại cho người chủ.”

“Nhưng,” người kia nói, “người chủ không chịu nhận lại.”

“Nếu vậy,” linh mục đáp, “con cứ giữ lấy.”

Ở đây không hề có lòng đau buồn, và rõ ràng phải có thống hối và đền tội.

Hãy nhớ Chúa chúng ta đã nhấn mạnh: “Nước Thiên Chúa đã đến gần. Hãy sám hối! Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mt 3,2). Chúa Giêsu coi lòng thống hối quan trọng đến mức Người đã mở đầu việc loan báo Nước Thiên Chúa bằng lời kêu gọi sám hối. Như Người nói: “Nước Thiên Chúa đã đến gần. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Đây là bài giảng đầu tiên của thánh Phêrô; cũng là bài giảng đầu tiên của Gioan Tẩy Giả; và cũng là bài giảng cuối cùng Chúa Giêsu đã rao giảng. Lòng đau buồn vì tội là điều tuyệt đối cần thiết.

Tại sao Thiên Chúa không thờ ơ trước tội lỗi? Vì Thiên Chúa là Đấng Thánh. Người phân biệt rõ ràng giữa kẻ tội lỗi và tội lỗi. Người muốn tách hai điều ấy ra: bệnh tật và bệnh nhân, sai lầm và người học trò. Vì thế, chúng ta phải đau buồn vì tội. Nhân đây tôi xin nói thêm: người Công giáo đau khổ hơn khi phạm tội so với người không có đức tin, bởi vì họ yêu mến nhiều hơn. Họ hiểu sâu sắc hơn tình yêu của Chúa chúng ta và công trình cứu chuộc trong Hội Thánh.

Hãy tưởng tượng hai người đàn ông cưới hai người vợ già khó tính. Một người chưa từng lập gia đình; người kia trước đó đã kết hôn với một người vợ xinh đẹp, hiền hậu, dễ thương và tận tụy, nhưng bà đã qua đời. Theo bạn, ai là người đau khổ hơn? Rõ ràng là người đã từng biết đến một tình yêu tốt đẹp hơn.

Người Công giáo đau khổ rất nhiều khi phạm tội, và không vì lý do nào khác ngoài việc họ đã làm tổn thương Đấng mà họ yêu mến. Dù đau khổ hơn, họ không bao giờ rơi vào tuyệt vọng. Đó là điểm khác biệt với thế gian. Nỗi đau buồn của chúng ta không chỉ là một nỗi buồn hướng về Chúa, mà còn là sự ghê tởm tội lỗi cùng với quyết tâm không phạm tội nữa.

Lòng đau buồn vì tội có hai loại: không hoàn hảo và hoàn hảo. Lòng đau buồn không hoàn hảo là nỗi buồn vì sợ mất thiên đàng và sợ hỏa ngục. Lòng đau buồn hoàn hảo là nỗi buồn vì đã xúc phạm đến Thiên Chúa. Khi đi xưng tội, trong lúc linh mục ban ơn xá giải, chúng ta đọc Kinh Ăn Năn. Hãy để ý rằng Kinh Ăn Năn kết hợp cả hai loại đau buồn ấy:

“Lạy Chúa con, con hết lòng ăn năn đau đớn vì đã xúc phạm đến Chúa, và con ghê tởm mọi tội con đã phạm, không những vì con sợ mất thiên đàng và chịu hình phạt hỏa ngục, mà nhất là vì các tội ấy đã xúc phạm đến Chúa là Đấng tốt lành vô cùng và đáng yêu mến trên hết mọi sự. Con quyết tâm, nhờ ơn Chúa, sẽ xưng các tội, làm việc đền tội và sửa đổi đời sống. Amen.”

Có lẽ tôi có thể minh họa hai loại đau buồn này bằng câu chuyện về hai đứa trẻ sinh đôi. Cả hai đều bất tuân lời mẹ như nhau. Một đứa đến với mẹ và nói: “Mẹ ơi, con xin lỗi. Thế là con không được đi ra ngoài chơi nữa, phải không?” Đó là lòng thống hối không hoàn hảo. Đứa kia thì ôm chầm lấy mẹ, bật khóc và nói: “Mẹ ơi, xin mẹ tha cho con! Con yêu mẹ!” Đó là lòng thống hối hoàn hảo.

Có lòng thống hối không hoàn hảo thì đủ để lãnh nhận ơn xá giải trong việc xưng tội bí tích. Nhưng giả sử bạn đang ở trong tình trạng tội lỗi mà không thể đi xưng tội được thì sao? Giả sử bạn đang ở trên một chiếc máy bay sắp rơi, hoặc là một người lính sắp bước vào chiến trận, hoặc đang ở trong bất cứ tình trạng tội nặng nào mà không có cách nào đi xưng tội ngay lập tức. Bạn phải làm gì? Bạn hãy dâng lên một hành vi thống hối hoàn hảo. Lòng thống hối hoàn hảo sẽ tha các tội, với điều kiện là bạn có ý định đi xưng tội bí tích vào dịp sớm nhất có thể.

Đi kèm với nỗi đau buồn ấy là quyết tâm chừa cải, vì chúng ta nói rằng chúng ta hứa sửa đổi. Quyết tâm chừa cải không phải là sự chắc chắn tuyệt đối rằng mình sẽ không bao giờ phạm lại. Điều đó sẽ là tự phụ. Thánh Phaolô nói: “Ai tưởng mình đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã” (1 Cr 10,12). Điều được hiểu là một quyết tâm vững vàng không phạm tội chính là ước muốn chân thành, với sự trợ giúp của ân sủng Thiên Chúa, làm hết sức mình để không sa ngã lần nữa.

