Bí Tích Truyền Chức Thánh

Cho phép tôi kể cho bạn một câu chuyện về một giám mục và một linh mục như một lời dẫn nhập thích hợp cho bí tích liên quan đến việc cai quản Giáo Hội, đó là Bí tích Truyền Chức Thánh.

Một người cùng tù với vị giám mục đã kể cho tôi câu chuyện đầu tiên này. Vị giám mục ấy bị giam trong một nhà tù cộng sản Trung Quốc. Trải qua những cuộc bách hại và tra tấn, cân nặng của ngài giảm xuống chỉ còn khoảng bốn mươi ký. Thân thể đầy rận rệp và những vết lở loét vì tù ngục, đội một chiếc mũ len đen, mặc một chiếc áo kimono đen, ngài không còn có thể tự mình bước đi. Lúc nào cũng phải có hai người bạn tù Trung Quốc dìu đỡ.

Điều rất lạ lùng là người duy nhất trong nhà tù được cấp bánh và rượu là vị giám mục ấy. Không biết vì sao họ lại cho ngài bánh và rượu. Nếu họ biết ngài dùng bánh và rượu ấy để dâng Thánh Lễ, chắc chắn họ đã không bao giờ làm như vậy. Người tù sống cùng ngài đã nói với tôi rằng: không một Thánh Lễ nào được cử hành trong một thánh đường Gô-tích, dù với tất cả vẻ huy hoàng và long trọng của phụng vụ, có thể sánh được với vẻ đẹp của Thánh Lễ mà vị giám mục ấy cử hành khi dựa lưng vào bức tường nhà tù, trước mặt là một đĩa thiếc, đôi tay run rẩy cử động, đọc trên bánh: “Này là Mình Thầy”, và trên rượu: “Này là Máu Thầy.” Rồi sau đó, cách kín đáo, ngài phân phát Mình Thánh Chúa cho những người cùng chia sẻ đức tin với mình.

Ngài bị đưa vào cuộc hành quân tử thần, nơi sau này ngài đã bỏ mình. Một đại tá cộng sản, người chỉ huy cuộc hành trình ấy, đã tròng quanh cổ ngài một chiếc bao. Chiếc bao nặng khoảng mười lăm ký, được buộc sao cho khi đoàn người tiến bước, sợi dây sẽ dần siết chặt, chiếc bao trở nên nặng hơn, và cuối cùng vị giám mục sẽ bị nghẹt thở mà chết.

Khi cuộc hành trình bắt đầu, người bạn tù này kể với tôi rằng anh đã phá hàng ngũ, tiến đến trước mặt viên đại tá cộng sản và la lớn: “Đừng làm như thế! Hãy nhìn con người này đi!” Đó cũng như một khoảnh khắc [khi Phi-la-tô đưa Chúa Giêsu ra trước mặt dân chúng, chỉ về Chúa Giêsu và nói:] Ecce homo — “Này là Người”. Viên đại tá cộng sản nhìn anh ta như thể lần đầu tiên trong đời ông thực sự thấy đau khổ là gì, rồi quát lên: “Trở về hàng đi, đồ chó!”

Cuộc hành trình tử thần tiếp tục. Người bạn tôi nói rằng anh cố nhìn xuyên qua hàng ngũ những người tù đang di chuyển để xem có thể thoáng thấy vị giám mục, vẫn được hai người tù Trung Quốc dìu đỡ hay không. Sau khoảng một dặm đường, anh nhìn thấy ngài. Vị giám mục vẫn còn đứng vững — nhưng chiếc bao không còn trên lưng ngài nữa. Chiếc bao ấy đang ở trên lưng của viên đại tá cộng sản.

Tôi hỏi: “Chuyện gì đã xảy ra?”

Ông ấy nói: “Tôi nghĩ viên đại tá đã được đánh động bởi sự kiên nhẫn và thái độ cam chịu của vị giám mục thánh thiện ấy. Kết quả là chính viên đại tá cộng sản đó đã bị bắt và bị đưa vào tù.”