Chúng ta xét mình và tìm cách tránh những dịp sa ngã. Khi đang ở trong tình trạng tội lỗi, và khi được tha thứ nhờ việc xưng tội bí tích, chúng ta quyết tâm vững vàng không phạm tội nữa. Cách bù đắp cho tội lỗi là loại bỏ càng nhiều càng tốt những dịp gây tội và sửa lại lỗi lầm càng sớm càng tốt. Nếu chúng ta cay độc và châm chọc người khác, chúng ta phải bù đắp điều đó. Nhiều người làm tổn thương người khác bằng những lời cay nghiệt mà chưa bao giờ xin lỗi; họ chỉ quên đi và cho qua. Thái độ như vậy không bày tỏ một quyết tâm chừa cải thật sự.

Nếu bạn đã lấy cắp điều gì, bạn phải trả lại. Nếu bạn đã phạm tội vu khống, bạn phải sửa lại. Rồi tôi nói thêm: bạn phải tránh những dịp tội qua một số sách báo, các mối quan hệ, hay những cuộc viếng thăm nào đó; bạn tránh chúng để chứng tỏ sự chân thành của nỗi đau buồn của mình. Lòng thống hối là Eros — thần xác thịt — trong nước mắt. Lòng thống hối là ý hướng từ bỏ cái tôi. Điều đó rất khó, và đôi khi giống như bị lột da sống vậy.

Để kết thúc bàn về lòng đau buồn vì tội, có thể bạn sẽ hỏi tôi: “Trong việc xưng tội, loại nào phổ biến hơn: thống hối hoàn hảo hay không hoàn hảo?” Theo kinh nghiệm của tôi, tôi cho rằng thống hối hoàn hảo phổ biến hơn, bởi vì đa số người ta đau buồn vì tội mình không những vì sợ mất thiên đàng và sợ hỏa ngục, mà còn vì đã làm tổn thương Chúa của mình. Quả thật, chính Thập Giá mạc khải trọn vẹn chiều kích của tội lỗi. Không ai có thể thấy tội lỗi trong sự trần trụi hoàn toàn của nó nếu chưa hiểu ơn cứu chuộc. Hãy lấy những sai lầm, ngu dại và tội ác thường ngày làm ví dụ: người ta thường tóm lại bằng câu “Ôi, tôi đã làm một điều ngu xuẩn biết bao!” Nhưng giữa câu nói ấy và câu “Ôi, tôi là một tội nhân xấu xí chừng nào!” có một khoảng cách rất lớn.

Khi chúng ta đi xưng tội, trong tòa giải tội luôn có một cây thánh giá. Khi quỳ ở đó, chúng ta thấy Sự Thiện bị đóng đinh trên thập giá. Hãy nhớ rằng chúng tôi, các linh mục, cũng phải đi xưng tội mỗi tuần. Chúng tôi cũng là những tội nhân. Khi nhìn lên thánh giá trước mặt, chúng tôi thấy chính tiểu sử của mình. Không cần ai viết cuộc đời tôi cả! Nó đã ở đó, bị đóng đinh trên thập giá! Tôi có thể đọc thấy những tư tưởng của mình nơi mão gai; những chiếc đinh như vô số mũi kim xuyên qua da thịt và giấy da. Ở đó, tôi thấy chính tôi như tôi thực sự là. Vì thế, không ai trong chúng ta dám nói: “Ồ, chúng ta đâu có tệ như những kẻ đã đóng đinh Chúa chúng ta.” Đừng quên rằng họ chỉ đóng đinh Chúa về mặt thể lý; chính tội lỗi đã đóng đinh Người! Ở điểm này, tất cả chúng ta đều như nhau; tất cả chúng ta đều là những kẻ đại diện.

Khi đi xưng tội, chúng ta gom lại toàn bộ rác rưởi của cuộc đời mình, thứ rác mà ta đã quẳng xuống những tầng hầm của đời mình như vẫn quẳng rác xuống tầng hầm của nhà mình. Rồi chúng ta mang tất cả lên và đặt dưới chân Chúa chúng ta.

Nếu bạn từng đi dạo vào chiều hay tối thứ Bảy đến một nhà thờ lớn trong thành phố, nơi có hàng loạt tòa giải tội ở hai bên, hẳn bạn đã thấy những bàn chân thò ra dưới tấm rèm nhỏ của các tòa giải tội: bàn chân to, bàn chân nhỏ, bàn chân đàn ông, bàn chân đàn bà. Đó là những người cuối cùng đã dám từ bỏ tội lỗi của mình. Phần duy nhất của họ lộ ra trước thế gian, nhô ra dưới tấm rèm, chính là đôi chân — phần thấp hèn nhất, biểu tượng của sự vắng bóng kiêu ngạo.

Khi một người Công giáo đi xưng tội, thay vì “đặt chân đẹp nhất lên trước”, họ lại “đặt chân tệ nhất lên trước”. Mỗi hối nhân, khi bước vào tòa giải tội, đều đã nói trong lòng: “Tôi có thể lừa người khác, nhưng tôi thật là ngu xuẩn khi tự lừa mình; và tôi là một kẻ tội lỗi ngu xuẩn biết bao khi nghĩ rằng mình có thể lừa được Thiên Chúa.”

Tội Lỗi và Bí Tích Tha Tội

Chúng ta đã nói rằng xét theo trật tự tự nhiên, tội là sự vi phạm luật Thiên Chúa. Mỗi tội có ba hậu quả: Làm con người xa cách với chính mình, với tha nhân, và Thiên Chúa.

Xa cách chính mình, vì linh hồn trở thành một bãi chiến trường. Sau khi phạm tội, người ta luôn cảm thấy như có cả một bầy thú dữ trong lòng. Tội cũng khiến con người xa cách người bên cạnh. Ai không sống được với chính mình thì cũng không sống được với người khác. Ca-in sau khi phạm tội đã hỏi: “Tôi là người giữ em tôi hay sao?” (St 4,9). Sau cùng, tội khiến ta xa cách Thiên Chúa và đem lại cảm giác cô đơn. Ở một mức độ nào đó, ta đắp lên một con đập trong tâm trí đáng lẽ nên có sự hiệp thông với Thiên Chúa.

Có tội trọng và có tội nhẹ. Ở đây ta đang nói về tội riêng, hay tội do chính ta phạm phải. Sự khác biệt giữa hai loại rất dễ hiểu. Trong đời sống thể lý, người ta nói một người bị thương “chí tử” khi vết thương giết chết người ấy. Nếu vết thương không nghiêm trọng, nó tương đương với tội nhẹ.

Trong tội trọng—xét theo bình diện siêu nhiên—ân sủng bị tiêu diệt và đời sống thần linh bị dập tắt. Trong trật tự siêu nhiên, tội trọng không chỉ là vi phạm luật Thiên Chúa mà còn là một cuộc đóng đinh. Thư Do Thái nêu câu hỏi: “Há họ lại đóng đinh Con Thiên Chúa một lần nữa sao?” (Hr 9,25-28). Tội là cái chết thứ hai vì nó giết chết sự sống thần linh. Khi phạm tội trọng, ta mất hết mọi công nghiệp đã tích lũy trước đó. Tuy nhiên, ta có thể lấy lại các công nghiệp ấy sau khi xưng tội—như cây cối hồi sinh vào mùa xuân sau một mùa đông khắc nghiệt.

Tội nhẹ không giết chết sự sống thần linh nhưng làm tổn thương nó—như những căng thẳng giữa bạn bè có thể đe dọa tình bạn nhưng không đoạn tuyệt hoàn toàn. Khi yêu ai, người ta không phân biệt: “Tội này nhẹ hay nặng?” Thật sai lầm khi nói: “Ồ, nếu là tội trọng thì tôi không làm; nhưng nếu là tội nhẹ thì được.”

Để tội là tội trọng, phải có đủ ba điều kiện: phạm một lỗi nặng, đầy đủ ý thức và cố tình.

Nếu bạn hái một trái táo từ vườn người hàng xóm có cả hàng chục cây, đó không phải là lỗi nghiêm trọng. Tội trọng cũng có thể là tội thiếu sót—như bỏ lễ Chúa Nhật. Tội trọng luôn cần có đầy đủ ý thức: trong Mùa Chay, nếu bạn ăn thịt ngày thứ Sáu vì tưởng là thứ Năm, thì không có tội trọng. Tội trọng đòi hỏi có sự cố ý, sự ưng thuận trọn vẹn của ý chí; sợ hãi, đam mê hay cưỡng bức có thể làm giảm mức độ ưng thuận nhưng không hủy bỏ hoàn toàn. Không phải lúc nào cũng dễ xác định ba điều kiện này, và cách tốt nhất là xưng tội như những trường hợp nghi nan, rồi xin linh mục phân định.

Trong tội trọng, có hai chiều kích: quay về với thụ tạo và quay lưng lại Thiên Chúa.

Để chữa lành mọi tội lỗi và đền bù cho những tội đã phạm sau bí tích Rửa Tội, Chúa đã thiết lập bí tích Tha Tội. Chất liệu mà ta dâng trong bí tích này chính là những tội của ta, được trình bày cho Giáo Hội xét xử. Mô thức của bí tích là lời xá giải của linh mục: Deinde, ego te absolvo a peccatis tuis in nomine Patris et Filii et Spiritus Sancti. Amen. “Vậy, Ta tha tội cho con nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.”

Chính Chúa chúng ta, chứ không phải Giáo Hội, đã thiết lập bí tích này. Bí tích ấy không hề tồn tại trong Cựu Ước, dù trong Cựu Ước đã có việc thú nhận tội lỗi trước mặt Thiên Chúa. Khi Adam ăn trái cấm, Thiên Chúa hỏi: “Ngươi đã ăn trái cây mà Ta cấm ngươi ăn đó chăng?” (St 3,11). Thiên Chúa biết rõ ông đã ăn. Tại sao Người hỏi? Để giúp ông thú nhận tội mình. Thiên Chúa hỏi Ca-in: “Em ngươi đâu rồi?” Thiên Chúa cũng muốn khiến Ca-in xưng thú, nhưng Ca-in từ chối việc thú tội và đáp lại: “Tôi là người giữ em tôi hay sao?” (St 4,9)

Trong suốt Cựu Ước, mọi người tội lỗi đều phải dâng của lễ đền tội, được thiêu đi trước công chúng như một hình thức thừa nhận công khai tội lỗi. Gioan Tẩy Giả nghe dân chúng xưng thú tội lỗi. Tất cả những điều ấy chỉ là hình bóng của bí tích sẽ đến, vì ơn tha thứ chỉ có thể đến qua Cuộc Khổ Nạn, công nghiệp và cái chết của Chúa Kitô.

Chúa Giêsu chắc chắn có quyền tha tội—và Người đã thực sự làm như vậy. Nhớ người bại liệt được thả xuống từ mái nhà: Chúa nói với anh ta: “Tội con đã được tha” (Mc 2,5). Những người Pharisêu đứng đó liền nói: “Ai mà có thể tha tội? Chỉ có một mình Thiên Chúa!” (2,7) Họ nói đúng: chỉ một mình Thiên Chúa có thể tha tội. Nhưng Chúa đã tha tội cách nào? Người đã làm việc ấy qua nhân tính của Người.