Trong một câu chuyện khác, những người cộng sản ra lệnh cho một linh mục cởi bỏ quần áo. Ngài cởi cho đến khi chỉ còn mang giày và vớ. Họ bắt đầu đánh ngài vào đầu và thân mình bằng gậy. Lúc ấy, ngài cúi xuống và bắt đầu cởi giày và vớ ra.

Họ nói: “Để nguyên đó! Tại sao ông lại muốn cởi ra?”

Ngài đáp: “Vì tôi muốn chết như Chúa của chúng tôi.”

Các giám mục và linh mục đến từ đâu? Họ đến từ một bí tích. Ta nhớ rằng có hai bí tích mang tính xã hội: bí tich Hôn Phối và bí tích Truyền Chức Thánh. Trong trật tự tự nhiên, người nam và người nữ sinh sản và duy trì nhân loại qua Bí tích Hôn Phối. Nhưng xã hội thì cần có chính quyền cai quản. Trong trật tự thần linh, siêu nhiên — nơi Nhiệm Thể Chúa Kitô — cũng phải có sự cai quản, và bí tích của việc cai quản Nhiệm Thể ấy chính là Bí tích Truyền Chức Thánh.

Trong chính quyền này, có các cấp bậc, trật tự và phẩm trật. Việc phân chia các chức thánh chủ yếu gồm ba bậc: phó tế, linh mục và giám mục. Đêm Tiệc Ly, cũng như suốt cuộc đời công khai của Người, Chúa Giêsu đã chọn những khí cụ là con người để làm trung gian giữa Người và thế gian. Như Kinh Thánh nói, “Vậy chớ gì thiên hạ coi chúng tôi như những đầy tớ của Đức Ki-tô, những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (1 Cr 4,1). Và trong thư gửi Híp-ri, ta đọc: “Quả vậy, thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội” (Hr 5,1).

Chúng tôi là những người phân phát các mầu nhiệm cao cả của Thiên Chúa. Tại sao Người không chọn các thiên thần? Bởi nơi thiên thần sẽ thiếu sự cảm thông, lòng trắc ẩn và sự cùng chịu đau khổ với Đấng đã từng đau khổ. Chẳng phải đó chính là nguyên lý của mầu nhiệm Nhập Thể sao? Chẳng phải Chúa chúng ta đã từ trời xuống, mang lấy bản tính nhân loại của chúng ta, trở nên như một người tôi tớ đó sao? Như Kinh Thánh nói: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội” (Hr 4,15).

Không ai có thể nói rằng Thiên Chúa không biết về thân phận làm người. Ngay cả điều duy nhất không có trong bản tính của Người — nét nữ tính — Người cũng đã bù đắp bằng cách mời gọi Đức Maria cùng chịu đau khổ dưới chân Thập Giá trong Cuộc Khổ Nạn của Người. Chúa chúng ta có thể chọn chúng ta, bởi vì Người đã chia sẻ với chúng ta chính thân phận con người ấy.

Như Hồng y Newman đã nói, Thiên Chúa đã chọn chúng ta là những thụ tạo yếu đuối “vì lợi ích của những người mà chúng ta phải phục vụ.” Người không sai các thiên thần, nhưng sai mà là những người anh em, những con người cùng xương cùng thịt với ta. Chính những người anh em ấy — con cháu của Ađam — được Người đặt lên để rao giảng cho ta: cùng chung bản tính nhân loại, chỉ khác nhau ở ân sủng và quyền năng; cùng phải đối diện với những cám dỗ, những trận chiến nội tâm và ngoại tâm, cùng đối diện với những kẻ thù nguy hiểm như nhau: thế gian, xác thịt và ma quỷ. Họ cũng mang những con tim con người dễ lạc hướng, chỉ khác ở chỗ đã được quyền năng Thiên Chúa biến đổi và hướng dẫn. Linh mục không phải là những thiên thần từ trời cao nói với anh em, nhưng là những con người mà ân sủng đã làm nên khác đi với anh em.