Thiên Chúa có thể thông ban quyền năng cho những bản tính nhân loại khác nếu Người thông ban quyền tha tội cho Giáo Hội. Người đã trao quyền ấy cho Phêrô khi trao chìa khóa Nước Trời, và nói: “Điều gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; điều gì con tháo cởi dưới đất, trên trời cũng tháo cởi.” Quyền này được trao cho Phêrô một cách riêng biệt, và được xác nhận bởi chính Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng mở rộng quyền ấy cho các Tông Đồ. Người thổi hơi trên họ—dấu chỉ của Chúa Thánh Thần—và nói: “Hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc.”

Chúa đang nói rằng mọi quyền năng Người có, Người truyền lại cho các Tông Đồ. Chính những lời Người nói với các ông ngụ ý việc nghe xưng tội; nếu không nghe, làm sao họ biết tội nào để tha, tội nào để giữ lại? Họ phải có chất liệu cụ thể để phân định.

Tại sao Chúa lại thiết lập việc xưng tội và nói ra tội lỗi? Tại sao ta không chỉ úp mặt vào khăn tay mà nói thầm với Chúa? Vì không có bằng chứng nào của lòng sám hối nếu chính ta là thẩm phán của mình.

Nếu trong xã hội, trước các tội giết người hay trộm cắp mà thẩm phán chỉ phát khăn giấy cho bị cáo tự lau nước mắt và ra về, thì còn gì gọi là công lý? Tội là kiêu ngạo; việc nói ra tội là sự khiêm nhường và việc đền bù.

Trong đời sống tự nhiên, những điều gây đau đớn sẽ đau hơn nếu ta giấu kín—như mụt nhọt hay răng sâu. Ta phải rạch nhọt để mủ thoát ra. Cũng vậy, Chúa muốn “rạch mở” linh hồn để giải thoát điều xấu bên trong. Linh hồn muốn tống khứ những gì gây hại. Tội được thú nhận thì mất sức mạnh, để lộ sự ghê tởm của nó. Còn tội lỗi bị đè nén thì sẽ bộc phát thành những phức hợp tâm lý. Khi chúng ta đậy nắp linh hồn mình lại, không cho phép những gì ở trong ta được thoát ra một cách lành mạnh, khi chúng ta kìm nén cảm thức tội lỗi, thì nó sẽ bắt đầu tuôn trào ra bằng hàng ngàn cách lệch lạc và bất thường.

Thiên Chúa đã tỏ ra đầy lòng thương xót khi thiết lập bí tích này. Nhưng có người sẽ hỏi: “Tại sao tôi phải xưng tội với một linh mục? Biết đâu ông ấy còn không thánh thiện bằng tôi.” Điều đó có thể đúng, vì các linh mục cũng nghe xưng tội của nhiều vị thánh. Nhưng dù bạn có thánh thiện hơn linh mục, bạn vẫn không có những quyền năng mà linh mục có. Bạn có thể là một công dân tốt hơn thị trưởng, nhưng ông ta vẫn có những thẩm quyền mà bạn không có.

Chính Chúa Giêsu Kitô đã trao quyền ấy cho Hội Thánh của Người, chứ không trao cho cá nhân. Vì thế, linh mục là thừa tác viên được ủy quyền của bí tích. Hơn nữa, không phải linh mục tha tội cho bạn. Con người không có quyền tha tội. Trong bí tích này, linh mục chỉ là dụng cụ của Đức Kitô; linh mục cho Đức Kitô mượn tiếng nói của mình. Chính Đức Kitô tha thứ, và những lời xá giải có nghĩa là: “Ta, Đức Kitô, tha tội cho con.”

Vậy tại sao lại phải xấu hổ khi xưng tội với linh mục? Linh mục bị ràng buộc bởi điều gọi là sigillum, ấn tín tòa giải tội. Ngài chỉ là dụng cụ của Chúa; những tội lỗi ngài nghe không phải là của ngài, cũng không thuộc về tri thức riêng của ngài. Trong trường hợp này, ngài chính là “tai của Đức Kitô”. Ngài không được phép tiết lộ bất cứ tội nào bạn xưng, dù phải chịu cái chết.

Giả sử tôi để tiền trong một ngăn kéo bàn làm việc, và mỗi ngày có ai đó vào lấy trộm một ít tiền. Rồi chính người ấy đến xưng tội với tôi. Tôi có thể bảo người ấy phải trả lại tiền, vì điều sai trái luôn cần được sửa chữa; nhưng vì tôi biết điều đó qua tòa giải tội, tôi sẽ không bao giờ được phép khóa ngăn kéo bàn làm việc của mình nữa. Không một tội nào của bạn từng được tiết lộ, và chúng tôi cũng không được phép nói với bạn về những tội ấy ngoài tòa giải tội. Nếu bạn đến xưng rằng mình đã ăn cắp tiền, tôi không thể gặp bạn sau đó và nói: “Anh còn nhớ anh đã nói với tôi về số tiền anh lấy ở xưởng dưa chua không? Anh đã trả lại chưa?” Thông tin ấy không thuộc về tôi; nó thuộc về Thiên Chúa.

Một lý do khác để xưng tội với linh mục là thế này: không có tội nào chỉ mang tính cá nhân. Mỗi tội lỗi đều làm suy yếu Nhiệm thể Chúa Kitô và làm tổn thương Hội Thánh. Vì thế, thật thích hợp khi một đại diện của Nhiệm thể Chúa Kitô đưa bạn trở lại sự hiệp nhất và hiệp thông của Thân Thể ấy. Trong Hội Thánh sơ khai, ngay cả các việc đền tội cũng mang tính công khai, để cho thấy một cách rất nghiêm trọng sự tổn hại đã gây ra cho qahal, tức Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Kitô, cho chính Hội Thánh.

Một lý do khác khiến chúng ta cần xưng tội với linh mục là: Không có tội nào chỉ mang tính cá nhân. Mỗi tội đều làm tổn thương Nhiệm Thể Chúa Kitô, làm suy giảm sự sống của Hội Thánh. Vì thế, thật phù hợp khi một đại diện của Nhiệm Thể Chúa Kitô đón nhận bạn trở lại trong sự hiệp nhất và hiệp thông. Trong Giáo Hội thời sơ khai, ngay cả việc đền tội cũng công khai, để diễn tả một cách nghiêm trọng sự xúc phạm đã gây ra cho cqahal, cho Nhiệm Thể Chúa Kitô, cho Hội Thánh.

Bây giờ, chúng ta đi vào việc xưng tội. Trước khi vào tòa giải tội, bạn xét mình. Bạn bắt đầu bằng việc cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng. Hãy nhớ rằng chỉ trước mặt Thiên Chúa, đặc biệt trước Thánh Giá, chúng ta mới thấy được tình trạng thật của mình. Ta không xét mình theo tiêu chuẩn riêng hay theo dư luận, nhưng theo tiêu chuẩn của chính Thiên Chúa.

Bạn có thể xét mình theo Mười Điều Răn, nhưng đây không phải lúc nào cũng là cách tốt nhất, vì dễ biến đời sống Kitô hữu thành một chuỗi bổn phận khô khan, dễ rơi vào lối sống duy luật, so đo, tính toán. Ta cũng có thể xét mình theo các nhân đức, hoặc theo bảy mối tội đầu.

Ta phải xét tội của mình theo số lần, loại tội, và hoàn cảnh. Khi xưng tội, bạn không bao giờ được kéo người khác vào. Bạn không thể nói: “Con giận, nhưng Cha phải biết vợ con thế nào mới được!” Kiểu xưng tội đó không chân thành.

Có một câu chuyện và chỉ là một câu chuyện. Một ngày nọ, một nhóm tiều phu từ Canada đến xưng tội. Họ đã không đi xưng tội hơn mười năm. Họ xếp hàng dài trước tòa giải tội. Người đầu tiên bước vào. Vì chưa xét mình, ông nói với linh mục:

“Thưa Cha, con đã phạm hết mọi tội mà đàn ông có thể phạm.”

Linh mục hỏi: “Anh đã bao giờ giết người chưa?”

Ông trả lời: “Chưa. Đó là tội duy nhất con chưa phạm.”

Linh mục bảo: “Vậy anh hãy ra ngoài xét mình lại—phải kể rõ số lần, loại tội và hoàn cảnh.”

Khi ông ra khỏi tòa, nhìn thấy hàng người nối dài, ông nói:

“Vô ích rồi, mấy anh em. Hôm nay Cha chỉ nghe tội giết người thôi!”

Giờ ta vào tòa và bắt đầu xưng tội. Ngay khi quỳ xuống, ta làm dấu Thánh Giá và nói: Thưa cha, con là kẻ có tội, xin cha ban phép lành cho con. Con xưng tội trong . . . (mấy tuần, mấy tháng)

Giả sử có người năm mươi năm không xưng tội. Ông nay tám mươi tuổi. Ông có thể xưng như thế nào? Ông không thể nhớ hết số lần hay chi tiết. Nhưng ông có thể làm một bản tổng hợp như sau:

Thưa Cha, đã năm mươi năm con chưa đi xưng tội. Trong hai mươi năm của đời con, con không bao giờ đi lễ. Con không lãnh nhận bí tích. Con không làm bổn phận Phục Sinh. Con không giữ chay. Nhiều lần trong ngày con đã xúc phạm danh Thiên Chúa; con đã thề gian trong tòa án khoảng năm lần. Con đã bất tuân một cách nghiêm trọng đối với nhà chức trách hai lần. Con đã trợ giúp cho một vụ phá thai hai lần. Con đã giết người một lần. Con đã nghiện rượu mười năm. Con có ý tưởng dâm uế gần như mỗi ngày trong khoảng ba mươi năm, và hành động dâm uế một mình nhiều lần trong khoảng mười năm. Khi sống với người vợ đầu tiên, con đã phạm ngoại tình nhiều lần trong ba năm. Khi bà ấy còn sống, con lại kết hôn lần nữa, nên con đã sống trong ngoại tình năm năm. Bây giờ bà ấy đã qua đời. Trong thời gian ấy trong công việc, con gian lận, trả lương thấp cho nhân viên; con chỉ nghĩ đến làm giàu. Con chưa bao giờ cho từ thiện trừ những lần bị ép vì xấu hổ với thiên hạ. Con đặc biệt hối hận một lần kia khi từ chối gửi một trăm đô-la cho Đức Thánh Cha để giúp truyền giáo dù con có rất nhiều tiền. Con đã sống buông thả theo vui chơi và tiệc tùng. Con không nhớ mình đã bao giờ giúp đỡ ai trong cơn hoạn nạn. Con chưa bao giờ hy sinh một buổi tối để giúp Giáo Hội. Con hoàn toàn bỏ bê vợ con. Con chưa bao giờ cho con cái đi học trường đạo; con để chúng muốn làm gì thì làm, rồi lại nổi giận vì sự vô đạo của chúng; và bây giờ con đang phải gánh chịu.

Vì những tội này và tất cả những tội khác trong đời con—những tội con không nhớ nhưng Thiên Chúa thấy rõ—con xin Thiên Chúa và Cha tha thứ cho con.

Đây là lời xưng tội của một người năm mươi năm xa lìa bí tích.

Tội Lỗi

Ba bí tích đã được bàn đến là Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. Tất cả các bí tích ấy đều liên quan đến một đời sống vượt trên đời sống thể lý: đó là tham dự vào đời sống thần linh. Nhờ Rửa Tội, chúng ta được sinh vào đời sống của Thiên Chúa; trong bí tích Thêm Sức, chúng ta lớn lên và chấp nhận trọn vẹn trách nhiệm gắn bó với Chúa; và trong Thánh Thể, chúng ta đạt đến tột đỉnh và ngây ngất của sự hiệp nhất với Chúa.