Thật là một nghịch lý lạ lùng. Trong công trình cứu độ Đức Kitô đã ban cho chúng ta, mọi sự đều hoàn hảo, thuộc về trời cao và đầy vinh quang — ngoại trừ chính con người của các linh mục. Người ngự trên bàn thờ của chúng ta, Đấng Chí Thánh, Đấng Tối Cao; các thiên thần phủ phục thờ lạy Người. Thế nhưng các linh mục — được thánh hiến, được tách riêng với dây thắt khiết tịnh và dải khăn của đau khổ — vẫn là con cháu Ađam, con cháu của những tội nhân mang bản tính sa ngã. Mỗi linh mục là một kiểu trung gian giữa Thiên Chúa và con người: mang Thiên Chúa đến cho con người và mang con người đến với Thiên Chúa, tiếp nối chức vụ tư tế của Chúa chúng ta.

Chúa chúng ta không phải là Tư tế vì Người là từ Chúa Cha từ muôn thuở; Người là Tư tế vì Người mang bản tính nhân loại — bản tính mà Người có thể hiến dâng cho phần rỗi chúng ta. Chúng tôi giống như chiếc thang của Giacóp: một đầu chạm tới trời cao, đầu kia đặt vững trên mặt đất. Mỗi linh mục là một “Đức Kitô khác”, vừa có mối tương quan thẳng đứng với Đức Kitô trên trời, vừa có mối tương quan ngang với con người trên trần gian.

Các giám mục là những người kế vị các Tông Đồ. Trong Thánh Kinh, ta thấy Chúa Giêsu đã trao cho các ngài nhiều quyền năng. Cũng như Người, các ngài là ánh sáng cho thế gian; cũng như Người, các ngài là mục tử của giáo dân; cũng như Người, các ngài là những cánh cửa qua đó đoàn chiên bước vào Thành Thánh. Một giám mục được thánh hiến không chỉ — hay không chủ yếu — cho một giáo phận; nhưng trước hết là cho toàn thế giới, bởi vì Chúa chúng ta đã nói với các Tông Đồ: “Hãy đi khắp thế gian” (Mc 16,15). Vì lý do quản trị mà một giám mục gắn với một giáo phận, nhưng trách nhiệm căn bản của ngài là đối với toàn thế giới.

Các miền truyền giáo của Giáo Hội không phải là những đứa trẻ bị bỏ rơi trước cửa một tòa giám mục. Toàn thể các dân tộc trên thế giới đều đè nặng trên trái tim của một giám mục. Bạn sẽ nghĩ gì về một người quá chăm chú đến trái tim mình đến nỗi buộc garô quanh tay chân? Nếu được hỏi lý do, người ấy có thể nói: “Máu đang chảy ra các chi thể, làm hao mòn sức lực của tôi. Tôi muốn giữ sức, nên tôi sẽ giữ toàn bộ máu lại trong tim.” Nhưng chẳng bao lâu, trái tim ấy sẽ không còn hoạt động được nữa. Cũng vậy, nếu một giám mục — ở Hoa Kỳ chẳng hạn — tự cắt mình khỏi các chi thể xa xôi của Nhiệm Thể Đức Kitô, như châu Phi, châu Á, hay châu Mỹ Latinh, thì chính giáo phận và chức giám mục của ngài cũng sẽ suy yếu. Hai bên tim không trực tiếp thông hiệp với nhau; chúng chỉ thông hiệp vì dòng máu đi từ bên này, chảy qua toàn thân, rồi trở về bên kia. Mỗi giám mục, mỗi giáo phận, mỗi giáo xứ đều vừa thông hiệp với chính mình, vừa thông hiệp với toàn thể Nhiệm Thể Đức Kitô.

Ơn gọi linh mục và Bí tích Truyền Chức Thánh đến từ đâu? Thánh Kinh cho biết: con người phải được Thiên Chúa kêu gọi, như Aharon đã được kêu gọi. Không ai tự ý nhận lấy chức vụ này. Thiên Chúa không luôn chọn những người giỏi giang nhất. Thánh Phaolô nói: “Không mầy người khôn ngoan, không mấy người quyền thế” (x. 1 Cr 1,26), bởi vì quyền năng thật sự không ở nơi chúng tôi, mà ở nơi Đức Kitô. Chính vì thế, Người chọn những khí cụ yếu đuối, những bình sành dễ vỡ, để mang kho tàng của Người.