Bí tích Hòa Giải, hay xưng tội, liên quan đến những tội đã phạm sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Đây là bí tích lớn lao của lòng thương xót Chúa. Nếu được phép dùng từ này để diễn tả tính thực tế của Thiên Chúa, thì khi đã được sinh ra trong sự sống thần linh, chúng ta phải sống trong sự sống ấy. Tuy nhiên, chúng ta đã sa ngã, nhẹ hoặc nặng. Vì lòng thương xót của Người, Thiên Chúa đã thiết lập bí tích này, nhờ đó những tội phạm sau bí tích Rửa tội được tha thứ.

Con người không thể nghĩ ra được bí tích này, vì nó giống như một sự Phục Sinh: chúng ta sống lại sau khi đã chết. Đây là cuộc hành trình quay trở về với Thiên Chúa. Bí tích này giúp chúng ta loại trừ những “nhiễm trùng” trước khi chúng trở thành những căn bệnh trầm trọng hay dịch bệnh lan rộng.

Đây không phải là một bí tích khó chịu buộc ta phải đón nhận trong sự nhục nhã. Giải Tội là sự tuôn đổ của lòng thương xót Thiên Chúa vào tâm hôn; là cơ hội để gia tăng ân sủng phát xuất từ đồi Canvê; là liều thuốc chữa lành linh hồn; là việc băng bó các vết thương; là cuộc trở về nhà; là sự tháo gỡ quá khứ; là cơ hội để bắt đầu lại cuộc đời; là một dạng “Rửa Tội thứ hai.” Đôi khi sự hòa giải lại ngọt ngào hơn cả một tình bạn chưa từng sứt mẻ. Nếu chúng ta chưa bao giờ phạm tội, chúng ta không bao giờ có thể gọi Chúa Kitô là Đấng Cứu Độ. Bí tích Tha Tội là bí tích đưa chúng ta trở lại sự hiệp thông với Giáo Hội, với cộng đoàn của Thiên Chúa, với qahal của Người, với Nhiệm Thể của Người. Trước khi giải thích về Tha Tội, ta phải giới thiệu từ “tội.”

George Bernard Shaw từng nói con người thời nay quá bận nên không có thời giờ nghĩ về tội của mình. Có lẽ Shaw nên nói rằng con người hiện đại cố tình bận rộn để khỏi phải nghĩ về tội của mình. Mọi kẻ phạm tội đều là những kẻ trốn tránh, giống như Adam đã tìm cách trốn Thiên Chúa.

Những tội chúng ta bàn đến đây không phải là tội tổ tông, mà là tội riêng. Chúng ta đã nói về tội tổ tông và giải thích rằng đó không phải là tội cá nhân; đó là tội của bản tính nhân loại vì chúng ta là hậu duệ của Adam. Chúng ta bị vướng vào đó như công dân một đất nước bị lôi vào chiến tranh khi người lãnh đạo tuyên chiến. Tội nguyên tổ đem lại cho chúng ta khuynh hướng phạm tội, nhưng khuynh hướng không phải là tội. Nó chỉ khiến chúng ta có khả năng biến giới tính thành dâm dục, cơn khát thành nghiện ngập, cơn đói thành tham ăn, và sự thận trong thành tham lam. Vì tội, chúng ta giống như những người thừa kế một gia sản lớn nhưng cũng thừa kế luôn cả khoản nợ thế chấp. Bản tính chúng ta đã bị tổn thương trước khi ta kịp lãnh nhận nó.

Giờ đây chúng ta đến với những tội mà chúng ta chịu trách nhiệm cá nhân—gọi là tội riêng hay tội hiện hành. Tại sao tội lại có thể xảy ra? Vì chúng ta tự do. Bạn có thể bảo một người rằng họ phải làm điều gì đó, nhưng ý chí họ có thể chống lại. Tội nằm trong sự lạm dụng tự do—tức một chọn lựa sai lầm hay xấu xa. Tội không xảy ra nếu không có sự ưng thuận của ước muốn / ý chí. Ta có thể có hai thái độ sai lầm về tự do: cường điệu hóa tự do hoặc giảm thiểu tự do.

Khi chúng ta chối bỏ thân phận thụ tạo của mình và phủ nhận việc sống dưới lề luật của Thiên Chúa, chúng ta đã cường điệu hóa tự do. Đây là cốt lõi của cám dỗ mà ma quỷ đưa ra cho tổ tiên loài người. Hắn nói: “Các ngươi sẽ nên như thần minh” (St 3,5). Nói cách khác: “Các ngươi sẽ không còn là thụ tạo; các ngươi sẽ là đấng sáng tạo.” Chúng ta cường điệu tự do khi nói: “Tôi yêu chính mình, ý riêng của tôi. Tôi là luật cho chính tôi. Tôi tự quyết định điều gì là đúng, điều gì là sai. Tôi sẽ đối xử với người thân cận như kẻ thấp kém, như đồ chơi cho khoái lạc của tôi, như phương tiện cho lợi ích của tôi. Tôi là cứu cánh của chính sự hiện hữu của mình.” Đó chính là sự lạm dụng tự do nơi những người sống không có Thiên Chúa.

Ngược lại, tội cũng xảy ra khi chúng ta giảm thiểu tự do. Điều này xảy ra khi ta phủ nhận tội lỗi hay trách nhiệm. Chúng ta thu hẹp tự do khi nói rằng mọi mặc cảm tội lỗi chỉ là bệnh hoạn, chỉ là một phức cảm tâm lý, hay chỉ là di chứng còn sót lại từ những cấm kỵ tôn giáo, gia đình và luân lý.

Những người thu hẹp tự do thì luôn mong được khen ngợi khi họ làm điều tốt; nhưng khi họ làm điều xấu, họ lại nói: “Ồ, không, thật ra đó không phải lỗi của tôi. Tôi bị thúc ép, bị cưỡng bách,” và như thế họ chối bỏ trách nhiệm. Không ai là xấu; không ai là trẻ vị thành niên hư hỏng; họ chỉ là… bị bệnh mà thôi!

“Bạn mập lên quá à? Bạn đâu có lựa chọn; bạn là người ăn uống mang tính cưỡng bức!”
“Bạn uống quá nhiều à? Bạn đâu tránh được; bạn là người nghiện uống mang tính cưỡng bức!”
“Bạn ăn cắp à? Bạn đâu làm khác; bạn là kẻ trộm mang tính cưỡng bức!”

Bạn thấy đó, đằng sau cách nói ấy và đằng sau mọi lối trốn tránh khác luôn có giả định này: “Tôi bị định đoạt.”
“Tôi bị định đoạt bởi môi trường.”
“Tôi bị định đoạt bởi ông bà tôi.”
“Tôi bị định đoạt bởi một điều gì đó ở bên trong hoặc bên ngoài tôi.”

Việc chối bỏ tội lỗi này là điều nghiêm trọng. Thật vậy, có những biểu hiện của mặc cảm tội lỗi. Khi Lady Macbeth liên tục rửa tay, đó là một biểu hiện bệnh hoạn của mặc cảm tội lỗi; nhưng chính tội lỗi thật đã gây nên sự bệnh hoạn ấy, cụ thể là tội giết vua mà bà đã can dự. Trong quá khứ, người ta thường có thói quen đổ lỗi cho những yếu tố bên ngoài bản thân: kinh tế, chính trị, môi trường xấu, nghèo đói, xã hội, sữa loại B, thiếu sân chơi cho trẻ em. Trong mọi trường hợp, tội lỗi đều bị chuyển từ cá nhân ra bên ngoài chính mình. Một cái cớ phổ biến là nói: “Không, con người hoàn toàn không có tội. Lỗi không nằm ở các vì sao, mà hoàn toàn nằm trong tiềm thức của chúng ta. Chúng ta không thể tránh khỏi việc trở thành như thế.”

Một số hậu quả rất nghiêm trọng phát sinh từ việc phủ nhận tội cá nhân. Mục đích của nó, như bạn thấy, là khiến mọi người đều là ‘người tốt’. Kẻ tội lỗi nhất cũng trở thành người “dễ thương.” Nhưng khi phủ nhận tội, họ làm cho việc chữa tội trở nên bất khả.

Tội rất nghiêm trọng, nhưng phủ nhận tội còn nghiêm trọng hơn. Nếu người mù phủ nhận rằng có thứ gọi là “ánh sáng,” làm sao họ có thể thấy? Nếu người điếc phủ nhận rằng có “âm thanh,” làm sao họ có hy vọng để nghe? Khi chúng ta phủ nhận tội lỗi, chúng ta khiến việc tha thứ tội lỗi trở nên bất khả! Những người thường phủ nhận tội lại trở thành kẻ hay buôn chuyện, nói hành, và cực đoan trong phê phán, bởi họ phải chuyển dự án tội lỗi của mình sang người khác. Điều đó đem lại cho họ ảo giác rằng mình tốt.

Càng phủ nhận tội, họ càng gia tăng xét đoán người khác. Ở một số người, tội hoạt động như ung thư: âm thầm phá hoại và hủy hoại nhân cách trong thời gian dài mà không lộ ra. Khi bệnh biểu lộ, một số linh hồn tuyệt vọng—điều mà họ không nên làm.

Rồi tuyệt vọng xuất hiện; tuyệt vọng  đòi hỏi cái vô hạn. Loài vật không bao giờ tuyệt vọng, đơn giản vì chúng không biết đến cái vô hạn. Con người hiếm khi công khai nổi loạn chống lại cái vô hạn. Nhưng nếu đã nổi loạn, đã phạm tội mà vẫn không chấp nhận sự thật ấy, thì người ta sẽ tìm cách giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của tội lỗi bằng những lời bào chữa, giống như Ca-in đã làm. Con người hiện đại đã đánh mất sự hiểu biết về ý nghĩa của từ tội lỗi. Họ đổ lỗi cho người khác hay cho điều gì đó khác: cho vợ chồng mình, cho công việc, cho bạn bè, cho những căng thẳng. Đôi khi, vì phớt lờ tội lỗi thật, họ có thể trở nên loạn thần hoặc rối loạn thần kinh. Thật khủng khiếp khi tuyệt vọng chiếm lấy linh hồn.

Chạy xe với tốc độ bảy mươi dặm một giờ đã là quá nhanh; nếu tăng thêm hai mươi dặm nữa, mức độ nguy hiểm sẽ tăng vọt. Những tội lỗi không được sám hối sẽ sinh ra những tội lỗi mới, và tổng số chồng chất ấy khiến con người rơi vào tuyệt vọng. Lúc đó linh hồn sẽ thốt lên: “Tôi đã quá xa rồi!” Người nghiện rượu bắt đầu sợ một ngày tỉnh táo, vì ngày ấy sẽ buộc anh ta phải nhìn thấy tình trạng thật của mình. Càng trầm uất bao nhiêu, tội nhân càng cần trốn chạy bấy nhiêu qua những tội lỗi mới, cho đến khi trong cơn tuyệt vọng, anh ta kêu lên như Macbeth: “Ta đã từng sống trong một thời gian hạnh phúc, vì từ giây phút này chẳng còn gì nghiêm túc trong kiếp người nữa; tất cả chỉ là trò chơi. Danh vọng và phẩm giá đã chết” (Macbeth 2,3).

Tuyệt vọng thường biến thành thái độ cuồng tín chống lại tôn giáo và luân lý. Người đã rơi khỏi trật tự thiêng liêng sẽ căm ghét nó, vì tôn giáo nhắc họ nhớ đến tội lỗi của mình.