Ơn gọi đến với chúng tôi, phần lớn, là một ơn gọi thầm lặng. Thiên Chúa không bao giờ từ trời xuống, lay giường chúng ta và nói: “Nào, dậy đi! Ta muốn con làm linh mục.” Trái lại, đó là một lời mời gọi liên lỉ. Tôi không thể nhớ nổi có lúc nào trong đời mình mà tôi không muốn trở thành linh mục. Lời cầu nguyện trong ngày Rước Lễ Lần Đầu của tôi chính là xin ơn được làm linh mục. Suốt thời gian học tập, tôi luôn cảm thấy mình bất xứng — và bây giờ tôi còn cảm thấy bất xứng hơn nữa. Thật vậy, bức tranh càng được đưa ra ánh sáng mặt trời thì những khiếm khuyết càng lộ rõ; chúng tôi càng nhìn mình dưới ánh sáng của vị Thượng Tế cao cả mà chúng tôi phải đại diện, thì chúng tôi càng thấy mình ô uế hơn. Những kho tàng Thiên Chúa đã trao vào tay chúng tôi, và số lãi ít ỏi chúng tôi sinh được từ đó, làm chúng tôi sợ hãi.

Mỗi người chúng ta đều giống như Simon Phêrô. Hãy nhớ rằng Simon là cái tên ông nhận từ gia đình; còn Phêrô là cái tên Chúa chúng ta ban cho ông. Nơi mỗi linh mục đều có hai chiều kích ấy. Có bản tính Simon mà chúng ta nhận từ cha mẹ: thân xác yếu đuối, trí tuệ giới hạn và ý chí mong manh —Thiên Chúa sử dụng chính những điều đó. Và rồi có bản tính Phêrô: tiếng gọi từ Thiên Chúa và việc Người ban các quyền năng thần linh — tha tội, thi hành chức linh mục, tái diễnhy tế của đồi Canvê. Trong khi cảm nhận những quyền năng lớn lao ấy, chúng tôi cũng đồng thời cảm nhận những yếu đuối sâu xa của mình. Chúng tôi chỉ mong rằng người ta sẽ không để bản tính Simon họ nhìn thấy nơi chúng tôi, che khuất quyền năng Phêrô.

Thật đáng suy nghĩ khi nhớ lại cách thánh Phêrô, vào cuối đời, đã biến đổi và trở nên khiêm nhường hơn. Trong bức thư thứ nhất, được viết vài năm trước khi qua đời, ngài mở đầu bằng cách xưng mình là Phêrô, Tông đồ của Đức Giêsu Kitô(1 Pr 1,1). Còn trong bức thư cuối cùng, được viết rất gần cái chết, ngài mở đầu: Simon Phêrô, tôi tớ và Tông đồ của Đức Giêsu Kitô (2 Pr 1,1). Ở cuối đời, ngài trở về với bản tính yếu đuối của Simon, và trong sự kết hợp giữa chức linh mục và chức giám mục — sự kết hợp giữa nhân loại và thần linh — ngài kết lại bằng việc gọi mình là tôi tớ. Chúng tôi là tôi tớ của Đức Giêsu Kitô.

Sự phục vụ của chúng tôi là một con đường gian nan. Nó đòi hỏi việc lao động trong cánh đồng của Chúa ban ngày và phục vụ lúc đếm. Không có chuyện cuối ngày chúng ta nói: “Thế là hôm nay tôi đã làm tròn bổn phận.” Trái lại, Chúa Giêsu nói rằng chúng ta phải tự xưng mình là những tôi tớ vô dụng (x. Lc 17,10). Càng ít tự mãn với chính mình bao nhiêu, thì lòng nhiệt thành phục vụ Người càng lớn bấy nhiêu. Nếu chúng tôi đếm số người trở lại đạo do mình, rất có thể chúng tôi sẽ nghĩ rằng chính mình đã làm nên điều đó, chứ không phải Chúa. Chúng tôi không thể nói: “Tôi đã xây ba nhà xứ, giờ giám mục phải phong tôi làm đức ông.” Người linh mục vẫn phải nhớ rằng mình chỉ là một tôi tớ vô dụng. Chúng tôi không thể mặc lấy luật lệ như của các công đoàn lao động và coi đó là đủ; chúng tôi thuộc về một “công đoàn” khác, nơi tình yêu là thước đo.

Khi nghĩ đến tất cả những gì Chúa đã làm cho chúng tôi, thật ra chúng tôi không bao giờ có thể làm đủ. Trong từ vựng của tình yêu, không có chữ “đủ”. Cũng như không ai có thể nói với một người mẹ đã thức trắng đêm bên giường đứa con đau bệnh rằng bà đã làm đủ rồi.

Chúng tôi biết mình được gọi là sứ giả của Đức Kitô, nhưng chúng tôi cũng là những nạn nhân của Đức Kitô. Chúng tôi biết rất rõ rằng Chúa Giêsu đã từ chối phân biệt giữa công việc trong giờ làm việc và việc làm thêm, giữa đang thi hành nhiệm vụ và sẵn sàng phục vụ, giữa việc đi một dặm hay thêm một dặm nữa, giữa việc cho áo ngoài hay cả áo trong. Không có chỗ cho sự tự mãn trước mặt Thiên Chúa: không tự thương hại, không tự tâng bốc khả năng quản trị của mình. Khi đã làm hết sức, chúng tôi vẫn chỉ là những tôi tớ vô dụng. Mọi công trạng và vinh quang của việc phục vụ đều thuộc về Chúa chúng ta. Phần chúng tôi chỉ là lòng biết ơn và sự khiêm nhường của những kẻ phản nghịch được tha thứ.

Tóm lại, chúng tôi là sứ giả của Đức Kitô, và là những kênh dẫn quyền năng của Người. Hành vi chính yếu và cao cả nhất của chúng tôi chính là Thánh Lễ.

Khi cử hành Thánh Lễ, chúng tôi đem Chúa Giêsu trên Thập Giá ra khỏi không gian ấy để đến với Paris, Cairo, Tokyo, và những miền truyền giáo nghèo nhất trên thế giới. Công việc của chúng tôi là mở rộng ơn tha thứ tội lỗi nhân loại của Đức Kitô và trao ban phép lành của Người bằng chính đôi tay nghèo nàn của chúng tôi. Khi tiến lên bàn thờ, chúng tôi khoác áo lễ. Gắn liền với tấm áo ấy là hàng triệu linh hồn trên thế giới chưa biết đến chính Đức Kitô. Khi cầm Mình Thánh trong tay, chúng tôi phải thấy những ngón tay mình được giải phóng khỏi cảnh nô lệ trong các mỏ muối Siberia. Chúng tôi phải thấy đôi chân mình như đôi chân rớm máu của những người tị nạn đang lê bước về phương Tây, hướng đến hàng rào kẽm gai, bên kia là tự do. Khi nhìn ngọn nến, chúng tôi nghĩ đến ánh lửa của những lò cao, nơi những con người gầy gò canh giữ, những người đã bị tàn phá cuộc đời bởi những kẻ chối bỏ công lý kinh tế.

Đôi mắt chúng tôi nhìn lên Mình Thánh, đẫm nước mắt của người góa phụ và nỗi đau của trẻ mồ côi. Dải dây các phép (stola) trên vai chúng tôi giống như dải dây của vị tư tế trong Cựu Ước, mang những viên đá của mười hai chi tộc. Nhưng nay, đó là những viên đá sống động: gánh nặng của mọi cộng đoàn của Giáo Hội và của toàn thể nhân loại. Chúng tôi kéo cả nhân loại lên bàn thờ, kết nối trời với đất. Chúng tôi hòa đôi tay mình vào đôi tay của Đức Kitô, vì Người vẫn hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta.

0 comments:

Post a Comment