Một số linh hồn đạt đến điểm như Nietzsche: muốn gia tăng sự dữ đến mức mọi phân biệt đúng – sai bị xóa bỏ. Khi ấy họ có thể phạm tội mà không áy náy và nói như Milton: “Hỡi sự dữ, hãy là điều tốt của ta.” Khi ấy tiện lợi thay thế luân lý, tàn bạo hóa thành công lý, và dâm dục hóa thành tình yêu. Tội cứ nhân lên trong linh hồn ấy cho đến khi nó trở thành tình trạng thường trực của Satan. Như Seneca từng nói: “Mỗi kẻ có tội đều là đao phủ của chính mình.” Shakespeare thì nói: “Lương tâm khiến tất cả chúng ta trở thành kẻ hèn nhát.” (Hamlet 3.1). Chúng ta phải làm gì trước tình trạng này? Tiếp tục phủ nhận tội ư? Không tốt hơn sao khi cố gắng định nghĩa tội và hiểu nó?

Chúng ta đã khẳng định rằng tội lỗi không phải là biểu hiện của bản năng thú vật; không phải là sự bùng nổ của vô thức. Nó cũng không phải là điều xảy ra vì bà ngoại yêu ta quá ít hay ông nội yêu ta quá nhiều. Tội là một hành vi của tự do, qua đó chúng ta làm đảo lộn toàn bộ sự hài hòa của bản tính mình. Nó không chỉ là tìm kiếm tư lợi, mà là khẳng định cái tôi bằng mọi giá.

Ở đây chúng ta đang giả định một khái niệm rất căn bản về tội, vì thế hãy bắt đầu bằng vài ví dụ từ trật tự vật lý và sinh học.

Tội là sự bất tuân các luật Thiên Chúa đặt trong vũ trụ vật chất. Hãy giả sử ai đó xây một tòa nhà chọc trời nhưng không đúng chuẩn thẳng đứng; tòa nhà sẽ không đứng vững vì người ấy đã từ chối tôn trọng luật hấp dẫn. Theo nghĩa rộng, người ấy đã “phạm tội” chống lại luật vật lý. Ở mức độ cao hơn, lương tri cũng là phản ánh của luật Thiên Chúa. Tôi tự do đấm nắm tay mình xuyên qua cửa kính, nhưng hình phạt là một bàn tay rướm máu. Tôi đã vi phạm một quy luật và thấy rõ hậu quả.

Hãy đi vào trật tự sinh học. Tại sao bất cứ sự sống nào cũng chết? Nó chết vì có sự thống trị của trật tự thấp hơn đối với trật tự cao hơn. Khi nào cây cối chết? Khi trật tự hóa học bắt đầu thống trị sự sống của thực vật. Lửa giết chết cây cối; lửa thuộc về trật tự thấp hơn. Động vật có thể chết như thế nào? Nó có thể chết do sự thống trị của đời sống thực vật đối với đời sống động vật, chẳng hạn qua các loài cây độc.

Cái chết chính là sự thống trị của trật tự thấp hơn trên trật tự cao hơn. Khi nào linh hồn chết? Bất cứ khi nào trật tự thấp hơn thống trị trật tự cao hơn: cái tôi thống trị cộng đoàn, xác thịt thống trị tinh thần, thời gian thống trị vĩnh cửu, thân xác thống trị linh hồn. Khi đó xuất hiện cái chết mà ta gọi là tội lỗi. Thánh Kinh đặt cái chết trong trật tự sinh học song song với tội lỗi trong trật tự luân lý: “Lương bổng của tội lỗi là sự chết” (Rm 6,23).

Tội là một sự cố ý vi phạm luật Thiên Chúa. Nếu bạn mua một bình nấu cà phê điện, bạn sẽ thấy những chỉ dẫn ghi như một “điều răn”: “Không cắm điện khi bình trống.” Nếu bạn nói: “Tại sao ai lại được quyền bảo tôi làm gì? Họ xúc phạm quyền tự do của tôi!", thì bạn quên rằng nhà sản xuất đưa ra chỉ dẫn để bình được sử dụng đúng cách. Thiên Chúa cũng vậy: khi tạo dựng chúng ta, Người ban những luật không phải để phá hủy tự do, mà để ta có thể hoàn thiện chính mình. Khi ta vi phạm các luật ấy, chúng ta làm tổn thương chính mình. Ta phá vỡ một mối tương quan. Trong dụ ngôn Người Con Hoang Đàng, người cha nói về đứa con trở về: “Nó đã chết mà nay sống lại.”

Đó là sự đổ vỡ của một mối tương quan cá vị. Đối với những ai đang ở trong tình trạng ân sủng, tội lỗi giống như một cuộc đóng đinh: đó là làm tổn thương, làm đau Đấng chúng ta yêu mến. Tại sao chúng ta đau buồn vì tội mình? Không phải vì đã vi phạm một hợp đồng, cũng không chỉ vì đã vi phạm một lề luật, mà vì chúng ta đã làm đau lòng một Đấng chúng ta yêu thương. Chỉ khi chúng ta khám phá ra Thiên Chúa, và nhất là lòng thương xót của Người nơi Đức Kitô, chúng ta mới bắt đầu hiểu tội lỗi một cách trọn vẹn. Cần có tình yêu thì mới hiểu được tội lỗi. Điều đó nghe có vẻ lạ, nhưng là sự thật. Dù tội lỗi lớn đến đâu, vẫn luôn có lòng thương xót. Là kẻ có tội là nỗi khốn khổ của chúng ta; nhưng biết mình là kẻ có tội lại chính là niềm hy vọng của chúng ta, và niềm hy vọng ấy chính là bí tích Tha Tội.